Các quy định pháp luật về chủ thể tham gia giao dịch qua sở Giao dịch Hàng hóa Trong hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH,bêncạnh chủ thể trung tâm và trung gian trong mọi giao dịch là
Trang 1MỘT SÔ Ý KIẾN HOÀN THIỆN
• DOÃN HỒNG NHUNG - NGUYEN ANH THƯ
TÓM TẮT:
Hoạt động mua bán hàng hóa qua sởGiaodịchHàng hóa(SGDHH) đang trởthành một kênh
đầu tưmới, hấpdẫnđể thu hútnguồnvốn đầu tư nước ngoài Nghị địnhsố 51/2018/NĐ-CP ngày
09/4/2018của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Nghị địnhsố 158/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2016củaChính phủ quy địnhchi tiết Luật Thương mại vềhoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH (Nghị định SỐ51/2018/NĐ-CP)đã đạt đượcthành tựutrongviệc kết nối liên thông giữa SGDHHtại Việt Nam với cácsàngiao dịch trên thế giới,mở cánh cửa đầu tưcho nhàđầu tư trong
nưổc và quốc tế Tuynhiên,thực tiễntriển khai vẫn còn gặp nhiều vướng mắc Trong bài viết
này,tác giả tập trung phân tích thực trạngquy địnhphápluật hiện hành về các chủ thể tham gia giao dịch của SGDHH,từ đó chỉra một số vướng mắc trong quá trình thực thivà đề xuất hoàn thiện pháp luật
Từ khóa: chủ thể tham gia giao dịch, hoạt động mua bán hàng hóa, sở Giao dịch Hàng hóa,
Luật Thương mại, hợp đồng hàng hóa
1 Các quy định pháp luật về chủ thể tham gia
giao dịch qua sở Giao dịch Hàng hóa
Trong hoạt động mua bán hàng hóa qua
SGDHH,bêncạnh chủ thể trung tâm và trung gian
trong mọi giao dịch là SGDHH thì hoạt động này
còn có sự tham gia của khách hàng (hay những
người có nhu cầu mua, bán hàng hóa qua SGDHH);
thành viênSGDHH (thực hiện vaitrò môigiới cho
khách hàng hoặc hoạt động tự doanh hoặccả hai)
và mộtsố chủ thể trung gian khác(khikháchhàng
không đủ điều kiện đặt lệnh trực tiếp lên thành viên SGDHH) [6], Các quy phạm phápluật về chủ
thể tham gia giao dịch đều hướng tới việc mô tả
những nét đặc trưng nhất của từng loại chủ thể;
điều kiện trở thành chủ thể giao dịch; quyền và nghĩa vụ của chủ thể tham gia giao dịch; và điều kiện để chấm dứt tư cách chủ thể giaodịch Những
quy phạm này có ý nghĩa đặt nền móng để xây dựng mộtkhung pháp lý hoànchỉnh vềcác chủ thể thamgiagiao dịchqua SGDHH
68 SỐ 18-Tháng 7/2022
Trang 2Tại Việt Nam, Nghị định số 51/2018/NĐ-CP
đãđạt được một số thành tựunhất định trong việc
kết nô'i liên thông giữa SGDHH nội địa với các
SGDHH trên thế giới, mở cánh cửađầu tư cho nhà
đầu tư trong nước và quốc tế tham gia vào “sân
chơi chung” này.Tuy nhiên, một số quyđịnh trong
Nghị địnhsố 51/2018/NĐ-CPnói riêng và các văn
bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về hoạt động
mua bán hàng hoá qua SGDHH vẫn còn gặpmột
sô' vướng mắc Phần lớn những vướng mức đến từ
việcquy phạm về cácchủ thể tham gia giao dịch
qua SGDHH còn chưa thông nhất, mặc dù đâylà
nhóm quy phạm quantrọng trong pháp luật điều
chỉnh hoạt động mua bán hàng hóaqua SGDHH
Để đánh giá về các quy định pháp luật nàythực
thi trong thực tiễn kinh doanh thương mại, chúng
tôiđưara một số nhận định sauđây:
Thứ nhất, khái niệm về khách hàng chưa thật sự
đầy đủ.
Theoquy địnhtại Khoản 13 Điều 3 Nghịđịnh
số 158/2006/ND-CP ngày 28/12/2006 của Chính
phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt
động mua bán hàng hóa qua SGDHH (Nghị định
sô' 158/2006/NĐ-CP),“Khách hàng là tổ chức, cá
nhân không phải là thành viên của SGDHH,thực
hiện hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH
thông qua việc ủy thác cho thành viên kinhdoanh
của SGDHH” Như vậy, khách hàng khi có nhu
cầu mua,bán hàng hóa quaSGDHH chỉ tham gia
vàomột quan hệ, đólà quanhệ ủy thácmua bán
hàng hóa
Tuy nhiên, theo Khoản 2 Điều 3 Nghịđịnh sô'
158/2006/NĐ-CP, thành viên kinh doanh của
SGDHH có quyềnhoạt động tự doanh, mua bán
hàng hóa quaSGDHHcho chính mình, nhằmmục
đích lợinhuận Khi đó, họ có tư cáchcủa người có
nhu cầu mua, bán hàng hóa qua SGDHH hay
khách hàng Do vậy, việc Nghị định sô'
158/2006/NĐ-CP quy định: “Khách hàng là tổ
chức, cá nhân không phải là thành viên của
SGDHH ” chưathật sự hợp lý, chưabao quát hết
các trường hợp tham gia của các chủ thể và chỉ
phù hợp khi những người mua, người bán hàng
hóa không phải là thành viên kinh doanh của
SGDHH [4,tr 62].Vìvậy, quyđịnhnày cần được
xem xét, chỉnhsửa để đảm bảo tính thông nhấtvà
phù hợp với thực tiễn hơn
Thứ hai, quyền giao dịch của khách hàng qua SGDHH còn bị hạn chế.
Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định số 158/2006/NĐ-CP không quy địnhcụ thể về quyền
và nghĩa vụ của khách hàng, nhưng quy định việc
khách hàngmuốn mua bánhàng hóa qua SGDHH phải ủy thác cho thành viên kinh doanh của
SGDHH để thực hiện Nhưvậy,kháchhànglà chủ
thể của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa qua SGDHH, có cácquyền và nghĩa vụ củabên ủy thác mua bánhànghóa theo quy địnhcủa pháp luật Tuy
nhiên, một sô' quy định của Nghị định sô' 158/2006/NĐ-CP về ủy thác giao dịch khônghoàn toàn thống nhất Cụ thể, Khoản 1 Điều 45 Nghị định sô' 158/2006/NĐ-CP quy định: “Tổ chức, cá nhân không phải là thành viên kinh doanh của SGDHH có thểủy tháccho thành viên kinhdoanh thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa qua
SGDHH” Trong khiđó, theo tinh thần của Khoản
13 Điều 3 và Khoản 19 Điều 1 Nghị định sô'
51/2018/NĐ-CP,kháchhàng bắtbuộc phảiủy thác chothành viên kinh doanh của SGDHH nếu muốn mua bán hàng hóa qua SGDHH Do vậy, trong tương lai, cần sửa đổi các quy định pháp luật để việcáp dụng luật đượcthống nhất và có hiệu quả
trong thực tiễn
Hơn nữa, việc pháp luật hiện hành quy định:
khách hàng “phải ủy thác cho thương nhân kinh doanh của SGDHHđể thựchiệngiao dịch”đãtước
bỏ quyền rất cơbản củakháchhàng khi muốn tham gia trực tiếp vào giao dịch với tư cáchlàngườimua,
người bán hàng hóa qua SGDHH Điều này cũng dẫn đến những điểm bất hợp lý khi xét đến tưcách
chủ thể quan hệ mua bán hàng hóa qua SGDHH
củathànhviên kinh doanh SGDHH
Thứ ba, cũng từ sự chưa thống nhất về nội dung của các quy phạm đã nêu ở trên, tư cách của thành viên kinh doanh của SGDHH khi thực hiện các hoạt động tự doanh và nhận ủy thác mua bán hàng hóa qua SGDHH cho khách hàng chưa được phân định rõ.
Theo quy định của Luật Thương mại năm2005
và Nghị định sô'158/2006/NĐ-CP,trong hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH, thành viên kinh doanh giữvai trò quan trọng nhất bởi họ là người tạo lập thị trường và trực tiếp thực hiện các nghiệp
vụmua bán
Trang 3Khoản 1 Điều 22 Nghị địnhsố158/2006/NĐ-CP
quy định: “Thành viên kinh doanh có quyền thực
hiệncáchoạt độngtự doanhhoặcnhận ủy thác mua
bán hàng hóa qua SGDHH cho khách hàng” Do
vậy, chủ thể hợp đồng mua bán hàng hóa qua
SGDHHcóthểlà:
Một là,thành viên kinhdoanh(khi đặt lệnh mua
theo ủy thác) và một thành viên kinh doanh khác
(khi đặt lệnh bántheo ủy thác) Trong trường hợp
này, hợp đồng được giao kết giữathành viên kinh
doanh và thành viên kinh doanh theoủy thác của
kháchhàng Theođó, thành viên kinh doanh có tư
cách người mua, người bánhàng hóaqua SGDHH;
cócácquyềnvà nghĩa vụ của người mua, ngườibán
hàng hóa, như: nhận hàng, giao hàng, thanh toán
qua Trung tâm giao nhận hàng hóa của SGDHH,
haythanhtoán bù trừ quaTrung tâm thanhtoán bù
trừ của SGDHH Như vậy, thành viên kinh doanh
có các quyền và nghĩa vụ của hai chủ thể: vừa có
quyền và nghĩa vụ của chủ thể ủy thác mua bán
hàng hóa theo ủy thác giao dịch của khách hàng;
vừa có quyền và nghĩa vụ của người mua, người
bán hàng hóa theohợp đồng muabán hàng hóa qua
SGDHH [3,tr.lOO]
Hai là, chính là thành viên kinh doanh khi hai
lệnh mua, bán đối ứng được chuyển lên SGDHH
theo ủy thác của hai khách hàng; hoặc một lệnh
được đặt theo ủy thác của khách hàng, một lệnh đôi
ứng thành viênkinh doanh đặt cho chínhmình
Một thành viên kinh doanh đồng thời là người
bán,đồng thời là người mua với hai lệnh bán, lệnh
mua hàng hóa tương lai đối ứng được khách hàng
ủythác giaodịch; hoặc một lệnh nhậnủy thác của
khách hàng, một lệnh đốì ứng thành viên kinh
doanh tự đặt cho mình Theo Điều 161 Luật
Thương mại năm 2005,“Bên nhận ủy thác có thể
nhận ủy thác của nhiều bên ủy thác khác nhau”
Điềunày có nghĩa là họ hoàn toàn có thể nhận ủy
thác của nhiều khách háng để giao dịch trên
SGDHH Nếu trường hợp này xảy ra, thành viên
kinh doanh sẽ ký hợp đồng với chính mình, hoặc
vớichủ thể thứba mà mình cũng là ngườiđạidiện
Đây là đặc trưng của giao dịchqua trung gian, khi
những người có nhu cầu mua, bán hàng hóa qua
SGDHH cùng ủy thác cho mộtchủ thể trunggian
thực hiệngiaodịch Tuy nhiên,quyđịnhnày có thể
dẫnđếnviệc lạmdụng vị thế của thành viên kinh
doanh, gây thiệt hại cho lợi ích của khách hàng, cũng như góp phần làm lũng đoạn nền kinh tế Vì
vậy, trong tương lai, các nhà làmluật cần nghiên
cứu, sửađổi cácquy định về quyền hạncủathành
viên kinh doanh của SGDHH, xác định rõ tư cách
chủ thể hợp đồngmua bán hàng hóa qua SGD để đảmbảosựhợp lý trong các quy địnhcủa hệ thống
pháp luật nướcta [3, tr 101 ]
Thứ tư, quy định về thành viên môi giới còn tương đối mờ nhạt.
Khi đề cập tới “trung gian môi giới” trong thị trường mua bán hàng hóaqua SGDHH, trong cuốn
sách “Thị trường hàng hóa giao sau” của Viện
Nghiên cứuThương mại - Bộ CôngThương có nội
dung như sau: “Tấtcả các nhà giao dịch cómặt ở
SGDHHkỳ hạn đều hoặc là trung gian ăn hoa hồng
hoặclà người buôn bán tự do Trunggianhoa hồng đơn giản là người thực hiện cácgiao dịch chongười
khác Trunggian hoa hồng có thể là mộtnhà buôn bán độc lập thực hiệncácgiaodịchchocánhân, tổ chứchoặc là đại diệngiao dịch cho một hãngtrung
gian lớn Trong ngành buôn bán kỳ hạn các hãng trung giannày được gọilà Hãng buônHoa hồng kỳ hạn (FCM) ” [2], Như vậy, thành viên môigiới là nhữngchủ thểquan trọng trong thị trường mua bán
hàng hóa qua SGDHH, bởi là người kết nối các giaodịch kỳ hạn, giao dịch quyền chọn giữa người
bán và người mua; còn thành viên kinh doanh
khôngđượcthựchiệncáchoạtđộng làm trung gian mua bán chokháchhàng
Luật Thương mạinăm 2005 quy định: Thương nhân môi giới mua bánhàng hoáqua SGDHH chỉ được phép thực hiện các hoạt động môi giới mua bán hàng hoá qua SGDHHvà không được phép là một bên của hợp đồng mua bán hàng hoá qua SGDHH" (Khoản 2 Điều 69) Nghị định số
51/2018/NĐ-CP cũng nhắc lạitinh thần này khi quy định:“Thànhviên môi giớichỉđượcthựchiệnhoạt
động môi giới hàng hóa qua SGDHH” (Khoản 19
Điều 1) Hoạt động môi giới hàng hóa qua SGDHH được định nghĩa là “việc thành viên của SGDHH làm trung gian thực hiện việc mua bán hợp đồng hàng hóa cho kháchhàngtrênSGDHH”(Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 51/2018/NĐ-CP) Từ định nghĩa này,thành viênmôigiới có thểthực hiệnhai công việc:(1) Môigiới cho ngườibán và người mua
để thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa qua
70 SỐ 18-Tháng 7/2022
Trang 4SGDHH; (2) Môi giới cho khách hàng với thành
viên kinh doanh của SGDHH để thực hiện hoạt
động ủy thácmua bán hàng hóa qua SGDHH
Tuy nhiên, Nghị định số 51/2018/NĐ-CP cũng
bổ sung thêm một quyền mới của thành viên kinh
doanh là thực hiện hoạt động môi giới hàng hóa
Chính việc không phânđịnh rõ hoạt động môigiới
giữa thành viên kinh doanh và thành viên môi giới
đãkhiến vai trò của thành viên môi giới trong hoạt
động muabán hàng hòa quaSGDHHtương đôi mờ
nhạt Hơn nữa, việc Nghị định số 158/2006/NĐ-CP
quy định: “Quyền và nghĩa vụ củathành viênmôi
giới thực hiện theo Luật Thương mại và Điều lệ
hoạt động củaSGDHH” (Điều 20) là chưa thực sự
chỉ rõ được những quyền và nghĩa vụ riêng của
thành viên môi giớiSGDHHphù hợp với tínhchất
hoạt động môi giới mua bán hàng hóa qua
SGDHH Do vậy, quy định về quyền và nghĩavụ
của thành viên môi giớicủa SGDHHcầnđược sửa
đổi để phù hợp và phát huy hiệu quả điều chỉnh
trong thực tiễn
Thứ năm, quy định về nhà đầu tư nước ngoài
được tham gia giao dịch tại SGDHH ở Việt Nam
chưa đảm bảo thu hút được nguồn lực mới.
Khoản 16 Điều 1 Nghị định số 51/2018/NĐ-CP
đã bổ sung thêm Điều 16 a tại Nghị định số
158/2006/NĐ-CPghi nhận Nhà đầu tư nước ngoài
có quyềngópvốn thành lập SGDHH tại Việt Nam;
mua cổ phần, phần vốn góp của SGDHH tại Việt
Nam theo các cách thức dưới đây:
Một là, nhà đầu tư nước ngoài được phép góp
vốn thành lập SGDHH tại Việt Nam; mua cổ
phần, phần vốn góp của SGDHH tại Việt Nam với
tỷ lệ không quá 49% vốn điều lệ Thủ tục góp
vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư
nước ngoài thực hiện theo quy định của Luật
Doanh nghiệp,Luật Đầu tư và các quy định pháp
luật khác có liên quan,
Hai là, nhà đầu tư nướcngoài được phép tham
gia hoạt động mua bánhàng hóa qua SGDHH với
tư cách khách hàng hoặc tham gia làm thành viên
của SGDHH (thành viênmôi giới, thành viên kinh
doanh) với tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ không hạn chế
Việc bổ sung nội dung này được đặt ra nhằm
đảm bảo được việc thu hút nguồn lực tài chính,kinh
nghiệm nước ngoài cho sự phát triển của các
SGDHHtại ViệtNam vốn còn phát triển hạnchế
trong thời gian qua Đặc biệt, việc cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia góp vốn thành lập SGDHH được coilà giải pháptích cực vì sẽthu hút được nguồn lực mới Tuy nhiên, theo quan điểm
của tác giả, tỉ lệ tối đa vốn góp ở mức49% chưa thực sự hấpdẫn, vì mứcvốngóp này chưa cóquyền quyết định Nếu muốn thu hút tốthơn các nhà đầu
tư nướcngoài, thì mứcvốngóptối đa cần được nâng
lên ở mức cổ đông nước ngoài được quyền quyết
định, nhưng vẫn bảo đảm quyền tham gia vàra các quyếtđịnh quan trọng của cổ đôngViệt Nam
2 Hoàn thiện các quy định pháp luật về các chủ thể tham gia giao dịch qua sở Giao dịch Hàng hóa
Từ những đánhgiá của thựctrạng các quyđịnh pháp luật về chủ thể tham gia giao dịch qua SGDHH đã phân tích ởtrên,tác giả kiến nghị một
số giảiphápđể hoàn thiện các quy địnhpháp luật hiện hành về các chủ thể tham gia giao dịch qua SGDHHnhư sau:
Thứ nhất, mở rộng đối tượng cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước được giao dịch trực tiếp để mua bán hàng hóa qua SGDHH.
Khoản 13 Điều 3 của Nghị định số 158/2006/NĐ-CP quy định: “Khách hàng là tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của SGDHH, thực hiện hoạt động mua bán hàng hoá
qua SGDHH thông qua việc ủy thácchothành viên kinh doanh của SGDHH” Bên cạnhđó, Khoản 1
Điều 17 Nghị định này quy định thành viên của SGDHH bao gồm: a) Thành viên kinh doanh; b)
Thành viênmôi giới
Như vậy, chỉdoanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện
trở thànhthành viênkinh doanh mới có thể trực tiếp
thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH Các tổ chức, cá nhân khôngphảilàthành
viên kinh doanhkhi muốn tham giagiao dịchhàng hóa bắt buộc phải ký hợp đồng ủy thác giao dịch với thành viên kinhdoanh Thành viên kinh doanh
chịu trách nhiệm đặt lệnh giaodịch(dokháchhàng
ủy thác)vào hệ thống giao dịchcủa SGDHH.Việc
ủy thác giao dịch khiến cho người nông dân, nhà
sản xuất khôngphảilà thành viên của SGDHH chỉ
được phép “gián tiếp” mà không được “trực tiếp”
thựchiện giao dịch
Thực tiễn của các SGDHH trên thế giới cũng
cho thấy hiện nay, có rất nhiều nhà sản xuất, nhà
Trang 5bán buôn, bán lẻ, hoặc doanh nghiệp hoạt động
trongcáclĩnh vực chế biến, trồng trọt, chăn nuôi có
nhucầumuabán hàng hóa qua SGDHH [5],Đây là
đối tượngdễ bị ảnhhưởngbởi những biến động về
giá của thị trường hàng hóa,tỷ giá và lãi suất Vì
vậy, việcsử dụng côngcụ bảo hiểmgiá (là các hợp
đồngkỳ hạn trên thịtrường hàng hóa) có thểđược
xem là một trong những lựachọn phùhợp để giảm
thiểu tác độngcủacácdiễnbiến thị trường,quản lý
và hạn chế rủi ro [1, tr.69]
Tuy nhiên, quy định tại Khoản 13 Điều 3 của
Nghị định số 158/2006/NĐ-CP và cơchếủy thác
giao dịch đang hạn chế việcchủ động giao dịch trực
tiếp hợp đồng kỳ hạn của các cá nhân, tổ chức
không phải là thành viêncủa SGDHH Khi các chủ
thể trên đặt lệnh thông quaủythác, các thao tác do
con người thựchiện phát sinh độ trễ nhấtđịnh Độ
trễ này xảy ra khi nhà đầu tư đặt lệnh qua thành
viên kinh doanh bằng điện thoại, email, tin nhắn
điện tử Nhân viên củathànhviên kinh doanhtiếp
nhận lệnh, thao tác ghi nhận lệnh vào hệthống Do
độ trễ trong thời gian đặt lệnh, nhà đầu tư thường
không chốt được mức giá như ý muốn, trong khi thị
trườnghàng hóabiếnđộng không ngừng Nếu nhà
đầu tưchủ động đặt lệnh, lệnh giao dịch được ghi
nhận trực tiếp vào hệ thông của SGDHH, không
phụ thuộc vàobênthứ ba đểđặt lệnh nhưhiệnnay
thì độ trễ chắc chắn ngắn hơnthao tác đặtlệnhqua
thành viên kinh doanh,giảm thiểu được rủiro, tăng
hiệu quả kinh doanh
Bên cạnh đó, hợpđồngkỳ hạn mua bán hàng
hóa qua SGDHH tại Việt Namhiện là một công
cụ hiệu quả để bảo vệ người nông dân, nhà sản
xuất, doanh nghiệp chế biến, trước các chuyển
biến bất lợi của thị trườnghàng thực, phù hợp với
thị trường của Việt Nam hiện nay Đồng thời,
công cụ này cho phép cáccá nhân, tổchức này tự
thiết lập một mức giá có lợi trước khi bán hàng
hóacủamình ra thịtrường
Do đó, cần có cơchê cho phéptổ chức, cá nhân
trong nước và ngoài nước không phải là thành
viên kinh doanh của SGDHH giao dịch trực tiếp
để tạo thế chủ động cho các chủ thể này, đồng
thời tăng cường quản lý nhà nước nhằm kéo giá
Việt Nam tiệm cận với mặt bằng giá thế giới,
tránh tình trạng “được mùa mất giá ”,
Vì vậy,tác giả kiến nghị cần xemxét sửa đổi
khoản 13 Điều 3 của Nghị định số
158/2006/NĐ-CP theo hướng mở rộng hơn về đối tượng, cho
phép các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoàikhôngphải là thành viêncủa SGDHH, được
thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa qua
SGDHH thông qua các hình thức: đặt lệnh trực tiếp hoặc ủy thác cho thành viên kinhdoanh của SGDHH thực hiện giao dịch
Thứ hai, sửa đổi quy định về tư cách tham gia quan hệ mua bán hàng hóa qua SGDHH của thành viên kinh doanh.
Quy định hiện hành chophép thành viên kinh
doanh vừa có tư cách chủ thể hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá qua SGDHH với khách hàng; vừa có tư cách chủthể hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọntrong quan hệ muabán hàng hoá qua SGDHH Tuy nhiên, quy định này có thể dẫn đến trường hợp thành viên kinh doanh đóng vai trò là
cả haibên trong một hợp đồng, tức làvừalà người mua, vừa là người bán trong cùng một quan hệ
mua bánhàng hoá qua SGDHH, cókhả năng dẫn
tới việc thành viên kinh doanh lạm dụng vị thế
củamìnhgâythiệt hại cho khách hàng
Vì vậy, khi sửa đổi,bổ sung các quy định của Luật Thương mạinăm 2005 và các văn bản hướng
dẫn thi hành, các nhà làm luậtnênxem xét, cân nhắc vềviệc hoàn thiện quy định này theo hướng:
(1)Khi hoạtđộng tự doanh, thành viên kinh doanh
là chủ thể của hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền
chọndo họ xáclập qua SGDHH; (2) Khi thực hiện dịch vụ cho khách hàng,họ là người môi giới hoặc
là đại diệncủakháchhàngtiếnhành giao dịchmà
không nêncùng lúc là ngườinhận uỷ thác Đồng thời, thành viên kinh doanh chỉ là chủ thể thực
hiện dịch vụ nhận lệnh của kháchhàng, chuyển
lệnh lên SGDHH để khớp lệnh nhằm hưởng thù
lao dịchvụ, không là chủ thể thực hiện hoạt động
mua bán hàng hoá qua SGDHH Địnhhướng như
vậy vừa góp phần tránh sự mâu thuẫn trong các quy định của pháp luật, vừa tránh việc lạm dụng
vịthế của mình thành viênkinh doanh, đồngthời
trả lại đúng vị trí của khách hàng với tư cách là
ngườicónhucầu mua, bánhàng hoáquaSGDHH
Thứ ba, xem xét để hủy bỏ các quy định về thành viên môi giới.
Qua tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia
pháttriển trên thế giới như Mỹ và NhậtBản cho
72 SỐ 18-Tháng 7/2022
Trang 6thây, thành viên SGDHH thường chỉ gồm 2 loại:
(1) Thành viên chỉ có quyền hoạt độngtự doanh;
và(2) Thành viên vừa có quyền nhận ủy thác của
khách hàng, vừa có quyền tự doanh; không quy
định về thành viên chỉ thực hiện vai trò môi giới
[3, tr 167],
Hơn nữa, với việc quy định hiện hành, có thể
thây thành viên kinh doanh đang có xu hướng
đảm nhận luôn vai trò của thành viên môigiới.Vì
vậy, trong tương lai, khisửa đổi, bổ sung các quy
định của Luật Thương mại năm 2005 và các văn
bản hướng dẫn thi hành về hoạt động mua bán
hàng hóaqua SGDHH, cácnhà lập pháp nên xem
xét, cân nhắc về việc hủy bỏ quy định về thành
viên môi giới, mà chỉcần giữ lại thành viên kinh
doanh
Thứ tư, quy định cụ thể hơn về hoạt động của
nhà đầu tư nước ngoài mua bán hàng hóa qua
SGDHH.
Nghị định sô' 51/2018/NĐ-CPđã bổ sung Điều
lóa cho phépcác nhà đầutưnướcngoài được giao
dịch tại SGDHH ở Việt Nam Tuy nhiên, hiện
chưa có bất kỳ nhà đầutưnước ngoài nào mở tài
khoản và giao dịch trên SGDHH ở Việt Nam,
trongkhi nhucầugiaodịch tươngđối lớn,đặc biệt
đối với các mặt hàng mà Việt Nam sản xuất và
xuất khẩu nhiều, như: cà phê, cao su, hồ tiêu,
điều, gạo Nguyên nhân là do các quy địnhpháp luật trong nước có liên quan về hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH của nhà đầu tư nước ngoài chưarõràng
3 Kết luận
Để đảm bảo sự côngbằng giữa cácnhà đầutư trong và ngoài nước, giải quyết nhu cầu giao dịch hàng hóa tại SGDHH ở ViệtNam của nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời tăng cường quản lý nhà
nước, phù hợp với các quy định của pháp luật về
quản lý ngoạihô'i và tuân thủ tinh thầnNghịquyết sô' 58/NQ-CP năm 2020 của Chính phủ về định
hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao
chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030, chúngtôi cho rằng cần thiết phải xây dựng các quy định chi tiết về hoạtđộng giao
dịch củanhà đầu tư nướcngoàimua bán hàng hóa
qua SGDHH Hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHHđangtrở thành một kênh đầu tư mới,hấp dẫn để thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài.[7] Quy định cụ thể hơn về việc nhà đầu tư nước
ngoài muabán hàng hóaquacác SGDHH tạiViệt Nam sẽ giúp tạo thuận lợi cho Việt Namtiếp cận
thị trường quốc tế, gia tăng kim ngạch xuấtkhẩu hàng hóa, từng bước tham gia vàomạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu,góp phầncân bằng
cáncân thương mại ■
TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DAN:
1 Phạm Văn Tuyết (2006) Hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở Giao dịch Hàng hóa (Hợp đồng giao sau nhìn từ góc độ của Luật Dân sự) Tạp chí Luật học, số 5/2006, tr 67-70.
2 Viện Nghiên cứu Thương mại - Bộ Công Thương (2000) Thị trường hàng hóa giao sau NXB Lao động, Hà Nội.
3 Nguyễn Thị Yến (2011) Pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
4 Nguyễn Thị Yến (2009) Các chủ thể tham gia giao dịch trên Sở Giao dịch Hàng hóa Tạp chí Luật học, sô' 7/2009, tr.61-66.
5 M p (2021) Kiến nghị cho phép cá nhân, tổ chức tham gia sở Giao dịch Hàng hóa Truy cập tại:
.
https://dangcongsan.vn/kinh-te/kien-nghi-cho-phep-ca-nhan-to-chuc-tham-gia-so-giao-dich-hang-hoa-
588672.html
6 UNCTAD (2009) Development Impacts of Commodity Exchanges in Emerging Markets United Nations Conference on Trade and Development, New York and Geneva.
Trang 77 Doãn Hồng Nhung biên soạn (2021) Chương 6: Khái quát về các Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới của Việt Nam Chủ biên: Nguyễn Ngọc Hà (Sách chuyên khảo) Trường Đại học Ngoại thương Trong sách “Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới" NXB Đại học Quốc gia Hà Nội ISBN: 978-604-324-066-5 Hà Nội, trang 237-265.
Ngày nhận bài: 8/5/2022
Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 6/6/2022
Ngày chấp nhận đăng bài: 16/6/2022
Thông tin tác giả:
1 PGS TS DOÃN HỒNG NHUNG 1
2 ThS LS NGUYỄN ANH THƯ2
1 Khoa Luật - Đại học Quổc gia Hà Nội (VNU)
2 Công ty Luật TNHH SMiC (Đoàn Luật sư Thành phô Hà Nội)
SOME RECOMMENDATIONS TO IMPROVE REGULATIONS GOVERNING PARTIES PARTICIPATING
IN THE TRANSACTIONS THROUGH THE MERCANTILE
EXCHANGE OF VIETNAM UNDER VIETNAM’S LAW
• Assoc.Prof.Dr DOAN HONG NHUNG 1
• MSc Lawyer NGUYEN ANH THU2
’School of Law, Vietnam National University - Hanoi
2SMiC Law Firm, Hanoi Bar Association
ABSTRACT:
The purchase and sal© of goods through commodity exchanges are becoming a new
and attractive investment channel in Vietnam to attract foreign investment Decree
No 51/2018/ND-CP dated April9, 2018 of the Government, which amends and supplements
the Government’s Decree NO.158/2006/ND-CP dated December 28, 2016 elaborating the
commercial law with respect to trading in commodities through commodity exchanges has achieved achievements It has facilitated theMercantile Exchange of Vietnamto connect with other commodity exchanges in the world, bringing investment opportunities to domestic and international investors However,the enforcement of thisdecree has faced many difficulties This paper analyzes the current regulations which govern parties participating in the transactions through theMercantile Exchangeof Vietnam,points out shortcomings, and make some recommendations to furtherimprovethelegal system
Keywords: parties participating in transactions, goods trading activities, commodity exchange, Commercial Law,commodity contract
74 So 18 - Tháng 7/2022