Kinh nghiệm của úc Đốivới Úc, mô hìnhđịnhgiácủatổchức dịch vụ sở hữu trí tuệ toàncầu sẽ được hoạt động như sau: khi nhận được yêucầucủa khách hàng về việc việc rà soátmột cách có hệ thốn
Trang 1KINH NGHIỆM QUÔC TÊ
• Đỏ SƠN TÙNG - TRỊNH MINH TÂM NGÔ THỊ LOAN - Lưu THỊ THANH HẢO
- VŨ THỊ BÍCH NGỌC - LÊ THỊ KIM CHI - TRẦN ngọc ban LÊ HOÀNG HÀ
TÓM TẤT:
Cho đếnnaytrên thế giới chưa cómột quốc giahoặctổ chức quốc tế nào ban hành tiêu chuẩn riêng về địnhgiá công nghệ, tài sảntrítuệ.Việcđịnhgiá công nghệ, tài sảntrí tuệ chủ yếu được thực hiện dựatrên nguyêntắc chung cho địnhgiá tài sản vô hình Dựa trên3phươngpháp tiếp cận (tiếp cận vềthị trường, tiếp cận về chi phí,tiếp cận theo dòng tiền), cáctổ chức thực hiện dịch vụđịnhgiá côngnghệ xây dựng mô hìnhđịnhgiá cho tổ chức mình.Thông qua kinh nghiệm
củacác nước, bài viết gợi ý một số bài học gópphầnphát triển hoạt động địnhgiá công nghệ,tài sảntrí tuệ tại Việt Nam
Từ khóa:địnhgiá, công nghệ, tài sản trí tuệ,địnhgiá công nghệ,bài học, kinhtế
1 Kinh nghiệm quốc tế trong phát triển hoạt
động định giá công nghệ, tài bản trí tuệ
ỉ ỉ Kinh nghiệm của Hoa Kỳ
Với mục tiêuđặtra là duy trì vànâng cao chất
lượng hoạt động định giá doanh nghiệp, phục vụ
lợiíchcủa định giá viên doanh nghiệp và người sử
dụng kết quả định giá, hệ thông các tiêu chuẩn
định giá tài sản vô hình đã được hình thành Hệ
thống cáctiêu chuẩn này thuộc tậphợp các Tiêu
chuẩn định giá doanh nghiệp(Business Valuation
Standards - BVS) do Hiệp hội Định giá viên Hoa
Kỳ (American Society of Appraisers - ASA) phê
chuẩn từtháng 7/2008 thông qua úyban Định giá
doanh nghiệp trên cơ sở áp dụngcácTiêu chuẩn
thông nhất về hành nghề định giá do QuỹTài trợ
định giá (Appraisal Foundation) xây dựng Các
hoạt độngđịnh giá công nghệ nói chung và định giá tài sản trí tuệ nói riêng ở Hoa Kỳ được dựa trên hệ thông các tiêu chuẩn định giá tài sản vô
hình đó
Trong một sốvăn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính Hoa Kỳ đã nêu ra một số cách tiếp cận và
phươngpháp định giá khác nhau Tùy vào mục đích định giá, các định giá viên phải xem xét áp dụng
cáchtiếp cận vàphươngphápđịnhgiá thích hợp khi
tiếnhànhđịnhgiá tài sản vô hình
Cáchtiếp cậnthunhập (Income Approach): Các
yếu tốvề lợi ích kinh tế dotài sảnvô hình tạo ra
một cách thích hợp và cácrủi ro liên quan tớicác lợi ích đó, lợi ích kinh tế do việckhấu hao tài sản
nhằmmục đích trả thuế thunhập,xem xétsựkhác nhau giữatuổiđời kinh tếcủa tài sản vô hình với
Trang 2KINH TÊ
tuổiđờipháp lý(thời gian tồn tại theo luật định) của
tài sản đó hay không là những khía cạnh cầnđược
tiến hành xem xét và đánhgiá
Cách tiếp cận thị trường (Market Approach):
Khi tiến hành thực hiện phương pháp này, nhất
thiết phải cân nhắc đến những khác biệtcó liên
quan giữa chủ thể định giá và hướng phát triển
tài sản cũng như là các điều kiện tương ứng về
thị trường
Cách tiếp cận chi phí (Cost Approach): Chi phí
được đề cập trong phươngpháp này là những chi
phí giántiếp và trực tiếp gắnkết với việc tái sản
xuất và tái cơcấubởi vì tài sản có thể bịgiảm vòng
đời cũng nhưlàm mất đi lợi nhuận do lạchậu về
kinh tế hoặc về chứcnăng
1.2 Kinh nghiệm của úc
Đốivới Úc, mô hìnhđịnhgiácủatổchức dịch vụ
sở hữu trí tuệ toàncầu sẽ được hoạt động như sau:
khi nhận được yêucầucủa khách hàng về việc việc
rà soátmột cách có hệ thốngdanh mục tài sản vô
hình, tổ chứcdịchvụ này sẽsửdụngcáctiêuchuẩn
cũng nhưmô hình định giá tốt nhất, phù hợp với
mục đích, yêu cầu thực tê để đánh giá, ưutiên và
lựa chọn ra nhóm rộng nhất có thể của tài sản vô
hình hợp pháp và cạnh tranh cấu thành danh mục
tàisản vôhìnhcủa đơn vịkhoahọc công nghệ Từ
việc xác định các tài sản ưuthế, tổ chức cung cấp
dịch vụ sở hữu trí tuệtoàn cầuúcsẽtính toán giá trị
lợi nhuận kinh tế tương lai mà khách hàng mong
muốn và thu hồi vốntừviệc đầutưvàonghiên cứu
phát triển
Để việc rà soát kế hoạch kinh doanh nội bộ
trong tương lai vàngân sách tiềm năng từbênngoài
cho các đơn vị khoa học công nghệ được diễn ra
thuận lợi, biểu quản lý giá trị tài sản vô hìnhđược
đưa ra.Nhữngbiểu quảnlý giá trị này sẽ không bị
giới hạn trong việcthu hồi nợ,ví dụ giátrịtiền mặt
của dòng tiền bản quyền đốivớicác tài sản vô hình,
mà còn mở rộng choviệc thu hồi công nợ liênquan
đến lợi nhuận thu được từ môi trường, quy định,
hiệu suất và cả xã hội mà tài sản vô hình ưu tiên
mang lại Mục tiêu của việc này sẽ thiết lậpđược
đơn vị khoa học công nghệ điển hình trong côngtác
ghinhận, xác định ưu tiên, quản lý và định giá tài
sản vô hình có được từhoạt động nghiên cứu triển
khai Và để phản ánhhiệu quả củaviệcđịnhgiá tài
sản vô hình cho môhình khoa học côngnghệrộng
hơn, tập đoàn kinh doanh và chutrìnhlập kế hoạch
dựtrùngân sách
1.3 Kỉnh nghiệm của Nhật Bản
ớ Nhật Bản,giámđốc trường đạihọc quốc gia
hay tổ chức liên trường quyết định quyền sở hữu
các sáng chế do cán bộ nghiên cứu của trường/tổ
chức thực hiện dựa trên cơ sỡ bànbạc vớiúy ban sáng chế của trường.Các nhànghiên cứuNhậtBản thuộc các trường đại họcquốc gia không bắt buộc
phải tiết lộ về các phát minh với văn phòng cấp
phép li-xăng công nghệ (vănphòngchuyểngiao li-
xăng - CGLX), nhưng được khuyến khích dể làm tốt điều đó Tuy nhiên, người phát minh tại các trường đại học của Nhật Bản có thể được yêu cầu
nhượng quyền cho chínhphủ nếu Giámđốc trường
đại học đó tuân theo các tiêu chuẩnphân loại nhất định, quyết định rằng sáng chếđó phải thuộcvề
Nhà nước Các dữliệu gần đây về cấp bằng sáng
chế và chuyển giao li-xăngtại Nhật Bản cho thây
có sựgia tăngởsô sáng chê được cấpbằng và tiếp
lộ phátminh Điều này cho thấy cấc nhà phátminh trongcác trường đạihọc NhậtBản có thể công bô
sáng chế và dựa nhiều hơn vào các kênh chuyển
giaocông nghệ chính thức
Đối với Nhật Bản, mục đích của định giá tài sản trítuệ không phải để tìm giá trịtuyệtđối và hoàn hảo Định giá nhằm mục đích đạt được kết quả mà các bên liên quancó thể chấp nhận và đạt đượcsự đồng thuận Do kết quả địnhgiá biếnđộngtùy theo
thời gian, quy mô doanh nghiệp, đối tượng doanh nghiệp là bên bán hay bên mua, Do vậy, để đạt
được sự đồng thuận, việc thu thập thông tin phải
khách quan như các thông tinvề dữliệu ngành bình
quân, dựbáo thị trườngvềquy mô, cạnh tranh của
hànghóa, côngnghệ tươngtự trên thị trường, là điều quantrọngnhấttrong việc địnhgiá công nghệ,
tàisản trí tuệ
1.4 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Khi giá thị trường được sử dụng cho các cơ sở đàm phán giá trong kinh doanh hàng hóa, giá trị
khách quan của một công nghệ cụ thể phải được trình bày trước cho việc đàm phán được tiến hành giữa người mua và người bán công nghệ Tuy nhiên, sẽ là khó khăn để thúc đẩy thương mại và chuyển giaocông nghệ với quá trìnhđịnhgiá thông
SỐ 18-Tháng 7/2022 137
Trang 3thường mà chỉ tậptrung vào bản thân công nghệ
Mô hình định giá này chỉ đánh giá được giá trị của
côngnghệ từ quan điểm của các chủ sởhữu công
nghệ và chi phối chủ yếubởi năng lực công nghệ,
vốn, thương hiệu và nguồn nhân lực của doanh
nghiệp Tuy nhiên,những gì thị trường cần là giá trị
của công nghệ như một sản phẩm được giao dịch
trên thị trường Điều này đòi hỏi một giá trị công
bằng và kháchquan mà không chịuảnh hưởngbởi
cácchủ sởhữu nó
TạiHànQuốc,cáctổ chức địnhgiácồng nghệ
được thành lập dựa trên Luật Xúc tiến chuyển
giao côngnghệ, bao gồm 42 tổ chức côngcộng và
9 tổ chức tư nhân Cáctổchứcnàyđượcthành lập
bởi những nhómhoạt động nhỏ Ngoài ra, có các
tổ chức độc lập khác như: Ngân hàng Phát triển
Hàn Quôc (KDB), Quỹ Bảo đảmTín dụng Công
nghệ Hàn Quốc (KTCG), Hiệp hội Quản lý
Doanh nghiệp nhỏ (SBA) và Viện Kế hoạch và
Đánh giá Công nghệ công nghiệp Hàn Quốc
(ITEP), Quỹ Bảo đảm tín dụng (Korea Credit
Guarantee Fund - KODIT), KISTI (Viện Thông
tin khoa học công nghệ Hàn Quốc, NTB (Ngân
hàng giao dịchcông nghệ)
Quan điểm chủ đạo được các tổ chức dịch vụ
đánh giá, định giá công nghệ ở Hàn Quốc vận
dụng là dựa trên khả năng sinh lời của doanh
nghiệp khi đưa công nghệ vào khai thác trong
tương lai, cụ thể: ITEP định giá các giá trị công
nghệ để sử dụng như nhữngtiêu chuẩn trongviệc
cấp các quỹ hỗ trợ công nghiệp và KDB sử dụng
định giá làm cơsở để tiến hành các hoạt động tài
chính như cho vay và đầu tư cả 2tổchứcnày đều
sử dụng phương pháp thu nhập để quy đổi dòng
tiền ướctính tương laithông qua ước tínhgiá trịcác
tài sản vô hình thành giá trị hiện tại dòng (NPV)
KTCG tiếnhành định giá công nghệ ở các côngty
để tính toán giới hạnbảolãnh,phânbổ vốn và đầu
tư KTCG cho phép áp dụng cả 3 phương pháp,
nhưng phương pháp thu nhập vẫn được sử dụng
phổ biến hơn Tuy không có khác biệt cơ bản so
với phương pháp của ITEP và KDB, nhưng phương
pháp của KTCG có điểm khác nhau là, nếu thời
gian tính ước tính thu nhập lớnhơn 5 năm thì thu
nhập sẽ được ước tínhcho5 năm và phầnthời gian
cònlại sẽ đượctính nhưgiá trị tận dụng
Như vậy, phầnđặc biệt mang tínhchủquan khi định giá côngnghệ, tài sản trí tuệ là phần lựa chọn
công nghệtương tự công nghệ định giá hiệnđang
được sử dụng Ví dụ đốivới hệ thốngcủaKTCGvà
KODIT, với mỗi kỹ thuật được định giá, yêu cầu
lựa chọn 1 người về kỹ thuật và1người về tài chính
để tiến hành định giá Việc áp dụng như vậy dẫn
đến nhiềukhả năng giátrị định giá mang tính chất chủ quan Bên cạnh đó, sau khi định giá sẽ phải phát hành Giây chứng nhận để bảo lãnh tín dụng
cho công nghệ, nênvai tròcủa doanh nghiệp đăng
ký xin địnhgiá công nghệ lại càng quan trọng Do
đó không có cách nào khác làphảiáp dụng định giá
công nghệ mang tính bảo thủ (giống như Nguyên
tắc bảothủ trong kế toán) đểđảm bảo an toàncho doanh nghiệp định giá Trong thời gian gần đây, cáctổ chức liênquan của Hàn Quốc đangcố gắng
để khắc phục điểm này
Theo Bộ Tài nguyên Thương mại và Công nghiệp Hàn Quốc (2014), hướng dẫn thựchiện tiêu
chuẩn địnhgiá công nghệ, công bốngày 18/6/2014,
số 97, trong đó, đối với việc định giá tài sản trí tuệ
cóthểáp dụng phươngpháp khấu trừ phíbản quyền
là phương pháp dự đoán giá trị chi trả phí bản quyền mà người sở hữu công nghệ có thể giảm được nếuđã đượccấpphép từ bên thứ 3 và quy đổi thành giá trị hiện tại Điều kiện để sửdụngphương
pháp khâu trừ bảnquyền làphải cótàiliệu phí bản
quyền giao dịchcông nghệ có thể so sánh được trên
thị trường giao dịchcó đủ điều kiện để tiến hành việc so sánhtrên Trong trường hợp tài liệu phí bản
quyên giao dịch công nghệ có khả năng so sánh không đạttiêu chuẩn, có thể sử dụng thông kê phí bản quyền theongànhnghề Sau khi tiếnhành so
sánh thuộc tínhcủa đối tượng công nghệ cần đánh
giá với công nghệ khác, phí bảnquyền sẽ được tính toán và điều chỉnhlại saocho hợp lý
1.5 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là một trong những nước châu Á có
thịtrường khoa họcvà công nghệ phát triển Các
tổ chức trung gian có chức năng tư vấn định giá công nghệ, tài sản trí tuệ hoạtđộng trênthị trường khoa học và công nghệ của Trung Quốc trong nhữngnăm gầnđây đã pháttriểncả về chiềurộng
và chiều sâu, nhiều tổchức đã pháttriển đến mức
độ chuyên nghiệp với sựgia tăng đáng kểcác dịch
Trang 4KINH TÊ
vụ cả về chất lượng và số lượng Theo thông kê
chưa đầyđủ, Trung Quốchiện có khoảng hơn 60
nghìn tổ chức dịch vụ trung gian cho thị trường
khoahọc vàcôngnghệhoạt động ở các thành phố
lớn vàvừa với hơn 1,1 triệu cánbộ (Khóa Đào tạo
chuyển giao công nghệ Trung - Việt năm 2011,
Sàn Giao dịch Công nghệ Thượng Hải, Cơ quan
Đại diện phía Nam Bộ Khoa học và Công nghệ
năm 2011) Các loại hình dịch vụ do các tổ chức
này cung cấp cũng đa dạng hơn, ngoàinhững dịch
vụ truyền thống nay mở rộng cung cấp thêm các
dịch vụ mới phù hợp với xu thế và nhu cầu phát
triển của đất nước, điển hình có các dịch vụ định
giá công nghệ, tài sản trítuệ, công ty quản lý đầu
tư mạo hiểm trong lĩnh vực khoa học và công
nghệ, Nhận thức được tầm quan trọng củanguồn
nhậnlựctrong việc pháttriểnthị trường khoa học
và công nghệ, Trung Quốc đã tiến hành chuyển
hướng hoạt động đào tạo nguồn nhân lực có đủ
phẩm chất và chuyên môn nhằm phát triển thị
trường khoa họcvà côngnghệ Với cách thực hiện
như vậy, Trung Quốc đang từng bước tạo ra một
đội ngũ nhânsự chuyên nghiệp, có năng lực cung
cấpcho thị trường khoa học và công nghệ Để kết
nôi những người hoạt độngtrong các tổ chức trung
gian,bao gồmcả những chuyên gia hoạt độngđộc
lập, Trung Quốc thành lập, xây dựng các Hiệp hội
những ngườilàmtrunggian, môi giới
2 Bài học rút ra cho Việt Nam
Theo nhiều chuyên gia đánh giá, mặc dù thị
trường khoa học và công nghệ của Việt Nam
những năm qua đãcó những bước phát triển tích
cực, tuy nhiên vẫn chưa phát triểnđúng với tiềm
nãng Sô'lượng các giao dịch chính thức vễ công
nghệ còn tương đốì khiêm tốn,trong khi đólại tồn
tại những giao dịchkhông chính thức, làm chothị
trường vốn dĩ không phô' biến, lại chứa đựng
những hoạt độngkhông minh bạch Cũngtheocác
chuyên gia, với một thị trường có độ minh bạch
kém so với thế giới, việc địnhgiá sẽ bịảnhhưởng
và phụ thuộc râ'tnhiều vào kinhnghiệm, đạođức
của người địnhgiá
Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp
4.0, thị trườngkhoahọc và công nghệ sẽ luôn có
những biến động rất lớn Chính những sự biến
động này sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới việc phân
tích và xácđịnh các tham sô' phục vụ công tác định giá công nghệ, tài sảntrítuệ, như: việc dựbáo về tuổi đời côngnghệ,tài sản trí tuệ; dự báo về khả năng thị trường, cũng như những vâ'n đề về áp
dụngvà nhân rộng công nghệ, tài sản trí tuệ trên thị trường, Trong bối cảnh thị trường khoa học
và công nghệ của Việt Nam cònkhiêm tô'n so với
các quô'c gia trênthế giới, tình trạng thiếu thông tin, thông tin không trung thực, là điều dề nhận thây và thường xuyên phải đô'i mặt Do vậy, việc
định giá công nghệ và tàisản trí tuệ sẽ gặp nhiều
khókhăn, khôngdễ thực hiện
TạiViệtNam, định giá cũng là mộtnghề còn
nontrẻ so với các ngành nghề khác và phát triển
sau nhiều nước So với các nước trong khu vực
Đông Nam Á như Malaysia, Singapore, Thái
Lan, độ lớn của thị trườngcũng như trìnhđộ của hoạt độngđịnh giá côngnghệ của Việt Namvẫn
còn mộtkhoảng cách không nhỏ TạiViệt Nam,
định giá công nghệ, tài sản trí tuệ mới chỉ được biết đến và có một sô'bước phát triển trong vài năm trở lại đây Điều này cho thây kinh nghiệm
của ViệtNam về định giá công nghệ, tài sản trí tuệ không nhiều và không chuyên sâu.Đâycũng
là mộttrong các nguyên nhân dẫn tới những hạn chế trong việc triển khai công tác định giá công nghệ,tài sản trítuệcủa nước ta
Nguồn lực cung cấp cho hoạtđộng định giá của
Việt Nam cũng còn khiêm tô'n Khối các trườngcó
đào tạo trinhđộ đại học về định giá và thẩmđịnh giá còn ít Tại một số trường có đào tạo chuyên
ngành này, số lượng sinh viên theo học cũng còn khiêm tốn so với các chuyên ngành khác Ví dụ,tại
học Viện Tài chính, sinh viên theo học chuyên ngành về giá mỗi năm chỉ khoảng 50 -80 sinh viên Hơnnữa, đây cũnglàmột lĩnh vực mới, nêntrình độ
vàchâ't lượng nguồn nhânlực cũng còn nhiều hạn
chế,nhâ'tlànhân lực am hiểusâu về định giá công nghệ, tài sảntrítuệ Cũng như kinhnghiệm của các quốcgiatrên thế giới, tính vô hình của tài sảncông
nghệ, tài sản trí tuệ làmột trong những khókhăn râ't
lớn trong công tác định giá công nghệ, tài sản trí
tuệ Hơn nữa, ngay cảcác tài sản là công nghệ cũng mỗi loại tài sản lại theo một lĩnhvựcngành nghề
rất khác nhau, cónhững đặc điểm riêng chứa đựng những đặc tính riêng biệt Tài sản công nghệ lại
SỐ 18-Tháng 7/2022 139
Trang 5gắn với những sản phẩm trí tuệ đặc biệt,, do vậy
tính mới trongtàisảnnày sẽ làm cho việc định giá
gặp nhiềutrở ngạitừ khâu thuthập thông tin, đánh
giávà phân tích vềtàisản công nghệ, tài sản trí tuệ
cần định giá, cho đến việc thu thập thông tin và
đánhgiá thị trường,
Nhìn chung, các nước có hoạt động định giá
công nghệ, tài sản trí tuệ phát triển đều là những
nước có thị trường khoa học và công nghệ phát
triển Từ việc nghiên cứu kinh nghiệm của các
nước,nhóm nghiên cứu rútra mộtsố bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam, cụ thể như sau:
- Cầntiếp tục hoàn thiện hệ thông pháp luật về
thị trường khoa học và côngnghệ;
- Khẳng định vai trò của Nhà nước đối với sự
phát triểnthị trường khoa học và công nghệ cũng
nhưcác nội dung liênquan đến địnhgiá công nghệ,
tài sản trí tuệ;
- Gắn kết các trường đại học, viện nghiên cứu với các doanh nghiệpnhằm thúc đẩy việc nghiên
cứuvàchuyểngiaocôngnghệ;
- Theo kinh nghiệmcủacác nước, các nước cũng đều xây dựng hệ thống thôngtin dữ liệu về từng loại công nghệ, đặc điểm, tínhnăng, cũng nhưgiá
giao dịch Do vậy, Việt Nam cũng cần xây dựng
nhữnghệ thống thông tin mang tính chất nền tảng
như vậy để phục vụtốt hơn chohoạt động định giá
công nghệ, tài sản trí tuệ;
- Đàotạođội ngũchuyên gia, nhân lực để thực hiện định giá công nghệ, tài sảntrítuệ.cần có chế
độ đãingộ thỏa đáng vớinguồnnhân lực chất lượng cao về khoahọc và công nghệ;
- Sử dụng linh hoạt các phương pháp định giá
công nghệ, tài sản trí tuệ Việc lựa chọn phương
pháp định giá cần dựa vào những căn cứ pháp lý, lậpluận chặt chẽ, rõ ràng ■
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Andreou, A.N et all (2007) A framework of intangible valuation areas and antecedents Journal of Interllectual Capital, 8(1), 52-75.
2 Benaroch, M (2001) Option Based management of technology investment risk IEEE Transactions on Engineering Management, 48(4), 428-444.
3 Boer, F.p (2004) Technology valuation solutions USA: John Wiley and Sons.
4 Bouteiller, c (2000) The evaluation of intangible: Advocating for an option based approach Alternative Perspective on Financing and Accountings conference, Humburg.
5 EPO (2010) Patent Portfolio Management with IPScopre2.2 Retrieved from: https://www.epo.org/
6 IVSC (2012) The Valuation of Intangible Assets Retrieved from: https://www.ivsc.org/
7 Jarosz, R et all (2010) Patent Auctions: How far have we come? France: Les Nouvelles.
8 Razgaitis, R (2007) Pricing the IP of early stage technology UK: Oxford.
9 Suzuki, K (2009) Technology Valuation France: UNESCO.
10 Trịnh Minh Tâm, Nguyễn Hữu Xuyên (2017) Khai thác sáng chê'và đổi mới sáng tạo - Những vấn đề cơ bản từ
lý luận đến thực tiễn Nxb Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
11 Trịnh Minh Tâm và cộng sự (2018) Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả định giá công nghệ theo mô hình phân tích thứ bậc: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam Tạp chí Công Thương, số 5, tháng 4/2018.
12 Trịnh Minh Tâm và cộng sự (2019) Định giá công nghệ theo mô hình IPScore: Gợi ý cho Việt Nam Tạp chí Công Thương, số tháng 3/2019.
Ngày nhận bài: 11/5/2022
Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 8/6/2022
Ngày chấp nhận đăng bài: 18/6/2022
Trang 6KINH TÊ
Thông tin tác giả:
LThS ĐỖ SƠN TỪNG 1
2. TS TRỊNH MINH TÂM'
3 KS NGÔ THỊ LOAN1
4 ThS LƯU THỊ THANH HẢO'
5 ThS VŨ THỊ BÍCH NGỌC 1
6 TS LÊ THỊ KIM CHI 2
7 ThS TRẦN NGỌC BAN2
8 ThS LÊ HOÀNG HÀ ’
1 Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ
2 Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp
3 Công ty Cổ phần Kỹ thuật Đóng tàu Việt Nam
INTERNATIONAL LESSONS LEARNT ABOUT THE
TECHNOLOGY AND INTELLECTUAL PROPERTY VALUATION:
SOME SUGGESTIONS FOR VIETNAM
• Master DO SON TUNG’
• Ph D TRINH MINH TAM ’
• NGOTHILOAN’
• Master LUU THI THANH HAO'
• Master, vu THI BICH NGOC ’
• Ph D LE THIKIMCHI 2
• Master TRAN NGOC BAN2
• Master LE HOANG HA 3
’Vietnam Centre for Science and Technology Evaluation,
Ministry of Science and Technology
2 University of Economics - Technology for Industries
3 Vietnam Shipbuilding Engineering Joint stock Company
ABSTRACT:
Up to now, there has been no specific standard for valuing technology and intellectual
properties in the world.Byusing threedifferent approaches,including the marketapproach, the
costapproach, and the cash flow approach, organizations which provide technology valuation services develop their own valuation models.By analyzing experiences of somecountries, this
paper presents some lessons learnt that canbe used to support the development of technology
and intellectual property valuation inVietnam
Keywords:valuation, technology,intellectual property,technology valuation,lesson learnt, economy
SỐ 18 - Tháng 7/2022 141