1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kinh nghiệm quốc tế trong phát triển hoạt động định giá công nghệ, tài sản trí tuệ gợi suy cho việt nam

6 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh nghiệm quốc tế trong phát triển hoạt động định giá công nghệ, tài sản trí tuệ gợi suy cho Việt Nam
Tác giả Đỏ Sơn Tùng, Trịnh Minh Tâm, Ngô Thị Loan, Lưu Thị Thanh Hảo, Vũ Thị Bích Ngọc, Lê Thị Kim Chi, Trần Ngọc Ban, Lê Hoàng Hà
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Kỹ Thuật Công Nghệ - ĐHQG Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế - Quản trị
Thể loại Bài báo
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 694,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh nghiệm của úc Đốivới Úc, mô hìnhđịnhgiácủatổchức dịch vụ sở hữu trí tuệ toàncầu sẽ được hoạt động như sau: khi nhận được yêucầucủa khách hàng về việc việc rà soátmột cách có hệ thốn

Trang 1

KINH NGHIỆM QUÔC TÊ

• Đỏ SƠN TÙNG - TRỊNH MINH TÂM NGÔ THỊ LOAN - Lưu THỊ THANH HẢO

- VŨ THỊ BÍCH NGỌC - LÊ THỊ KIM CHI - TRẦN ngọc ban LÊ HOÀNG HÀ

TÓM TẤT:

Cho đếnnaytrên thế giới chưa cómột quốc giahoặctổ chức quốc tế nào ban hành tiêu chuẩn riêng về địnhgiá công nghệ, tài sảntrítuệ.Việcđịnhgiá công nghệ, tài sảntrí tuệ chủ yếu được thực hiện dựatrên nguyêntắc chung cho địnhgiá tài sản vô hình Dựa trên3phươngpháp tiếp cận (tiếp cận vềthị trường, tiếp cận về chi phí,tiếp cận theo dòng tiền), cáctổ chức thực hiện dịch vụđịnhgiá côngnghệ xây dựng mô hìnhđịnhgiá cho tổ chức mình.Thông qua kinh nghiệm

củacác nước, bài viết gợi ý một số bài học gópphầnphát triển hoạt động địnhgiá công nghệ,tài sảntrí tuệ tại Việt Nam

Từ khóa:địnhgiá, công nghệ, tài sản trí tuệ,địnhgiá công nghệ,bài học, kinhtế

1 Kinh nghiệm quốc tế trong phát triển hoạt

động định giá công nghệ, tài bản trí tuệ

ỉ ỉ Kinh nghiệm của Hoa Kỳ

Với mục tiêuđặtra là duy trì vànâng cao chất

lượng hoạt động định giá doanh nghiệp, phục vụ

lợiíchcủa định giá viên doanh nghiệp và người sử

dụng kết quả định giá, hệ thông các tiêu chuẩn

định giá tài sản vô hình đã được hình thành Hệ

thống cáctiêu chuẩn này thuộc tậphợp các Tiêu

chuẩn định giá doanh nghiệp(Business Valuation

Standards - BVS) do Hiệp hội Định giá viên Hoa

Kỳ (American Society of Appraisers - ASA) phê

chuẩn từtháng 7/2008 thông qua úyban Định giá

doanh nghiệp trên cơ sở áp dụngcácTiêu chuẩn

thông nhất về hành nghề định giá do QuỹTài trợ

định giá (Appraisal Foundation) xây dựng Các

hoạt độngđịnh giá công nghệ nói chung và định giá tài sản trí tuệ nói riêng ở Hoa Kỳ được dựa trên hệ thông các tiêu chuẩn định giá tài sản vô

hình đó

Trong một sốvăn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính Hoa Kỳ đã nêu ra một số cách tiếp cận và

phươngpháp định giá khác nhau Tùy vào mục đích định giá, các định giá viên phải xem xét áp dụng

cáchtiếp cận vàphươngphápđịnhgiá thích hợp khi

tiếnhànhđịnhgiá tài sản vô hình

Cáchtiếp cậnthunhập (Income Approach): Các

yếu tốvề lợi ích kinh tế dotài sảnvô hình tạo ra

một cách thích hợp và cácrủi ro liên quan tớicác lợi ích đó, lợi ích kinh tế do việckhấu hao tài sản

nhằmmục đích trả thuế thunhập,xem xétsựkhác nhau giữatuổiđời kinh tếcủa tài sản vô hình với

Trang 2

KINH TÊ

tuổiđờipháp lý(thời gian tồn tại theo luật định) của

tài sản đó hay không là những khía cạnh cầnđược

tiến hành xem xét và đánhgiá

Cách tiếp cận thị trường (Market Approach):

Khi tiến hành thực hiện phương pháp này, nhất

thiết phải cân nhắc đến những khác biệtcó liên

quan giữa chủ thể định giá và hướng phát triển

tài sản cũng như là các điều kiện tương ứng về

thị trường

Cách tiếp cận chi phí (Cost Approach): Chi phí

được đề cập trong phươngpháp này là những chi

phí giántiếp và trực tiếp gắnkết với việc tái sản

xuất và tái cơcấubởi vì tài sản có thể bịgiảm vòng

đời cũng nhưlàm mất đi lợi nhuận do lạchậu về

kinh tế hoặc về chứcnăng

1.2 Kinh nghiệm của úc

Đốivới Úc, mô hìnhđịnhgiácủatổchức dịch vụ

sở hữu trí tuệ toàncầu sẽ được hoạt động như sau:

khi nhận được yêucầucủa khách hàng về việc việc

rà soátmột cách có hệ thốngdanh mục tài sản vô

hình, tổ chứcdịchvụ này sẽsửdụngcáctiêuchuẩn

cũng nhưmô hình định giá tốt nhất, phù hợp với

mục đích, yêu cầu thực tê để đánh giá, ưutiên và

lựa chọn ra nhóm rộng nhất có thể của tài sản vô

hình hợp pháp và cạnh tranh cấu thành danh mục

tàisản vôhìnhcủa đơn vịkhoahọc công nghệ Từ

việc xác định các tài sản ưuthế, tổ chức cung cấp

dịch vụ sở hữu trí tuệtoàn cầuúcsẽtính toán giá trị

lợi nhuận kinh tế tương lai mà khách hàng mong

muốn và thu hồi vốntừviệc đầutưvàonghiên cứu

phát triển

Để việc rà soát kế hoạch kinh doanh nội bộ

trong tương lai vàngân sách tiềm năng từbênngoài

cho các đơn vị khoa học công nghệ được diễn ra

thuận lợi, biểu quản lý giá trị tài sản vô hìnhđược

đưa ra.Nhữngbiểu quảnlý giá trị này sẽ không bị

giới hạn trong việcthu hồi nợ,ví dụ giátrịtiền mặt

của dòng tiền bản quyền đốivớicác tài sản vô hình,

mà còn mở rộng choviệc thu hồi công nợ liênquan

đến lợi nhuận thu được từ môi trường, quy định,

hiệu suất và cả xã hội mà tài sản vô hình ưu tiên

mang lại Mục tiêu của việc này sẽ thiết lậpđược

đơn vị khoa học công nghệ điển hình trong côngtác

ghinhận, xác định ưu tiên, quản lý và định giá tài

sản vô hình có được từhoạt động nghiên cứu triển

khai Và để phản ánhhiệu quả củaviệcđịnhgiá tài

sản vô hình cho môhình khoa học côngnghệrộng

hơn, tập đoàn kinh doanh và chutrìnhlập kế hoạch

dựtrùngân sách

1.3 Kỉnh nghiệm của Nhật Bản

ớ Nhật Bản,giámđốc trường đạihọc quốc gia

hay tổ chức liên trường quyết định quyền sở hữu

các sáng chế do cán bộ nghiên cứu của trường/tổ

chức thực hiện dựa trên cơ sỡ bànbạc vớiúy ban sáng chế của trường.Các nhànghiên cứuNhậtBản thuộc các trường đại họcquốc gia không bắt buộc

phải tiết lộ về các phát minh với văn phòng cấp

phép li-xăng công nghệ (vănphòngchuyểngiao li-

xăng - CGLX), nhưng được khuyến khích dể làm tốt điều đó Tuy nhiên, người phát minh tại các trường đại học của Nhật Bản có thể được yêu cầu

nhượng quyền cho chínhphủ nếu Giámđốc trường

đại học đó tuân theo các tiêu chuẩnphân loại nhất định, quyết định rằng sáng chếđó phải thuộcvề

Nhà nước Các dữliệu gần đây về cấp bằng sáng

chế và chuyển giao li-xăngtại Nhật Bản cho thây

có sựgia tăngởsô sáng chê được cấpbằng và tiếp

lộ phátminh Điều này cho thấy cấc nhà phátminh trongcác trường đạihọc NhậtBản có thể công bô

sáng chế và dựa nhiều hơn vào các kênh chuyển

giaocông nghệ chính thức

Đối với Nhật Bản, mục đích của định giá tài sản trítuệ không phải để tìm giá trịtuyệtđối và hoàn hảo Định giá nhằm mục đích đạt được kết quả mà các bên liên quancó thể chấp nhận và đạt đượcsự đồng thuận Do kết quả địnhgiá biếnđộngtùy theo

thời gian, quy mô doanh nghiệp, đối tượng doanh nghiệp là bên bán hay bên mua, Do vậy, để đạt

được sự đồng thuận, việc thu thập thông tin phải

khách quan như các thông tinvề dữliệu ngành bình

quân, dựbáo thị trườngvềquy mô, cạnh tranh của

hànghóa, côngnghệ tươngtự trên thị trường, là điều quantrọngnhấttrong việc địnhgiá công nghệ,

tàisản trí tuệ

1.4 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Khi giá thị trường được sử dụng cho các cơ sở đàm phán giá trong kinh doanh hàng hóa, giá trị

khách quan của một công nghệ cụ thể phải được trình bày trước cho việc đàm phán được tiến hành giữa người mua và người bán công nghệ Tuy nhiên, sẽ là khó khăn để thúc đẩy thương mại và chuyển giaocông nghệ với quá trìnhđịnhgiá thông

SỐ 18-Tháng 7/2022 137

Trang 3

thường mà chỉ tậptrung vào bản thân công nghệ

Mô hình định giá này chỉ đánh giá được giá trị của

côngnghệ từ quan điểm của các chủ sởhữu công

nghệ và chi phối chủ yếubởi năng lực công nghệ,

vốn, thương hiệu và nguồn nhân lực của doanh

nghiệp Tuy nhiên,những gì thị trường cần là giá trị

của công nghệ như một sản phẩm được giao dịch

trên thị trường Điều này đòi hỏi một giá trị công

bằng và kháchquan mà không chịuảnh hưởngbởi

cácchủ sởhữu nó

TạiHànQuốc,cáctổ chức địnhgiácồng nghệ

được thành lập dựa trên Luật Xúc tiến chuyển

giao côngnghệ, bao gồm 42 tổ chức côngcộng và

9 tổ chức tư nhân Cáctổchứcnàyđượcthành lập

bởi những nhómhoạt động nhỏ Ngoài ra, có các

tổ chức độc lập khác như: Ngân hàng Phát triển

Hàn Quôc (KDB), Quỹ Bảo đảmTín dụng Công

nghệ Hàn Quốc (KTCG), Hiệp hội Quản lý

Doanh nghiệp nhỏ (SBA) và Viện Kế hoạch và

Đánh giá Công nghệ công nghiệp Hàn Quốc

(ITEP), Quỹ Bảo đảm tín dụng (Korea Credit

Guarantee Fund - KODIT), KISTI (Viện Thông

tin khoa học công nghệ Hàn Quốc, NTB (Ngân

hàng giao dịchcông nghệ)

Quan điểm chủ đạo được các tổ chức dịch vụ

đánh giá, định giá công nghệ ở Hàn Quốc vận

dụng là dựa trên khả năng sinh lời của doanh

nghiệp khi đưa công nghệ vào khai thác trong

tương lai, cụ thể: ITEP định giá các giá trị công

nghệ để sử dụng như nhữngtiêu chuẩn trongviệc

cấp các quỹ hỗ trợ công nghiệp và KDB sử dụng

định giá làm cơsở để tiến hành các hoạt động tài

chính như cho vay và đầu tư cả 2tổchứcnày đều

sử dụng phương pháp thu nhập để quy đổi dòng

tiền ướctính tương laithông qua ước tínhgiá trịcác

tài sản vô hình thành giá trị hiện tại dòng (NPV)

KTCG tiếnhành định giá công nghệ ở các côngty

để tính toán giới hạnbảolãnh,phânbổ vốn và đầu

tư KTCG cho phép áp dụng cả 3 phương pháp,

nhưng phương pháp thu nhập vẫn được sử dụng

phổ biến hơn Tuy không có khác biệt cơ bản so

với phương pháp của ITEP và KDB, nhưng phương

pháp của KTCG có điểm khác nhau là, nếu thời

gian tính ước tính thu nhập lớnhơn 5 năm thì thu

nhập sẽ được ước tínhcho5 năm và phầnthời gian

cònlại sẽ đượctính nhưgiá trị tận dụng

Như vậy, phầnđặc biệt mang tínhchủquan khi định giá côngnghệ, tài sản trí tuệ là phần lựa chọn

công nghệtương tự công nghệ định giá hiệnđang

được sử dụng Ví dụ đốivới hệ thốngcủaKTCGvà

KODIT, với mỗi kỹ thuật được định giá, yêu cầu

lựa chọn 1 người về kỹ thuật và1người về tài chính

để tiến hành định giá Việc áp dụng như vậy dẫn

đến nhiềukhả năng giátrị định giá mang tính chất chủ quan Bên cạnh đó, sau khi định giá sẽ phải phát hành Giây chứng nhận để bảo lãnh tín dụng

cho công nghệ, nênvai tròcủa doanh nghiệp đăng

ký xin địnhgiá công nghệ lại càng quan trọng Do

đó không có cách nào khác làphảiáp dụng định giá

công nghệ mang tính bảo thủ (giống như Nguyên

tắc bảothủ trong kế toán) đểđảm bảo an toàncho doanh nghiệp định giá Trong thời gian gần đây, cáctổ chức liênquan của Hàn Quốc đangcố gắng

để khắc phục điểm này

Theo Bộ Tài nguyên Thương mại và Công nghiệp Hàn Quốc (2014), hướng dẫn thựchiện tiêu

chuẩn địnhgiá công nghệ, công bốngày 18/6/2014,

số 97, trong đó, đối với việc định giá tài sản trí tuệ

cóthểáp dụng phươngpháp khấu trừ phíbản quyền

là phương pháp dự đoán giá trị chi trả phí bản quyền mà người sở hữu công nghệ có thể giảm được nếuđã đượccấpphép từ bên thứ 3 và quy đổi thành giá trị hiện tại Điều kiện để sửdụngphương

pháp khâu trừ bảnquyền làphải cótàiliệu phí bản

quyền giao dịchcông nghệ có thể so sánh được trên

thị trường giao dịchcó đủ điều kiện để tiến hành việc so sánhtrên Trong trường hợp tài liệu phí bản

quyên giao dịch công nghệ có khả năng so sánh không đạttiêu chuẩn, có thể sử dụng thông kê phí bản quyền theongànhnghề Sau khi tiếnhành so

sánh thuộc tínhcủa đối tượng công nghệ cần đánh

giá với công nghệ khác, phí bảnquyền sẽ được tính toán và điều chỉnhlại saocho hợp lý

1.5 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc là một trong những nước châu Á có

thịtrường khoa họcvà công nghệ phát triển Các

tổ chức trung gian có chức năng tư vấn định giá công nghệ, tài sản trí tuệ hoạtđộng trênthị trường khoa học và công nghệ của Trung Quốc trong nhữngnăm gầnđây đã pháttriểncả về chiềurộng

và chiều sâu, nhiều tổchức đã pháttriển đến mức

độ chuyên nghiệp với sựgia tăng đáng kểcác dịch

Trang 4

KINH TÊ

vụ cả về chất lượng và số lượng Theo thông kê

chưa đầyđủ, Trung Quốchiện có khoảng hơn 60

nghìn tổ chức dịch vụ trung gian cho thị trường

khoahọc vàcôngnghệhoạt động ở các thành phố

lớn vàvừa với hơn 1,1 triệu cánbộ (Khóa Đào tạo

chuyển giao công nghệ Trung - Việt năm 2011,

Sàn Giao dịch Công nghệ Thượng Hải, Cơ quan

Đại diện phía Nam Bộ Khoa học và Công nghệ

năm 2011) Các loại hình dịch vụ do các tổ chức

này cung cấp cũng đa dạng hơn, ngoàinhững dịch

vụ truyền thống nay mở rộng cung cấp thêm các

dịch vụ mới phù hợp với xu thế và nhu cầu phát

triển của đất nước, điển hình có các dịch vụ định

giá công nghệ, tài sản trítuệ, công ty quản lý đầu

tư mạo hiểm trong lĩnh vực khoa học và công

nghệ, Nhận thức được tầm quan trọng củanguồn

nhậnlựctrong việc pháttriểnthị trường khoa học

và công nghệ, Trung Quốc đã tiến hành chuyển

hướng hoạt động đào tạo nguồn nhân lực có đủ

phẩm chất và chuyên môn nhằm phát triển thị

trường khoa họcvà côngnghệ Với cách thực hiện

như vậy, Trung Quốc đang từng bước tạo ra một

đội ngũ nhânsự chuyên nghiệp, có năng lực cung

cấpcho thị trường khoa học và công nghệ Để kết

nôi những người hoạt độngtrong các tổ chức trung

gian,bao gồmcả những chuyên gia hoạt độngđộc

lập, Trung Quốc thành lập, xây dựng các Hiệp hội

những ngườilàmtrunggian, môi giới

2 Bài học rút ra cho Việt Nam

Theo nhiều chuyên gia đánh giá, mặc dù thị

trường khoa học và công nghệ của Việt Nam

những năm qua đãcó những bước phát triển tích

cực, tuy nhiên vẫn chưa phát triểnđúng với tiềm

nãng Sô'lượng các giao dịch chính thức vễ công

nghệ còn tương đốì khiêm tốn,trong khi đólại tồn

tại những giao dịchkhông chính thức, làm chothị

trường vốn dĩ không phô' biến, lại chứa đựng

những hoạt độngkhông minh bạch Cũngtheocác

chuyên gia, với một thị trường có độ minh bạch

kém so với thế giới, việc địnhgiá sẽ bịảnhhưởng

và phụ thuộc râ'tnhiều vào kinhnghiệm, đạođức

của người địnhgiá

Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp

4.0, thị trườngkhoahọc và công nghệ sẽ luôn có

những biến động rất lớn Chính những sự biến

động này sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới việc phân

tích và xácđịnh các tham sô' phục vụ công tác định giá công nghệ, tài sảntrítuệ, như: việc dựbáo về tuổi đời côngnghệ,tài sản trí tuệ; dự báo về khả năng thị trường, cũng như những vâ'n đề về áp

dụngvà nhân rộng công nghệ, tài sản trí tuệ trên thị trường, Trong bối cảnh thị trường khoa học

và công nghệ của Việt Nam cònkhiêm tô'n so với

các quô'c gia trênthế giới, tình trạng thiếu thông tin, thông tin không trung thực, là điều dề nhận thây và thường xuyên phải đô'i mặt Do vậy, việc

định giá công nghệ và tàisản trí tuệ sẽ gặp nhiều

khókhăn, khôngdễ thực hiện

TạiViệtNam, định giá cũng là mộtnghề còn

nontrẻ so với các ngành nghề khác và phát triển

sau nhiều nước So với các nước trong khu vực

Đông Nam Á như Malaysia, Singapore, Thái

Lan, độ lớn của thị trườngcũng như trìnhđộ của hoạt độngđịnh giá côngnghệ của Việt Namvẫn

còn mộtkhoảng cách không nhỏ TạiViệt Nam,

định giá công nghệ, tài sản trí tuệ mới chỉ được biết đến và có một sô'bước phát triển trong vài năm trở lại đây Điều này cho thây kinh nghiệm

của ViệtNam về định giá công nghệ, tài sản trí tuệ không nhiều và không chuyên sâu.Đâycũng

là mộttrong các nguyên nhân dẫn tới những hạn chế trong việc triển khai công tác định giá công nghệ,tài sản trítuệcủa nước ta

Nguồn lực cung cấp cho hoạtđộng định giá của

Việt Nam cũng còn khiêm tô'n Khối các trườngcó

đào tạo trinhđộ đại học về định giá và thẩmđịnh giá còn ít Tại một số trường có đào tạo chuyên

ngành này, số lượng sinh viên theo học cũng còn khiêm tốn so với các chuyên ngành khác Ví dụ,tại

học Viện Tài chính, sinh viên theo học chuyên ngành về giá mỗi năm chỉ khoảng 50 -80 sinh viên Hơnnữa, đây cũnglàmột lĩnh vực mới, nêntrình độ

vàchâ't lượng nguồn nhânlực cũng còn nhiều hạn

chế,nhâ'tlànhân lực am hiểusâu về định giá công nghệ, tài sảntrítuệ Cũng như kinhnghiệm của các quốcgiatrên thế giới, tính vô hình của tài sảncông

nghệ, tài sản trí tuệ làmột trong những khókhăn râ't

lớn trong công tác định giá công nghệ, tài sản trí

tuệ Hơn nữa, ngay cảcác tài sản là công nghệ cũng mỗi loại tài sản lại theo một lĩnhvựcngành nghề

rất khác nhau, cónhững đặc điểm riêng chứa đựng những đặc tính riêng biệt Tài sản công nghệ lại

SỐ 18-Tháng 7/2022 139

Trang 5

gắn với những sản phẩm trí tuệ đặc biệt,, do vậy

tính mới trongtàisảnnày sẽ làm cho việc định giá

gặp nhiềutrở ngạitừ khâu thuthập thông tin, đánh

giávà phân tích vềtàisản công nghệ, tài sản trí tuệ

cần định giá, cho đến việc thu thập thông tin và

đánhgiá thị trường,

Nhìn chung, các nước có hoạt động định giá

công nghệ, tài sản trí tuệ phát triển đều là những

nước có thị trường khoa học và công nghệ phát

triển Từ việc nghiên cứu kinh nghiệm của các

nước,nhóm nghiên cứu rútra mộtsố bài học kinh

nghiệm cho Việt Nam, cụ thể như sau:

- Cầntiếp tục hoàn thiện hệ thông pháp luật về

thị trường khoa học và côngnghệ;

- Khẳng định vai trò của Nhà nước đối với sự

phát triểnthị trường khoa học và công nghệ cũng

nhưcác nội dung liênquan đến địnhgiá công nghệ,

tài sản trí tuệ;

- Gắn kết các trường đại học, viện nghiên cứu với các doanh nghiệpnhằm thúc đẩy việc nghiên

cứuvàchuyểngiaocôngnghệ;

- Theo kinh nghiệmcủacác nước, các nước cũng đều xây dựng hệ thống thôngtin dữ liệu về từng loại công nghệ, đặc điểm, tínhnăng, cũng nhưgiá

giao dịch Do vậy, Việt Nam cũng cần xây dựng

nhữnghệ thống thông tin mang tính chất nền tảng

như vậy để phục vụtốt hơn chohoạt động định giá

công nghệ, tài sản trí tuệ;

- Đàotạođội ngũchuyên gia, nhân lực để thực hiện định giá công nghệ, tài sảntrítuệ.cần có chế

độ đãingộ thỏa đáng vớinguồnnhân lực chất lượng cao về khoahọc và công nghệ;

- Sử dụng linh hoạt các phương pháp định giá

công nghệ, tài sản trí tuệ Việc lựa chọn phương

pháp định giá cần dựa vào những căn cứ pháp lý, lậpluận chặt chẽ, rõ ràng ■

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 Andreou, A.N et all (2007) A framework of intangible valuation areas and antecedents Journal of Interllectual Capital, 8(1), 52-75.

2 Benaroch, M (2001) Option Based management of technology investment risk IEEE Transactions on Engineering Management, 48(4), 428-444.

3 Boer, F.p (2004) Technology valuation solutions USA: John Wiley and Sons.

4 Bouteiller, c (2000) The evaluation of intangible: Advocating for an option based approach Alternative Perspective on Financing and Accountings conference, Humburg.

5 EPO (2010) Patent Portfolio Management with IPScopre2.2 Retrieved from: https://www.epo.org/

6 IVSC (2012) The Valuation of Intangible Assets Retrieved from: https://www.ivsc.org/

7 Jarosz, R et all (2010) Patent Auctions: How far have we come? France: Les Nouvelles.

8 Razgaitis, R (2007) Pricing the IP of early stage technology UK: Oxford.

9 Suzuki, K (2009) Technology Valuation France: UNESCO.

10 Trịnh Minh Tâm, Nguyễn Hữu Xuyên (2017) Khai thác sáng chê'và đổi mới sáng tạo - Những vấn đề cơ bản từ

lý luận đến thực tiễn Nxb Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.

11 Trịnh Minh Tâm và cộng sự (2018) Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả định giá công nghệ theo mô hình phân tích thứ bậc: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam Tạp chí Công Thương, số 5, tháng 4/2018.

12 Trịnh Minh Tâm và cộng sự (2019) Định giá công nghệ theo mô hình IPScore: Gợi ý cho Việt Nam Tạp chí Công Thương, số tháng 3/2019.

Ngày nhận bài: 11/5/2022

Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 8/6/2022

Ngày chấp nhận đăng bài: 18/6/2022

Trang 6

KINH TÊ

Thông tin tác giả:

LThS ĐỖ SƠN TỪNG 1

2. TS TRỊNH MINH TÂM'

3 KS NGÔ THỊ LOAN1

4 ThS LƯU THỊ THANH HẢO'

5 ThS VŨ THỊ BÍCH NGỌC 1

6 TS LÊ THỊ KIM CHI 2

7 ThS TRẦN NGỌC BAN2

8 ThS LÊ HOÀNG HÀ ’

1 Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ

2 Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp

3 Công ty Cổ phần Kỹ thuật Đóng tàu Việt Nam

INTERNATIONAL LESSONS LEARNT ABOUT THE

TECHNOLOGY AND INTELLECTUAL PROPERTY VALUATION:

SOME SUGGESTIONS FOR VIETNAM

• Master DO SON TUNG’

• Ph D TRINH MINH TAM ’

• NGOTHILOAN’

• Master LUU THI THANH HAO'

• Master, vu THI BICH NGOC ’

• Ph D LE THIKIMCHI 2

• Master TRAN NGOC BAN2

• Master LE HOANG HA 3

’Vietnam Centre for Science and Technology Evaluation,

Ministry of Science and Technology

2 University of Economics - Technology for Industries

3 Vietnam Shipbuilding Engineering Joint stock Company

ABSTRACT:

Up to now, there has been no specific standard for valuing technology and intellectual

properties in the world.Byusing threedifferent approaches,including the marketapproach, the

costapproach, and the cash flow approach, organizations which provide technology valuation services develop their own valuation models.By analyzing experiences of somecountries, this

paper presents some lessons learnt that canbe used to support the development of technology

and intellectual property valuation inVietnam

Keywords:valuation, technology,intellectual property,technology valuation,lesson learnt, economy

SỐ 18 - Tháng 7/2022 141

Ngày đăng: 01/12/2022, 13:52

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w