Khái niệm triết học Triết học là hệ thống tri thức, quan điểm chung nhất của con người về thế giới tự nhiên, xã hội, tư duy; về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức; về vị trí, vai trò củ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-***** -BÀI TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài: Triết học và vai trò của triết học trong đời sống xã hội
Hà Nội, tháng 11 – 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-***** -BÀI TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài: Triết học và vai trò của triết học trong đời sống xã hội
Hà Nội, tháng 11 – 2019
Trang 3MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG CHÍNH 1 Những vấn đề chính liên quan đến triết học 1.1 Nguồn gốc của triết học 2
1.2 Khái niệm triết học 3
1.3 Đối tượng của triết học và sự biến đổi đối tượng triết học qua các giai đoạn lịch sử 3
1.4 Đặc điểm của triết học 5
1.5 Chức năng của triết học 5
1.6 Những vấn đề cơ bản của triết học 6
2 Vai trò của triết học trong đời sống xã hội 2.1 Vai trò thế giới quan 10
2.1 Vai trò phương pháp luận 11
2.3 Vai trò của triết học Mác – Lênin 11
C KẾT LUẬN 13
Trang 4A LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay, cái giúp cho con người vượt qua những khó khăn, thử thách, giải thoát con người khỏi những thách đố và vướng mắc của cuộc sống, đáp ứng nhu cầu thường nhật và lâu dài của nhân loại không chỉ
là kinh tế, kỹ thuật hiện đại và công nghệ cao, mà còn là triết học Triết học giúp cho con người tìm ra lời giải không chỉ cho những thách đố muôn thuở, mà còn cho những vấn đề hoàn toàn mới do quá trình toàn cầu hoá đặt ra Triết học không chỉ giúp con người nhận thức rõ địa vị của mình, lối sống xứng đáng với con người, mà còn giúp họ xác định mục tiêu và lý tưởng sống để từ đó, góp phần biến đổi hiện thực nhằm phục vụ cho chính mình Không chỉ thế, trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay, triết học còn giúp cho con người có được sự định hướng đúng đắn trong hành động và củng cố quyết tâm hành động, đánh giá đúng những biến động đang diễn ra, gợi mở cách đi, hướng giải quyết các vấn đề mà cuộc sống đang đặt ra Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, triết học cũng đang giữ một vụ trí vô cùng quan trọng Chính vì lí do đó nên em
xin chọn đề tài “Triết học và vai trò của triết học trong đời sống xã hội” cho
bài tiểu luận lần này
Nội dung của tiểu luận được trình bày theo 2 phần:
- Phần 1: Những vấn đề chung về Triết học
- Phần 2: Vai trò của Triết học trong đời sống xã hội
Trang 5B NỘI DUNG CHÍNH
1 Những vấn đề chính liên quan đến triết học
1.1 Nguồn gốc của triết học
- Do nhu cầu của cuộc sống ngày càng được nâng cao -> con người cần có tri thức -> tích luỹ
- Tri thức được chia thành 2 loại:
+ Tri thức cụ thể: là những tri thức liên quan đến Toán học, Vật lý, Hoá học… + Tri thức khái quát, trừu tượng: là những tri thức phản ánh về nhiều lĩnh vực của thế giới Những tri thức này được bao quát, mang tính chung nhất tạo thành những tri thức phổ quát (hay còn gọi là tri thức triết học) -> bộ phận quan trọng hình thành nên triết học
Triết học ra đời từ nhu cầu của cuộc sống với các nguồn gốc: nhận thức
và xã hội Đây là những điều kiện cần và đủ để tạo nên triết học
+ Nhận thức: Trình độ nhận thức phát triển cao, con người có khả năng khái quát -> tìm ra tri thức chung
+ Xã hội: Xã hội phát ngày càng phát triển, có sự phân công giữa lao động trí
óc và lao động chân tay Bộ phận lao động trí óc sẽ nghiên cứu để tìm ra tri thức và khái quát lại những tri thức ấy Họ được gọi là những triết gia.
- Triết học ra đời xong xã hội cổ đại – xã hội chiếm hữu nô lệ và được gọi là triết học cổ đại
- Sau đó được gọi với những từ, những cái tên tương ứng
+ Ở phương Đông:
Trung Quốc: Người Trung quốc cổ đại quan niệm “ triết” chính là “ trí”, là cách thức và nghệ thuật diễn giải, bắt bẻ có tính lý luận trong học thuật nhằm đạt tới chân lý tối cao
Trang 6Ấn Độ: Theo người Ấn Độ, triết học được đọc là darshana, có nghĩa là chiêm ngưỡng nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải
+ Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp được la tinh hoá là Philôsôphia - nghĩa là yêu mến, ngưỡng mộ sự thông thái Như vậy Philôsôphia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người
Dù ở phương Đông hay phương Tây, triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức, nhà triết học là nhà thông thái có khả năng tiếp cận chân lý, nghĩa là có thể làm sáng tỏ bản chất của mọi vật.
1.2 Khái niệm triết học
Triết học là hệ thống tri thức, quan điểm chung nhất của con người về thế giới (tự nhiên, xã hội, tư duy); về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy
1.3 Đối tượng của triết học và sự biến đổi đối tượng triết học qua các giai đoạn lịch sử
- Khi mới xuất hiện, Triết học Cổ đại còn được gọi là Triết học tự nhiên - bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực, không có đối tượng riêng Đây là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm sau này cho rằng Triết học là khoa học của mọi khoa học
- Thời kỳ Trung cổ, ở Tây Âu khi quyền lực của giáo hội Thiên chúa bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì Triết học trở thành một bộ phận của thần học Triết học chỉ có nhiệm vụ lý giải và chứng minh cho sự đúng đắn của nội dung trong kinh thánh Triết học tự nhiên bị thay thế bởi nền Triết học kinh viện
- Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18, để đáp ứng yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các
bộ môn khoa học chuyên ngành có tính chất là khoa học thực nghiệm đã ra đời
Trang 7với tính cách là các khoa học độc lập Triết học lúc này có tên gọi là Siêu hình học - Khoa học hậu vật lý Đối tượng của Triết học thời kỳ này là nghiên cứu cái ẩn dấu, cái bản chất đằng sau các sự vật, hiện tượng “vật thể” có thể thực nghiệm được
+ Triết học duy vật dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng, đạt tới đỉnh cao mới với các đại biểu như Ph Bây cơn, T.Hốpxơ (Anh), Diđrô, Hen Vêtiúyt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)
+ Mặt khác, tư duy Triết học cũng được phát triển trong các học thuyết duy tâm
mà đỉnh cao là Triết học Hêghen
+ Song, cũng chính sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của Triết học muốn đóng vai trò
“Khoa học của mọi khoa học”, mà Triết học Heghen là Triết học cuối cùng mang tham vọng đó Heghen xem Triết học của mình là một hệ thống phổ biến của nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào Triết học
- Đầu thế kỷ 19, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, cùng với sự chuyển biến tính chất từ khoa học thực nghiệm sang khoa học lý thuyết là cơ sở khách quan cho triết học đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của mọi khoa học” Triết học Mác - Triết học duy vật biện chứng ra đời thể hiện sự đoạn tuyệt đó Triết học Mác xít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng và nghiên cứu những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy
- Do tính đặc thù của Triết học là xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống lý luận về chỉnh thể đó.Và điều đó chỉ thực hiện được bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học, lịch sử của bản thân tư tưởng Triết học Cho nên, vấn đề tư cách khoa học của Triết học và đối tượng của nó
đã gây ra cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay
Trang 8Tóm lại, cái chung trong các học thuyết Triết học từ cổ tới kim là nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan
hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh.
1.4 Đặc điểm của triết học
- Mang tính hệ thống
- Mang tính lý luận, trừu tượng cao (được thế hiện bằng khái niệm, phạm trù, nguyên lý -> phản ánh tính quy luật, cao hơn là quy luật)
- Có sự khác nhau giữa triết học và tôn giáo
Các bước để tìm ra sự khác biệt này:
Bước 1: Liệt kê các tôn giáo Bước 2: Chỉ ra điểm chung Bước 3: Đối chiếu với đặc tính chung của triết học Triết học dựa trên cơ sở tri thức (dù đúng hay sai) còn tôn giáo dựa trên
cơ sở của lòng tin
1.5 Chức năng của triết học
Triết học có rất nhiều chức năng như:
- Giáo dục
- Thẩm mỹ (hướng con người sáng tạo, thưởng thức thức cái đẹp, những giá trị chân chính) với 3 phạm trù: chân – thiện – mỹ - tam giác vàng của cái đẹp
- Tiếp cận với khoa học
…
Tuy nhiên ta cần chú trọng vào 2 chức năng chính là:
- Thế giới quan
+ Là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới
Trang 9+ Là sự hoà nhập giữa tri thức và niềm tin: Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan; niềm tin định hướng cho hoạt động của con người, từ
đó tri thức trở thành niềm tin, niềm tin phải trên cơ sở tri thức
+ Các loại thế giới quan (phân chia theo sự phát triển):
+Thế giới quan huyền thoại: Là phương thức cảm nhận thế giới của người nguyên thuỷ, có đặc điểm là các yếu tố tri thức và cảm xúc, lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và tưởng tượng, cái thật và cái ảo, cái thần và cái người hoà quyện vào nhau thể hiện quan niệm về thế giới
+ Thế giới quan tôn giáo: Niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủ yếu, tín ngưỡng cao hơn lý trí, cái ảo lấn át cái thật, cái thần trội hơn cái người
+ Thế giới quan triết học diễn tả quan niệm dưới dạng hệ thống các phạm trù, qui luật đóng vai trò như những bậc thang trong quá trình nhận thức Như vậy, Triết học được coi như trình độ tự giác trong quá trình hình thành phát triển của thế giới quan Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, đóng vai trò định hướng, củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử
Triết học - hạt nhân lý luận của thế giới quan
- Phương pháp luận: nền tảng lý luận để xây dựng phương pháp -> rút ra ý nghĩa phương pháp luận
1.6 Những vấn đề cơ bản của triết học
Là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Chia thành 2 mặt:
- Bản thể luận: Trả lời cho câu hỏi “Giữa vật chất và ý thức cái nào tính số 1, cái nào tính số 2” Từ câu trả lời chia thành:
+ Chủ nghĩa duy vật
+ Chủ nghĩa duy tâm
Trang 10- Nhận thức luận: Trả lời cho câu hỏi: “Có sư phù hợp giữa tri thức và đối tượng được phản ánh hay không” Từ câu trả lời chia thành:
+ Thuyết khả tri
+ Thuyết bất khả tri
Vấn đề cơ bản của triết học là 1 bộ phận rất quan trọng trong đối tượng của triết học.
Đối tượng của triết học hiện nay:
+ Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
+ Các quy luật chung nhất trong sự vận động, tồn tại của tự nhiên, xã hội, tư duy
luật tư duy
tự nhiên
Các quy luật
xã hội
Các quy luật triết học
Phương pháp triết học: Là phương pháp tư duy, phương pháp nhận thức.
Trong lịch sử từng tồn tại 2 phươg pháp là biện chứng và siêu hình
Trang 11Phương pháp siêu hình Phương pháp biện chứng
Thừa nhận đối tượng ở trạng thái cô Thừa nhận đối tượng qua các mối liên
lập,tách rời với các chỉnh thể khác và hệ của nó với các đối tượng khác
giữa các mặt đối lập nhau có một ranh và sự ảnh hưởng ràng buộc lẫn nhau
Thừa nhận đối tượng ở trạng thái Thừa nhận đối tượng ở trạng thái vận
tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đấy chỉ là động biến đổi có khuynh hướng
biến đổi về mặt số lượng, nguyên chung là phát triển, có sự thay đổi về nhân của mọi sự biến đổi nằm ngoài chất, mà nguyên nhân của mọi sự đối tượng biến đổi ấy là do nguồn gốc bên
trong đối tượng Đó là sự đấu tranh
của các mặt đối lập
Phương pháp siêu hình chỉ nhìn Phương pháp biện chứng không thấysự vật riêng biệt mà không thấy chỉ thấy những sự vật cá biệt mà còn
mối liên hệ qua lại giữa chúng; chỉ thấy cả mối quan hệ qua lại giữa
thấy sự tồn tại mà không thấy quá chúng, không chỉ thấy sự tồn tại của
trình sự phát sinh và tiêu vong (Về sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành bản chất là không hiểu được mối và sự tiêu vong của sự vật.- Phương quan hệ giữa vận động và đứng im, pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm hay đứng im chỉ là một hình thức vận dẻo, linh hoạt trong sự phản ánh hiện động đặc biệt).- Tư duy của nhà siêu thực,- Phương pháp biện chứng thừa hình chỉ dựa trên những phản đề nhận trong những trường hợp cần
Trang 12họ nói có là có, không là không Đối
với họ, một sự vật hoặc tồn tại hoặc
không tồn tại, một hiện tượng không
thể vừa là chính nó lại vừa là cái
khác, cái khẳng định và cái phủ định
tuyệt đối bài trừ lẫn nhau, v.v…
Nguồn gốc của phương pháp siêu
hình: Là bắt nguồn từ việc muốn
nhận thức đối tượng, trước hết con
người phải tách đối tượng ra khỏi
những mối liên hệ và nhận thức nó ở
trạng thái không biến đổi trong một
không gian và thời gian xác định Tuy
phương pháp đó là cần thiết và có tác
dụng trong một phạm vi nhất định,
nhưng thực tế thì hiện thực không rời
rạc và ngưng đọng như phương pháp
này quan niệm
là” còn có cái “vừa là vừa là”; đối
tượng hay chỉnh thể trong lúc tồn tại
là nó thì cũng đồng thời bao hàm sự tồn tại không là nó; cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau vừa gắn bó nhau Do đó, nó phản ánh hiện thực ngày càng chân thực chính xác,
và nó trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới
Tóm lại, phương pháp siêu hình là phương pháp xem sét sự vật trong trạng thái biệt lập, ngưng đọng với một tư duy cứng nhắc; còn phương pháp biện chứng là phương pháp xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau và trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng với tư duy mềm dẻo, linh hoạt.
2 Vai trò của triết học trong đời sống xã hội
Trang 132.1 Vai trò thế giới quan
- Tồn tại trong mối quan hệ với thế giới xung quanh, dù muốn hay không con người cũng phải nhận thức thế giới và nhận thức bản thân mình Những tri thức này cùng với niềm tin vào nó dần dần hình thành nên thế giới quan
- Thế giới quan là nhân tố định hướng cho quá trình hoạt động sống của con người Thế giới quan như một “thấu kính” qua đó con người xác định mục đích,
ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn cách thức đạt mục đích đó
- Trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng về sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng nhất định
- Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đưa lại Đó là chức năng thế giới quan của triết học
- Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là cơ sở lý luận của hai thế giới quan
cơ bản đối lập nhau Chính vì vậy chúng đóng vai trò là nền tảng thế giới quan của các hệ tư tưởng đối lập Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học biểu hiện bằng cách này hay cách khác cuộc đấu tranh giữa những giai cấp, những lực lượng xã hội đối lập nhau
Do vậy
+ Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực giúp cho con người sáng tạo trong hoạt động.
+ Thế giới quan sai lầm làm cho con người sống thụ động hoặc sai lệch trong hoạt động.
+ Việc nghiên cứu triết học giúp ta định hướng hoàn thiện thế giới quan.
2.2 Vai trò phương pháp luận
Trang 14- Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống quan điểm có tính nguyên tắc chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp
- Triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất
+ Tri thức triết học là hệ thống tri thức chung nhất về thế giới và vai trò con người trong thế giới, nghiên cứu các qui luật chung nhất chi phối cả tự nhiên, xã hội và tư duy
+ Mỗi luận điểm triết học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là lý luận về phương pháp
Việc nghiên cứu triết học giúp ta có được phương pháp luận chung nhất, trở nên năng động sáng tạo trong hoạt động phù hợp với xu thế phát triển chung.
2.3 Vai trò của triết học Mác – Lênin
- Triết học Mác - Lênnin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy triết học nhân loại Nó được C.Mác và Ph Ăngghen sáng tạo ra và V.I.Lênin phát triển một cách xuất sắc Đó là chủ nghĩa duy vật biên chứng trong việc xem xét giới tự nhiên cũng như xem xét đời sống xã hội và tư duy con người
- Với tư cách là một hệ thống nhận thức khoa học có sự thống nhất hữu cơ giữa
lý luận và phương pháp: triết học Mác-Lênin như Lê nin nhận xét: “Là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị” và “là một công cụ nhận thức vĩ đại”, triết học Mác-Lênin là cơ sở triết học của một thế giới quan khoa học, là nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, là nguyên tắc xuất phát của phương pháp luận
- Trong triết học Mác - Lênin, lý luận và phương pháp thống nhất hữu cơ với nhau Chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng là phép biện chứng duy vật Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện 11