1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) bài THẢO LUẬN số 5 môn LUẬT dân sự di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

14 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không
Tác giả Nguyễn Trương Thựy Dương, Nguyễn Huỳnh Trang Anh, Lờ Thị Mỹ Hạnh, Ngụ Phỳc Trường Hải, Trần Nguyệt Quế Anh, Trần Thỏi Minh Chõu, Hoàng Thị Thanh Chỳc, Trần Thị Hà Lam, Lờ Nguyễn Tuyết Nhi
Trường học Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 341,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không?. Nhằm đảm bảo quyền lợi cho những ngườ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT QUỐC TẾ LỚP QUỐC TẾ 46-A1



BÀI THẢO LUẬN SỐ 5

MÔN: LUẬT DÂN SỰ

THÀNH VIÊN NHÓM 4 LỚP QT46A1

1 Nguyễn Trương Thùy Dương QT46-A1 2153801015051 Nhóm trưởng

2 Nguyễn Huỳnh Trang Anh QT46-A1 2153801015010

4 Ngô Phúc Trường Hải QT46-A1 2153801015066

5 Trần Nguyệt Quế Anh QT46-A1 2153801015018

6 Trần Thái Minh Châu QT46-A1 2153801015032

7 Hoàng Thị Thanh Chúc QT46-A1 2153801015035

9 Lê Nguyễn Tuyết Nhi QT46-A1 2153801015185

Trang 2

MỤC LỤC

DI SẢN THỪA KẾ 4

1 Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 4

2 Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao? 4

3 Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố

có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu cơ sở pháp

lý khi trả lời. 4

4 Trong Bản án số 08, Toà án có coi diện tích đất tăng 85,5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bán án có câu trả lời? 4

5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Tòa án trong Bản án số 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 4

6 Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m2 đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao? 5

7 Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K có được coi là di sản để chia không? Vì sao? 5

8 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K. 5

9 Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng cho tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản để chia

không? Vì sao? 5

10 Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên

là bao nhiêu? Vì sao? 6

11 Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m2 có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?

6

12 Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?

6

Trang 3

QUẢN LÝ TÀI SẢN 7

1 Trong Bản án số 11, Tòa án xác định ai là người có quyền quản lý di sản của ông Ð và bà T; việc xác định như vậy có thuyết phục không, vì sao? 7

2 Trong Bản án số 11, ông Thiện trước khi đi chấp hành án có là người quản lý di sản không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời. 7

3 Trong Bản án số 11, việc Tòa án giao cho anh Hiếu (Tiến H) quyền quản lý di sản có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời. 7

4 Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền tôn tạo, tu sửa lại di sản như trong Bản án số 11 không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời. 8

5 Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền giao lại cho người khác quản lý di sản (như trong Bản án số 11 là ông Thiện giao lại cho con trai) không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời. 8

6 Trong Quyết định số 147, Tòa án xác định người quản lý không có quyền tự thỏa thuận mở lối đi cho người khác qua di sản có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời. 9

THỜI HIỆU TRONG LĨNH VỰC THỪA KẾ 10

1 Cho biết các loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế ở Việt Nam. 10

2 Pháp luật nước ngoài có áp đặt thời hiệu đối với yêu cầu chia di sản không? 10

3 Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là năm nào? Đoạn nào của Quyết định tạo lập thành Án lệ số 26/2018/AL cho câu trả lời? 10

4 Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của Bộ luật Dân sự 2015 cho di sản của cụ T có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao? 11

5 Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của Bộ luật Dân sự 2015 cho di sản của cụ T với thời điểm bắt đầu từ thời điểm Pháp lệnh thừa kế năm 1990 được công bố có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao? 11

6 Suy nghĩ của anh/chị về Án lệ 26/2018/AL nêu trên. 12

NGUỒN THAM KHẢO 12

Trang 4

DI SẢN THỪA KẾ

1 Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Căn cứ theo Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.” Vì vậy, di sản không bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố Trong trường

hợp người có tài sản để lại còn có cả nghĩa vụ về tài sản thì thông thường phần nghĩa

vụ này sẽ được thanh toán bằng tài sản của người chết Phần còn lại sẽ được xác định

là di sản thừa kế và được chia theo di chúc hay theo quy định của pháp luật

2 Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao?

Được chi làm hai trường hợp là di sản được thay thể bởi nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan:

- Nguyên nhân khách quan : những nguyên nhân nằm ngoài dự kiến và con người

không lường trước được thì khi những nguyên nhân khách quan tác động làm cho di sản thừa kế bị hư hỏng thì sẽ được thay thế bằng một tài sản mới Nhằm đảm bảo quyền lợi cho những người thừa kế nên tài sản mới thay thế cho di sản thừa kế đó sẽ được chấp nhận trên cơ sở pháp lí, phần tài sản mới sẽ được phân chia theo quy định của pháp luật

- Nguyên nhân chủ quan : những nguyên nhân được xác định là có sự tác động phần

nào bởi yếu tố con người Trường hợp này sẽ được xác định là thay thế vì mục đích gì Nếu là nhầm để chiếm đoạt toàn bộ di sản thừa kế ban đầu đồng

thời thay thế bởi một tài sản khác thì tài sản mới này sẽ không được coi là di sản thay thế

3 Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Người quá cố cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì khi đấy đất đấy mới thuộc sở hữu của người quá cố Mà căn cứ theo Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì di sản bao gồm tài sản riêng của người chết Vậy nên quyền

sử dụng đất đấy sẽ được xác định là di sản thừa kế

4 Trong Bản án số 08, Toà án có coi diện tích đất tăng 85,5m 2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bán án có câu trả lời?

- Toà án không coi diện tích đất tăng 85,5 m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản

- Trích đoạn Bản án số 08/2020/DSST: “Đối với diện tích đất tăng 85,5 m 2 chưa

được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhận định và lập luận cho rằng không được coi là di sản thừa kế, cần tiếp tục tạm giao cho ông Hoà có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà

nước để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.”

5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Tòa án trong Bản án số

08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trang 5

Theo tôi, hướng xử lý nêu trên của Tòa án trong Bản án số 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hợp lý Giải thích:

- Việc gia đình ông Hòa đã xây dựng ngôi nhà 3 tầng, sân, lán bán hàng trên một phần diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận, việc chiếm hữu này đã ổn định nhiều năm nay nên không thể yêu cầu ông Hòa tháo dỡ Do đó, Tòa án nhận định đây vẫn là tài sản của ông Hòa, bà Mai nhưng đương sự phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước bởi nếu không xác định là di sản thừa kế và phân chia thì sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương

sự

6 Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m 2 đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao?

Phần di sản của ông Phùng Văn N là ½ tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng Giải tích:

- Tổng diện tích đất ban đầu là 398m2 của chung hai vợ chồng nhưng vào năm

1991 bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích 131m2 trong tổng diện tích 398m2 nên phần đất còn lại là 267m2 là tài sản chung của hai vợ chồng hình thành trong thời kì hôn nhân nên di sản của ông Phùng Văn

N là ½ tổng diện tích 267m2

7 Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn

K có được coi là di sản để chia không? Vì sao?

Phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K không được coi là

di sản để chia Giải thích:

- Việc bà G chuyển nhượng đất cho ông K thì các con của bà G đều biết và đều không có ai có ý kiến phản đối và nay ông Phùng Văn K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì vậy, có cơ sở để xác định các con bà Phùng Thị G đã đồng ý để bà Phùng Thị G chuyển nhượng diện tích 131m2 nêu trên cho ông Phùng Văn K Vậy nên việc Toà án cấp phúc thẩm không xác định phần đất

bà G chuyển nhượng cho ông K nằm trong khối tài sản để chia là có căn cứ

8 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan

đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K.

Hướng giải quyết của Toà án cấp phúc thẩm liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K là hợp lí Giải thích:

- Hướng giải quyết như thế mới có thể đảm bảo về quyền lợi của ông K trong giao dịch mua bán dân sự với bà G và nó cũng hợp lí khi phần diện tích đất đó nay đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc về ông K Điều đó có nghĩa

là ông K đã trở thành chủ sở hữu của phần diện tích

đất đấy, vậy nên nó nghiễm nhiên không thể coi là di sản để chia

9 Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng cho tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản

để chia không? Vì sao?

Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng cho tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó vẫn được coi là di sản để

Trang 6

chia Giải thích:

- Vì số tiền đó xuất phát từ việc bà G chuyển nhượng phần đất cho ông K Mà phần đất đó là tài sản chung của ông N và bà G được hình thành trong thời kì hôn nhân Vậy nên khi bán đi phần đất đấy thì số tiền bán được vẫn là tài sản chung của ông N và bà G, nên nó vẫn được coi là di sản để chia khi bà G dùng cho việc cá nhân

10 Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì sao?

Ở thời điểm bà G chết thì di sản của bà G trong diện tích đất là ½ diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng bà (tức là 133,5m2 ) Giải thích:

- 267m2 là diện tích đất chung của vợ chồng bà được hình thành trong thời kì hôn nhân nên bà G chỉ có quyền định đoạt ½ của 267m2 diện tích đất Còn ½ phần đất còn lại thuộc di sản của ông N chồng bà

11 Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m 2 có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không?

Vì sao?

Theo tôi việc Toà án xác định như thế là hợp lí, có tính thuyết phục Giải thích:

- Di sản của bà G sau khi mất là 133,5m2 , nhưng chiếu theo di chúc thì nguyện vọng của bà G sau khi mất là chia cho chị Phùng Thị H1 (con gái bà) 90m2 thuộc phần

di sản của bà Nên sau khi chia cho chị H1 thì phần còn lại của di sản của bà G chỉ còn

là 43,5m2

12 Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m 2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại”

có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?

Theo tôi việc Toà án xác định như thế là thuyết phục Giải thích:

- Sau khi bà G mất thì di sản của bà sẽ được phân chia theo di chúc hoặc theo quy

định của pháp luật Thì theo di chúc bà đã để lại 90m2 thuộc phần di sản của bà cho chị H1, nên phần đất còn lại là 43,5m2 sẽ được chia đều cho ba mẹ và các con còn lại của bà Tuy nhiên ba mẹ của bà G đã mất trước đó nên di sản còn lại của bà G sẽ được chia đều làm 5 kỷ phần cho 5 người con còn lại của bà là điều hợp lí

6

Trang 7

QUẢN LÝ TÀI SẢN

1 Trong Bản án số 11, Tòa án xác định ai là người có quyền quản lý di sản của ông Ð và bà T; việc xác định như vậy có thuyết phục không, vì sao?

Trong Bản án số 11/2020/DS-PT, Tòa án xác định ông Phạm Tiến H tức

nguyên đơn là người có quyền quản lý di sản của ông Đ và bà T

Tòa án xác định như vậy là thuyết phục Giải thích:

- Nhận thấy, ông Đ, bà T trước khi chết không để lại di chúc, căn cứ tại Điều 616

của Bộ luật Dân sự năm 2015: “Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di

chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra”, thì việc quản lý di sản của ông

Thiện không có sự nhất trí bằng văn bản của các đồng thừa kế, ông Thiện không có quyền giao lại cho con trai là Phạm Tiến N trông coi, sử dụng di sản của ông Đ, bà T Do đó, giấy ủy quyền cho con trai Phạm Tiến N đề ngày 15/8/2013 của ông Phạm Tiến T không

có giá trị pháp lý; không phải là cơ sở để phát sinh quyền quản lý di sản của anh Phạm Tiến N đối với di sản của

ông Đ bà T

- Kể từ thời điểm năm 2013, anh Nghĩa có qua lại trông coi, nhưng không ở trực tiếp tại nhà và đất của ông bà Đ, T mà ở một vị trí đất khác; bà Phạm Thị H (con gái của ông Đ, bà T) ở liền kề và trông coi khối di sản này Do đó, có căn cứ xác định từ năm 2012 đến nay, di sản của ông Đ, bà T chưa giao cho ai quản lý

- Ngoài ông Thiện, những người còn lại ở hàng thừa kế thứ nhất (ông bà Hiệu, Liền, Nhi, Nhường, Hoài, Hài đều có đủ năng lực hành vi dân sự; quyết định dựa trên

cơ sở hoàn toàn tự nguyện; không bị lừa dối, ép buộc; không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội) đều nhất trí giao cho anh Phạm Tiến H quản lý khối di sản của ông Đ, bà T

2 Trong Bản án số 11, ông Thiện trước khi đi chấp hành án có là người quản

lý di sản không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Trong Bản án số 11/2020/DS-PT, ông Thiện trước khi đi chấp hành án

không phải là người quản lý di sản Giải thích:

- Ông Đ, bà T trước khi chết không để lại di chúc giao cho con cái nào trong gia

đình được sử dụng, quản lý ngôi nhà và diện tích đất nói trên Căn cứ tại khoản

1 Điều 616 của Bộ luật Dân sự năm 2015: “Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra.”

- Đồng thời, việc quản lý di sản của ông Thiện không có sự nhất trí bằng văn bản

của các đồng thừa kế Căn cứ tại, khoản 2 Điều 616 của Bộ luật Dân sự năm

2015: “Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người

thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng,

quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản.”

3 Trong Bản án số 11, việc Tòa án giao cho anh Hiếu (Tiến H) quyền quản lý

di sản có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Trong Bản án số 11/2020/DS-PT, việc Tòa án giao cho anh Hiếu (Tiến H) quyền quản lý di sản là thuyết phục Giải thích:

Trang 8

- Sau khi anh Phạm Tiến H chấp hành án trở về, ngoài ông Thiện; những người còn lại ở hàng thừa kế thứ nhất (ông bà Hiệu, Liền, Nhi, Nhường, Hoài, Hài đều có đủ năng lực hành vi dân sự; quyết định dựa trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện; không bị lừa dối, ép buộc; không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội) đều nhất trí giao cho anh Phạm Tiến H quản lý khối di sản của ông Đ, bà T

- Căn cứ tại, khoản 2 Điều 616 của Bộ luật Dân sự năm: “Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản.”

- Đồng thời, giấy uỷ quyền cho anh Phạm Tiến N của ông Phạm Tiến T về việc quản lý ngồi nhà cũng không có giá trị pháp lý (đã giải thích ở trên)

4 Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền tôn tạo, tu sửa lại di sản như trong Bản án số 11 không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền tôn tạo, tu sửa lại di sản như trong Bản án số 11/2020/DS-PT

- Căn cứ tại điểm a khoản 2 Điều 618 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền của người quản lý di sản được quy định tại khoản 2 Điều 616 thì người đó được tiếp tục sử dụng di sản dưới sự đồng ý của những người thừa kế; ngoài ra còn được thanh toán chi phí bảo quản di sản, được hưởng thù lao theo thoải thuận với những người thừa kế

- Tuy nhiên tại khoản 2 Điều 640 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về quyền của

người quản lý di sản được quy định tại khoản 2 Điều 638 thì người đó không được thanh toán chi phí bảo quản di sản

5 Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền giao lại cho người khác quản lý di sản (như trong Bản án số 11 là ông Thiện giao lại cho con trai) không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản không có quyền giao lại cho người khác quản lý di sản (như trong Bản án số 11 là ông Thiện giao lại cho con trai)

- Căn cứ tại Điểm a khoản 2 Điều 617 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa

vụ của người quản lý di sản quy định tại Khoản 2 Điều 616 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì người đó không có quyền định đoạt tài sản bằng hình thức khác (Trong

đó “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền

sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản.” Theo quy định tại Điều 192 Bộ luật

Dân sự năm 2015)

- Tuy nhiên tại điểm a khoản 2 Điều 639 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về quyền của người quản lý di sản được quy định tại khoản 2 Điều 638 thì có điểm khác ở cách dùng từ ngữ Cụ thể, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 639 Bộ luật Dân sự năm

2005: “… không được … thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác;” Còn theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 617 Bộ luật Dân sự năm 2015: “…không được …

thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác” Việc sử dụng từ và ở Bộ luật Dân

sự năm 2005 có thể hiểu theo

8

Trang 9

hướng người quản lý di sản này không được thực hiện việc định đoạt gắn liền với việc thế chấp

6 Trong Quyết định số 147, Tòa án xác định người quản lý không có quyền

tự thỏa thuận mở lối đi cho người khác qua di sản có thuyết phục không? Nêu cơ

sở pháp lý khi trả lời.

Trong Quyết định số 147/2020/DS-GĐT, Tòa án xác định người quản lý không

có quyền tự thỏa thuận mở lối đi cho người khác qua di sản là thuyết phục Giải thích:

- Theo nhận định Toà án, ông Nhỏ chỉ là người quản lý di sản của ông Ngót và phần diện tích đất thuộc quyền sử dụng của bà Chơi, chứ không có quyền định đoạt vì không có sự đồng ý của bà Chơi cùng các đồng thừa kế thứ nhất của ông Ngót

- Căn cứ tại điểm b khoản 1 Điều 617 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác, nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản.”

- Tuy nhiên tại điểm a khoản 2 Điều 639 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về quyền của người quản lý di sản được quy định tại khoản 2 Điều 638 thì có điểm khác

ở cách dùng từ ngữ Cụ thể, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 639 Bộ luật Dân sự

năm 2005: “… không được … thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác;” Còn theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 617 Bộ luật Dân sự năm 2015:

“…không được … thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác” Việc sử dụng từ và ở Bộ luật Dân sự năm 2005 có thể hiểu theo hướng người quản lý di sản

này không được thực hiện việc định đoạt gắn liền với việc thế chấp

9

Trang 10

THỜI HIỆU TRONG LĨNH VỰC THỪA KẾ

1 Cho biết các loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế ở Việt Nam Có 03 loại

thời hiệu:

Thời hiệu chia di sản:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 của Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời hiệu thừa kế:

“Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó Trường hợp không có người thừa kế quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm

a khoản này”

Thời hiệu yêu cầu xác nhận quyền thừa kế hoặc phản đối quyền thừa kế của người khác:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 623 của Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời hiệu thừa kế:

“Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.”

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 623 của Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời hiệu thừa kế:

“Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết

để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”.

2 Pháp luật nước ngoài có áp đặt thời hiệu đối với yêu cầu chia di sản không?

Pháp luật nước ngoài không quy định về thời hiệu với yêu cầu chia di sản

- Ví dụ : Pháp luật dân sự Pháp về phân chia tài sản chung thì về nguyên tắc

không thể buộc chủ sở hữu chung phải đặt tài sản của mình trong tình trạng không thể phân chia, do họ đã không yêu cầu phân chia trong một thời hạn nào đó Theo quy

định tại Điều 815 Bộ luật Dân sự Pháp: “Không ai có thể bị buộc phải chấp nhận trong tình trạng di sản chưa chia và bất cứ lúc nào cũng có thể yêu cầu chia di sản trừ trường hợp việc này được tạm hoãn theo bản án hoặc theo thỏa thuận”.

3 Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là năm nào? Đoạn nào của Quyết định tạo lập thành Án lệ số 26/2018/AL cho câu trả lời?

- Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là ngày công bố Pháp lệnh thừa

kế 30-8-1990 (tức ngày 10-9-1990)

Ngày đăng: 01/12/2022, 09:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w