về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của ngỉiời sử dụng lao động Vân đề nàyđược quy định tại Điều 36 của Bộ luật Lao động hiện hành với câ'u trúc 3 khoản riêng biệt thểhiện rõ
Trang 1BÀN VỀ NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA
(PHẦN 2)
• NGÔ VIỆT BẮC - PHẠM HỬU NGHĨA
TÓM TẮT:
Bài viết phântích, trao đổi về nhữngđiểmmới trong chế định về hợpđồnglao động củaBộluật
Lao động sửa đổi 2019 Trên cơ sở đó đưa ranhững nhận định góp phần tiếp tục hoàn thiện việc
điều chỉnh quan hệ hợpđồng giữa ngườilao động và người sử dụng lao động phù hợpsự pháttriển kinhtế - xãhội trongmỗi giai đoạn đặt ra
Từ khóa:hợp đồng laođộng, hành langpháp lý, quan hệ laođộng, kinh tếthị trường
(Tiếp theo phần 1, đăng sô' 17/2022 Tạp chí Công Thương)
2. Một sô' điểm mới của chế định hựp đồng
lao động trong Bộ luật Lao động sửa đổi 2019
2.3 về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động của ngỉiời sử dụng lao động
Vân đề nàyđược quy định tại Điều 36 của Bộ
luật Lao động hiện hành với câ'u trúc 3 khoản
riêng biệt thểhiện rõ nội dung nhữngtrường hợp
cụ thể để người sử dụng lao động được đơn
phương châm dứt hợp đồng lao động và phải
thông báo trước cho người lao động khi sử dụng
quyền đơn phương châm dứt hợp đồng lao động
Xét về mặt quyền trong quan hệ lao động bằng hợp đồng, nó thể hiện được bản châ't người sử
dụng lao động chỉ đơn phươngchâm dứt hợpđồng khi xuâ't hiệnnhững lý do chủ quan từ phía người lao động Xét theo phương diện phạm vi điều
chỉnh, quy định này điều chỉnh mô'i quan hệ lao
động trong các cơ quan, đơn vị có quy mô hoạt động lớn và sô' lượng đôngngười lao động tham gia Nhưng xét theo khía cạnhthực tế, việc châm dứt hợpđồng diễn ra trong quan hệ lao động phải
Trang 2đảmbảo tính bền vững, giảmthiểu rủiro cho các
bên là doanh nghiệp, người lao động và cơ quan
nhà nước có thẩm quyền thì cần phải nghiên cứu
thật chuẩn xácvà hợp lý hơn Theo quanđiểm của
chúng tôi, Điểm Khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao
động năm 2019, quy định trường hợp “Người lao
động thường xuyên không hoàn thành công việc
theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu
chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong
quy chế của người sử dụng lao động Quy chế
đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người
sửdụng lao động banhành nhưng phải thamkhảo
ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở
đối vớinơicó tổ chức đại diện người lao động tại
cơ sở” là chưahợp lý,thiếu tính thông nhất trong
cách hiểu, không khả thi trong thực tiễn từ trung
ương đếnđịa phương.Bởi vì:
Thứ nhất, quy định này chỉ hợp lý áp dụng
chung cho những người sử dụng từ 10 người lao
động trở lên, với hình thứchợpđồng lao động có
thời hạn theo luật định, trả lương theo tháng cho
người lao động, ơ đó họ sẽ xây dựng “tiêu chí
đánh giá mứcđộ hoànthành côngviệc trongquy
chếcủa người sử dụng lao động” Thực tiễn cho
thấy, những người sử dụng lao động có quy mô
nhỏ lẻ, việc thiết lập “quy chế” mang tính chuyên
nghiệpthườnglàkhôngcầnthiết
Thứ hai, cụm từ “thường xuyên” ở đâythiên về
định tính, sẽ có nhiều cách hiểu khácnhau,không
thống nhất đối với việc đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động Quyđịnh này vô hìnhtrung ủng hộ
“cảm tính”cho người sửdụnglao động trongviệc
đơn phương chấm dứt hợp đồng đôi với người lao
động Từđó, dễ nảy sinh sự thiếu công bằng trong
thực tiễn áp dụng quy định này tại các doanh
nghiệp Nếu như các nhà làm luật quy định tôi
thiểu số lầnkhông hoàn thànhcôngviệc theo hợp
đồng thì chắc chắn quyền đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động của người sử dụng lao động sẽ
thực chất hơn, giảm nhiều rủi ro tranh châp hơn
trong thựctiễn, bởi nó thể hiện mộtcách rõ ràng
và địnhlượng được cụ thể
Nhưvậy,Điểm a Khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019 cần điều chỉnh theo hướng phải quy định số ngày, lần không hoàn thành công việc
mang tính định lượng để áp dụng chung thống nhất chongười sử dụng lao độngtừ 10 người lao
động trở lên đơn phương chấm dứthợp đồng lao độngvớingườilaođộng
2.4 Không còn hợp đồng lao động theo mùa
vụ, ghi nhận hình thức hợp đồng lao động điện tử
và được ký hợp đồng xác định thời hạn nhiều lần
với người cao tuổi
Một trong những điểm mới trong bộ luật sửa
đổi lầnnàylà việc loại bỏhợpđồng lao động theo thời vụ đã bị loại ra khỏi danh mục xác định các
hình thức hợp đồng lao động Theo nhìnnhận của chúngtôi, tại Điều 20 Bộ luậtLao động sửa đổi đã
bỏ nội dung về hợp đồng mùa vụhoặc theo một công việc có thời hạn dưới 12 tháng, thay vào đó
chỉ còn 2 loạihợpđồng, đólà:hợp đồng lao động
khôngxác định thờihạn và hợp đồng lao độngxác
định thời hạn
Chúng tôi đánh giáđây là tiến bộlớn của pháp
luật lao động nhằm bảo vệ người lao động, hạn
chếtình trạngngười sử dụng lao động “lách luật”, không đóng bảo hiểm xã hội cho người lao
động bằng cách ký các loại hợp đồng mùa vụ,
dịch vụ,
Đốivới vấn đề ghi nhận hình thức hợp đồnglao
động điện tử, theo chúng tôi là xuất phát từ thực tiễn Với sự pháttriển của khoa học công nghệ, đặc biệt côngnghệ 4.0 với nòng cốt là côngnghệ
thông tin, trong quan hệ lao động hiện nay, việc
giao kết hợp đồng lao động không chỉ bằng văn
bản, lời nói hay hành vi mà được thể hiện rất đa
dạnglinh hoạttrongthực tiễn Chính vì vậy, Điều
14 Bộ luật Lao động mới đã ghi nhận thêm hình thức giao kết hợp đồng lao động thông qua phương tiện điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng
văn bản
Ngoài ra, với những trường hợp hai bên thỏa
thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện việc làm có trả công, tiềnlươngvà sự quản
SỐ 18-Tháng 7/2022 57
Trang 3lý, điều hành, giám sátcủa một bên thì vẫn được
coilà hợp đồng lao động
Mộtđiểmmới trước đâychưa từng được đề cập
liênquan đếnchếtài hợpđồng laođộng đó chính
là cho phép người sử dụng lao động được ký
hợp đồng xác định thời hạn nhiều lần với người
caotuổi
Xét theo phương diện thực tiễn, người cao tuổi
thường là những người có nhiều năm làm việc với
nhiều kinh nghiệm qúy báu, đặc biệt là những
công việc đòi hỏi những yêu cầu trình độ cao,
chuyên môn thành thạo Do đó, đểpháthuygiá trị
của người caotuổi, các nhà làmluậtđã xây dựng
Điều 149 trong Bộ luật Laođộng nhằm mục đích
cho phép người sử dụng lao độngthỏa thuận giao
kết nhiều lần hợp đồng lao động xác định thời hạn
với người cao tuổi,thay vì kéo dài thời hạn hợp
đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng lao động
mới như trước đây
2.5 Công nhận hợp đồng lao động điện tử
Xét ở góc độ những điểm mới liên quan đến
hợp đồng lao động, không thể không đề cập đến
việc Bộ luật Lao động thừa nhận loại hợp đồng
lao động điện tử là loại hợp đồng hợp pháp đôivới
việc giao kết hợpđồng laođộng trong thựctiễn ở
nước ta Từ ngày 01/01/2021 Bộ luật Lao động
2019 chính thức có hiệulực thi hành, đảm bảo tốt
hơn quyền và lợi ích chính đáng của người lao
động và người sử dụng lao động Theo đó, khi
nhận người lao động vào làm việc tại doanh
nghiệp, cơ quan, đơn vị mình, người sử dụng lao
động buộc phải ký hợp đồng lao động với người
lao động bằng văn bản,hợpđồng này có thể bằng
bản giấy và cũngcó thể bằng bản hợpđồng điện
tử Như vậy, Bộ luật laođộng hiện hành vẫntiếp
tục ghi nhận 2 hình thức của hợp đồng theo quy
định hiện nay, đó là bằng lời nói và bằngvănbản
Bên cạnh đó, Bộ luật này đã bổ sung thêm hình
thức hợp đồng lao động điện tử Cụ thể tại Điều
14 Bộ luật Lao động năm 2019: Hợp đồng lao
động đượcgiaokết thôngqua phươngtiện điện tử
dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định
của pháp luậtvề giao dịch điệntử có giá trị như hợp đồng laođộng bằng văn bản ”
Bên cạnh đó, chúngtôi nhận thấy tại điều 33
Luật Giao dịch điện tử 2005 quy định như sau: HỢp đồng điệntửlà hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định của Luật này Nghĩa là, thông điệp dữ liệu chính là thông
tin được tạo ra, được gửi đi,được nhậnvà đượclưu trữ bằng phương tiện điện tử Câu hỏi đặt ra là
phương tiện điện tử là gì? Chúng tôi đồng quan
điểm với nhiều nhà nghiên cứu khi kết luận
phượngtiện điện tửlà phương tiện hoạt động dựa trên côngnghệ điện, điện tử, kỹ thuật sô", từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tươngtự
Khi bàn về điểm mới của hợp đồng lao động
mà Bộ luật Lao động năm 2019 được Quốc hội đồngýthông qua,trong đó có điểmmớiliên quan
đến hợp đồng lao động điện tử, chúng ta nhận
thấy có những ưu điểm của loại hợp đồnglao động này nhưsau:
Một là, kết nốì và giao dịch một cách nhanh chóng, đặc biệt thuận lợi cho việc sử dụng lao động “xuyên biên giới” trong các ngành mà công việc không đòi hỏi sự hiện diện của người lao
động tạimột nơi làm việc cô định
Hai là,đảm bảo sự chínhxác, hạn chế việc can thiệp vào dữ liệu
Ba là, giảm công việc hành chính cồng kềnh,
giảm gánh nặng về không gian, cơ sở vậtchất để lưu trữ,bảo quản hợp đồng và tài liệu
Bốn là, tiếtkiệmmộtkhoảntài chính đáng kể
liên quanđến việc in hợp đồng đểký và lưu trữ
Năm là, giúp cho việc quản lý nhân sự được
thôngminh, minh bạch hơn và việc truy xuất, sử
dụng dữ liệu cũng thuận tiện hơn
Như vậy, hợp đồng lao động điệntử được định
nghĩa nhưsau: Hợpđồng laođộngđiện tử là thỏa
thuận giữa người lao động và người sử dụng lao
độngvề việc làmcó trả công, trong đó quy định điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi
Trang 4bên trong quan hệ lao động vàđượctạo ra, gửi đi,
được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện
điện tử
Nhưvậy, người sử dụng lao động cũng như
người laođộng sẽ có thêm lựa chọn về hình thức
hợp đồng khi việc giao kết hợp đồng để việcký
kết hợp đồng trở nên linhhoạt hơn Đây là những
điểm mới đáng ghi nhận của Bộ luật Lao động
năm 2019liên quan đến hợp đồng lao động bằng
điện tử Điểm đặc biệt của điểm mới này được
thống nhất ghi nhận, đó chính là nó có giá trị
pháp lý nhưhợp đồng lao độngbằngvăn bản.Bởi
vì căn cứ theo Điều 34 Luật Giao dịch điện tử
hiện hành, giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử
không thể bị phủ nhận chỉ vì hợp đồng đó được
thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu Điều 14
Luật này cũng quy định: Thông điệp dữ liệu
không bịphủ nhận giá trị dùng làm chứng cứ chỉ
vì đó là một thông điệp dữ liệu Giá trị chứng cứ
của thông điệp dữ liệu được xác địnhcăn cứ vào
độ tin cậy của cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc
truyền gửi thông điệp dữliệu; cáchthức bảo đảm
và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu,
cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố
phù hợp khác
Rõ ràng,pháp luật hiện hành đã ghi nhận tính
pháp lý của hợp đồng điện tử và được sử dụng làm
chứng cứ trong trường hợp một trong hai bên
không thực hiện hợp đồng hoặc vi phạm điều
khoản của hợp đồng, tuy nhiên phải đảm bảotuân
thủ đúng các điều kiện sau đây:
Thứ nhất:Nội dungcủahợpđồngđiệntử được
bảo đảm toànvẹnkể từ khiđược khởi tạolần đầu
tiên dưới dạng thông điệp hoàn chỉnh Nghĩa là
thông điệpđó trong hợpđồng điện tử chưa bịthay
đổi, trừ những thay đổi về hình thức phát sinh
trong quá trình gửi, lưu trữ hoặc hiển thị thông
điệpdữ liệu
Thứ hai:Nội dung của thông điệp dữ liệu trong
hợp đồng điệntử có thể truy cập và sử dụng được
dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết nghĩa là thông
điệp dữ liệucó thể mở được,đọc được, xem được
bằng phương pháp mã hóa hợp pháp đảm bảođộ tin cậymà các bên thỏa thuận với nhau
Trong bối cảnh khoahọc công nghệđang phát triển, ngoài hình thức kýhợp đồng phổ biếnbằng
văn bản, Bộ luật Lao động năm 2019 đã thống
nhất điểm mới có giá trị pháp lý vàthực tiễn, cho
phép cácbênthựchiện kýhợp đồng lao động điện
tử giúp cho quá trình giao kết hợp đồng được thuậntiện và linh hoạt hơn
3 Kiến nghị cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hựp đồng lao động tại Điều 17 của Bộ luật Lao động 2019
Phải thừa nhận rằng, nội dung mới về hợp
đồng lao động trong Bộ luật sửa đổi lần này mang
tính tích cực cao Theo góc nhìn của chúng tôi,
trong thực tiễn người lao động và doanh nghiệp đượchưởng lợitừ lần sửa đổi này không nhỏ Tuy
nhiên, cần thiết phải chú ý hoàn thiện kịp thời trong quá trình triển khai áp dụng chế định hợp
đồng trong Bộ luật mới này, cụ thể là:
Đối với Điểm b Khoản 1 Điều 36 của Bộ luật Lao động năm 2019 xác định những người lao
độngbị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đôi với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điềutrị 6 tháng liên
tục đối với người lao động làm theo hợp đồng lao
động xác định thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng
và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đốì với
người làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn dưới 12 tháng mà khảnăng lao động chưa hồi
phục thì cũng bị người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng laođộng Tuy nhiên, quy định: “Khi sức khỏe của người lao động bình
phục,thì người sử dụnglao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao
động” chưa khoa học vàkhông hợp lý Nhìn nhận theo gócđộ bảo vệ con người, người lao độngđã
có quan hệ lao động với người sử dụng lao động
bằng hợp đồng, khibịrơivào hoàn cảnh khó khăn
do ốm đau, tai nạn ngoài ý muôn thì quy định này
rất nhân văn Nhưngnếu xét theo góc độ quản lý
SỐ 18-Tháng 7/2022 59
Trang 5của nhà nước, xemviệcnàylà nghĩavụ củangười
sử dụng lao động mà đặt nội dung này trong quy
phạm của Điểm b Khoản 1 Điều 37 là không hợp
lý-Quy định “người sử dụng lao động xem xét để
tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao
động” mang tính chất tùy nghi không dứt khoát,
tínhbắt buộc rất mờ nhạt, bởi người sửdụng lao
độngchỉ xem xét và điều này phụ thuộc vào ý chí
thích hay khôngthíchcủa người sử dụng lao động
Nếungười sử dụng lao độngxem xét thấy không
đượcthì ngườilao động không có cơ hội tiếp tục
làm việc mặc dù sức khỏe của người laođộng đã
thực sự bình phục Nhìn nhận theokhoa học pháp
lý, vấn đề này không thuộc về nội dung quyền
đơn phương châm dứt hợp đồng lao động của
người sử dụnglao động mànó phải đượcthiếtlập
trong quy định hành vi người sử dụng lao động
không được làm khigiao kết, thực hiện hợp đồng
lao động” tạiĐiều 17 của Bộ luật Lao động sửa
đổi thì khoa học hơn
4 Kết luận
Bộ luật Lao động (sửa đổi) đã được Quốc hội
khóa XIII thông qua ngày 20/11/2019 và bắt đầu
có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 Bộ luật Lao động
(sửa đổi) đã đưa ra những quy định cụ thểhơn và
bảo vệ lợi ích cho người lao động (NLĐ) nhiều
hơn Trong đó, vaitrò củanhững nội dung mới về hợp đồng lao động có tác dụng rấtsâu sắc đến quá trình tham gia bán sức lao động của người lao động và mua sức lao động của người sử dụng lao động trong nền kinhtế thị trường ở nước ta Trong
chếđịnh hợp đồng laođộng, các nhà làmluật đã
nghiên cứu để thiết kế 45 điều riêng biệt từ Điều
13 đến Điều 58 của Chương 3 Bộ luậtLao động
rất phù hợp với thực tế áp dụng luật điều chỉnh trongquan hệ lao động Quy địnhmới đãthể hiện
sự bìnhđẳng giữa các bên trong quanhệ lao động, cũng như bảođảm được khách thể của quanhệ lao
động trongnềnkinh tế thị trường hiện nay ở nước
ta mà các bên tham gia hướng tới Điều đặc biệt nhất là những nội dung mới về chếđịnh hợp đồng lao động hôm nayđã được sửa đổi, bổ sung trong
Bộ luật Lao động, khẳngđịnh sự hoàn thiện của
hệ thống pháp luật và Bộ luật Lao động ở Việt Nam, thểhiện sự quan tâm củaĐảng Nhà nước và
quần chúng nhân dân ■
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Quốc hội (2013) Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, ban hành ngày 28/11/2013.
2 Quốc hội (2015) Luật sô' 77/2015/QH13: Luật Tổ chức chính quyền địa phương, ban hành ngày 19/6/2015.
3 Quốc hội (2014) Luật sô 68/2014/QH13: Luật Doanh nghiệp, ban hành 26/11/2014.
4 Quốc hội (2012) Luật sô' 10/2012/QH13: Bộ luật Lao động, ban hành ngày 18/6/2012.
5 Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2019) Dự thảo trình ủy ban thường vụ Quốc hội tại phiên họp lần thứ
36, tháng 8/2019 Bộ luật Lao động sửa đổi Truy cập tại https://luatvietnam.vn/lao-dong/du-thao-bo-luat-lao- dong-sua-doi-nam-2019-172373-dl O.html-noidung.
6 Quốc hội (2019) Bộ luật sô'45/2019/QH14: Bộ luật Lao động, ban hành ngày 20/11/2019.
Ngày nhận bài: 10/5/2022
Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 7/6/2022
Ngày chấp nhận đăng bài: 17/6/2022
Trang 6Thông tin tác giả:
l NGÔ VIỆT BẮC
Văn phòng Luật sư Sài Gòn - Tây Nguyên
2 PHẠM HỮU NGHĨA
Phó phòng, Phòng Chính trị - Công tác sinh viên
Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học thành phố Hồ Chí Minh
DISCUSSING NEW POINTS
OF THE LABOUR CONTRACT TO IMPROVE THE CURRENT
LEGAL CORRIDOR IN ORDER TO ADJUST LABOR RELATIONS
IN THE CURRENT MARKET ECONOMY OF VIETNAM
(PART 2)
• NGOVIET BAC
Sai Gon Tay Nguyen Law Office
• PHAM HUU NGHIA
Political Affairs - Human Resources - student Affairs
Ho Chi Minh City University of Foreign Languages - information technology
ABSTRACT:
This paper analyzes and discusses new points in the 2019 Labor Code of Vietnam’s regulations onlabor contracts Thepaper makes some recommendations to further improving the adjustment ofthe employee - employer contractual relations in accordance withthe socio
economic development in each period
Keywords; labor contract, legal corridor,laborrelations, market economy
SỐ 18-Tháng 7/2022 Ó1