Vì căn cứ theo quyết định của Toà án thì ông Thơ là người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật.. Pháp luật hiện hành có quy định, căn cứ theo Điều 167 Bộ lu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ LỚP QUỐC TẾ 46-A1
BÀI THẢO LUẬN SỐ 5 MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN
VÀ THỪA KẾ THÀNH VIÊN NHÓM 4 LỚP QT46A1
Trang 27 Hoàng Thị Thanh Chúc QT46-A1 2153801015035
Trang 3MỤC LỤC VẤN ĐỀ 1: ĐÒI ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BA 4
1 Trâu là động sản hay bất động sản? Vì sao? 4
2 Trâu có là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu không? Vì sao? 4
3 Đoạn nào của Quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Tài? 4
4 Thế nào là chiếm hữu tài sản và ai đang chiếm hữu trâu trong hoàn cảnh có tranh chấp trên?
4
5 Việc chiếm hữu như trong hoàn cảnh của ông Dòn có căn cứ pháp luật không? Vì sao? 4
6 Thế nào là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời. 5
7 Người như hoàn cảnh của ông Dòn có là người chiếm hữu ngay tình không? Vì sao? 5
8 Thế nào là hợp đồng có đền bù và không có đền bù theo quy định về đòi tài sản trong Bộ luật Dân sự? 5
9 Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù hay không có đền bù? Vì sao? 5
10 Trâu có tranh chấp có phải bị lấy cắp, bị mất hay bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài không? 5
11 Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài được đòi trâu từ ông Dòn không? Đoạn
nào của Quyết định cho câu trả lời? 5
12 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao 6
13 Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì pháp luật hiện hành có quy định nào bảo
vệ ông Tài không? 6
14 Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Tòa án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ai trả giá trị con trâu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời? 6
15 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao 6
VẤN ĐỀ 2: ĐÒI BẤT ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BA 7
Tóm tắt Quyết định số 07/2018/DS-GĐT ngày 09/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: 7
1 Đoạn nào của Quyết định giám đốc thẩm cho thấy quyền sử dụng đất có tranh chấp thuộc
bà X và đã được bà N chuyển giao cho người thứ ba ngay tình? 7
2 Theo quy định (trong Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015), chủ sở hữu bất động sản được bảo vệ như thế nào khi tài sản của họ được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình? 8
3 Để bảo vệ bà X, theo Toà án nhân dân tối cao, Toà án phải xác định trách nhiệm của bà N như thế nào đối với bà X? 9
4 Hướng của Toà án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên đã được quy định trong Bộ luật Dân sự chưa?
9
Trang 45 Theo anh/chị, hướng giải quyết của Toà án nhân dân tối cao (trong câu hỏi trên) có thuyết phục không? Vì sao? 10
1 Đoạn nào của Quyết định số 23 cho thấy ông Hậu đã lấn sang đất thuộc quyền sử dụng của
ông Trê, bà Thi và phần lấn cụ thể là bao nhiêu? 11
2 Đoạn nào của Quyết định số 617 cho thấy gia đình ông Hòa đã lấn sang đất (không gian, mặt đất, lòng đất) thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trụ, bà Nguyên? 11
3 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định nào điều chỉnh việc lấn chiếm đất, lòng đất và không
gian thuộc quyền sử dụng của người khác không? 11
4 Ở nước ngoài, việc lấn chiếm như trên được xử lý như thế nào? 12
5 Đoạn nào của Quyết định số 617 cho thấy Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao theo hướng buộc gia đình ông Hòa tháo dỡ tài sản thuộc phần lấn sang không gian, mặt đất và lòng đất
của gia đình ông Trụ, bà Nguyên? 13
6 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao 13
7 Đoạn nào của Quyết định số 23 cho thấy Tòa án không buộc ông Hậu tháo dỡ nhà đã được
xây dựng trên đất lấn chiếm (52,2m2)? 14
8 Ông Trê, bà Thi có biết và phản đối ông Hậu xây dựng nhà trên không? 14
9 Nếu ông Trê, bà Thi biết và phản đối ông Hậu xây dựng nhà trên thì ông Hậu có phải tháo
dỡ nhà để trả lại đất cho ông Trê, bà Thi không? Vì sao? 14
10 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến phần đất ông Hậu
lấn chiếm và xây nhà trên. 15
11 Theo Tòa án, phần đất ông Hậu xây dựng không phải hoàn trả cho ông Trường, bà Thoa được xử lý như thế nào? Đoạn nào của Quyết định số 23 cho câu trả lời? 15
12 Đã có quyết định nào của Hội đồng thẩm phán theo hướng giải quyết như Quyết định số
23 liên quan đến đất bị lấn chiếm và xây dựng nhà không? Nêu rõ Quyết định mà anh/chị biết
15
13 Anh/chị có suy nghĩ gì về hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phán trong Quyết định số 23 được bình luận ở đây? 16
14 Đối với phần chiếm không gian 10,71m2 và căn nhà phụ có diện tích 18,57m2 trên đất lấn
chiếm, Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm có buộc tháo dỡ không? 16
15 Theo anh/chị thì nên xử lý phần lấn chiếm không gian 10,71m2 và căn nhà phụ trên như thế nào? 17
16 Suy nghĩ của anh/chị về xử lý việc lấn chiếm quyền sử dụng đất và không gian ở Việt Nam hiện nay 17
17 Hướng giải quyết trên của Tòa án trong Quyết định số 23 có còn phù hợp với Bộ luật Dân
sự năm 2015 không ? Vì sao? 18
NGUỒN THAM KHẢO: 19
Trang 5VẤN ĐỀ 1 ĐÒI ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BA
1 Trâu là động sản hay bất động sản? Vì sao?
Căn cứ vào khoản 2 Điều 107 Bộ luật Dân sự năm 2015 (khoản 2 Điều 174 Bộ luật Dân
sự năm 2005) quy định: “Động sản là những tài sản không phải là bất động sản ” Như vậy trâu
là đồ vật tự di chuyển được, không gắn cố định với các bất động sản và cũng không nằm trong danh sách tiêu chí của bất động sản Do đó có thể đưa ra kết luận trâu là động sản
2 Trâu có là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu không? Vì sao?
Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 167 Bộ luật Dân sự
năm 2005) quy định: “Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác ” Do đó, trâu không
phải là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, cũng như không phải là động sản nằm trong danh sách những động sản phải đăng ký quyền sở hữu
3 Đoạn nào của Quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của
ông Tài?
Trích đoạn Quyết định số 123/2006/DS-GĐT ngày 30/05/2006 của Tòa dân sự Tòa
án nhân dân tối cao:
“Căn cứ vào lời khai của ông Triệu Tiến Tài (BL 06, 07, 08) lời khai của các nhân
chứng là anh Phúc (BL 19), anh Chu (BL 20), anh Bảo (BL 22) và kết quả giám định con trâu đang tranh chấp (biên bản giám định ngày 16-8-2004, biên bản xác minh của cơ quan chuyên môn về vật nuôi ngày 17-8-2004, biên bản diễn giải biên bản kết quả giám định trâu ngày 20-8-2004), (BL 40, 41, 41a, 42) thì có đủ cơ sở xác định con trâu cái màu đen 4 năm 9 tháng tuổi mới sấn mũi lần đầu và con nghé đực khoảng 9 tháng tuổi mới sấn mũi lần đầu và con nghé đực khoảng 3 tháng tuổi là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Triệu Tiến Tài.”
tranh chấp trên?
Căn cứ vào Điều 182 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về quyền chiếm hữu:
“Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản”.
Căn cứ vào Điều 179 Bộ luật Dân sự năm 2015:
“1 Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián
tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản.
2 Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu.”
→ Ông Nguyễn Văn Dòn là người đang chiếm hữu trâu trong hoàn cảnh có tranh chấp
trên
5 Việc chiếm hữu như trong hoàn cảnh của ông Dòn có căn cứ pháp luật không?
Vì sao?
Việc chiếm hữu như trong hoàn cảnh của ông Dòn là không có căn cứ pháp luật Vì căn cứ theo quyết định của Toà án thì ông Thơ là người chiếm hữu, sử dụng tài sản không
có căn cứ pháp luật Ông Thơ không được chủ sở hữu là ông Triệu Tấn Tài ủy quyền quản lý, sử dụng tài sản (Điều 187 Bộ luật Dân sự năm 2015) Do đó, việc ông Thơ chuyển quyền quản lý con trâu cái cho ông Dòn là không hề có căn cứ theo quy định của Pháp luật
Trang 66 Thế nào là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Căn cứ theo Điều 189 Bộ luật Dân sự năm 2005, quy định về chiếm hữu không có căn
cứ pháp luật nhưng ngay tình: “Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại Điều
183 của Bộ luật này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật Người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là người chiếm hữu mà không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật.”
7 Người như hoàn cảnh của ông Dòn có là người chiếm hữu ngay tình không? Vì
sao?
Người như hoàn cảnh của ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình Vì căn cứ theo lời khai của bị đơn Hà Văn Thơ thì ông đã bán trâu mẹ cho ông Thi được 3.800.000đ, sau đó ông Thi đổi cho ông Dòn lấy con trâu cái sổi Do đó, giao dịch giữa ông Thi và ông Dòn là một giao dịch dân sự Vậy nên, căn cứ theo Điều 180 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì ông Dòn
có căn cứ pháp luật để cho rằng mình có quyền đối với tài sản là con trâu đang chiếm hữu
sản trong Bộ luật Dân sự?
Hợp đồng có đền bù: là loại hợp đồng mà mỗi bên thực hiện cho bên kia một lợi ích
thì sẽ nhận lại được lợi ích tương ứng Lợi ích ở đây không đồng nghĩa với lợi ích ngang hàng vì các bên dành cho nhau không phải lúc nào cùng một tính chất hay cùng loại
Hợp đồng không có đền bù: là hợp đồng mà một bên nhận được lợi ích từ bên kia
chuyển giao nhưng không cần phải chuyển giao lại bất kỳ lợi ích nào
9 Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù hay không có đền bù?
Vì sao?
Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù Vì giữa ông Dòn và ông Thi đã xác lập nên giao dịch trao đổi cụ thể là ông Thi đổi cho ông Dòn lấy con trâu cái sổi Thì đây là giao dịch mà mỗi bên thực hiện cho bên kia một lợi ích thì sẽ nhận lại được lợi ích tương ứng Vậy nên đây là giao dịch có đền bù
của ông Tài không?
Trâu có tranh chấp là bị lấy cắp, bị mất hay bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài Vì theo như lời khai của ông Tài thì tuy trâu ông thả rông trên bãi ruộng mèo nhưng hàng tháng ông vẫn lên xem điều đó cho thấy ông không bỏ quyền sở hữu con trâu và trong khoảng thời gian ấy ông Tài cũng không xác lập bất kì giao dịch mua bán, tặng cho nào Vì vậy, khi ông Thơ dắt con trâu và nghé qua nhà ông Tài, thì lúc này ông Tài mới nhận ra con trâu và nghé của mình, ông cũng đã nói với ông Thơ nhưng ông Thơ lại phủ nhận điều đó và cho rằng đây là con trâu mình mua được từ ông Phùng Văn Tài Vậy nên trâu có tranh chấp là bị lấy cắp, bị mất hay bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài
không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài được đòi trâu từ ông Dòn
Trích đoạn Quyết định số 123/2006/DS-GĐT ngày 30/05/2006 của Tòa dân sự Tòa
án nhân dân tối cao:
Trang 7“Toà án cấp phúc thẩm nhận định con trâu mẹ và con nghé con là của ông Tài là đúng
nhưng lại cho rằng con trâu cái đang do ông Nguyễn Văn Dòn quản lí nên ông Tài phải khợi kiện đòi ông Dòn và quyết định chỉ buộc ông Thơ phải trả lại trị giá con nghé là 900.000đ, bác yêu cầu của ông Tài đòi ông Thơ phải trả lại con trâu mẹ là không đúng pháp luật.”
dân tối cao.
Theo tôi, hướng giải quyết trên của Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao là chưa hợp lí Vì ngay từ ban đầu ông Thơ là người chiếm hữu tài sản của ông Tài không có căn cứ pháp luật và cũng không ngay tình Sau khi ông Thơ bán con trâu không thuộc quyền sở hữu của mình cho ông Thi thì ông Thi đã xác lập giao dịch trao đổi với ông Dòn để lấy con trâu cái sổi Như đã nói trên thì ông Dòn có đủ căn cứ pháp luật xác lập để chứng minh quyền chiếm hữu ngay tình của bản thân đối với con trâu Vậy nên, người phải chịu hoàn toàn trách nhiệm dân sự về bồi thường giá trị của con trâu, con nghé và tiền lệ phí trong trường hợp này phải là ông Thơ
định nào bảo vệ ông Tài không?
Pháp luật hiện hành có quy định, căn cứ theo Điều 167 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy
định: “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người
chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.”
Tài được quyền yêu cầu ai trả giá trị con trâu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Toà án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ông Thơ trả lại giá trị con trâu
Trích đoạn Quyết định số 123/2006/DS-GĐT ngày 30/05/2006 của Tòa dân sự Tòa
án nhân dân tối cao:
“Tại Quyết định kháng số 46/2006/ KN- DS ngày 28-3-2006, Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao đã kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 25/DS ngày 22-10-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai với lý do Tòa án cấp sơ thẩm xác định con trâu và con nghé đang tranh chấp là của ông Tài, từ đó buộc ông Thơ bồi thường giá trị con trâu và con nghé cho ông Tài là đúng.”
dân tối cao.
Theo tôi, hướng giải quyết trên của Toà dân sự Toàn án nhân dân tối cao là hợp lí Vì việc ra quyết định buộc ông Thơ phải bồi thường thiệt hại về giá trị con nghé, con trâu cho ông Tài và án phí là đúng đắn Như thế có thể đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu hợp pháp là ông Tài cũng như buộc tội đúng hành vi chiếm đoạt tài sản bất hợp pháp của ông Thơ khi đã gây nên thiệt hại cho cả ông Tài, ông Thi và ông Dòn
Trang 8VẤN ĐỀ 2 ĐÒI BẤT ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BA
Tóm tắt Quyết định số 07/2018/DS-GĐT ngày 09/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
Nguyên đơn là bà Trần Thị X (đã chết) yêu cầu bà N trả nhà số 2/15 (số mới là 46)
và toàn bộ 1.518,86m2 đất, thuộc thửa 73, tờ bản đồ số 27
Đất tranh chấp là của cụ M – mẹ bà T mua của giáo xứ năm 1971 Năm 1983, cụ M xuất cảnh nên nhượng lại cho bà T, ngày 25/10/1983 bà T được cấp giấy chứng nhận sở hữu nhà Năm 1989, bà T xuất cảnh sang Pháp phải cam kết không còn tài sản ở Việt Nam nên nhờ bà X là bạn đứng tên hộ nhà đất dưới hình thức chuyển nhượng, bà X đã được cấp giấy chứng nhận sở hữu nhà Bà T đồng ý cho bà X và các thừa kế của bà X toàn bộ tài sản tranh chấp trên
Năm 1991, do ông Nguyễn Văn V (là chồng của bà X) giới thiệu nên gia đình bà đến
ở nhà đất đang tranh chấp Lúc đó, nhà đất bỏ hoang, bà đã dọn cỏ, cải tạo đất và trồng cây Hiện nay nhà chỉ còn tường, bà không sửa chữa gì Bà không biết bà X có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà.Từ năm 1992, bà kê khai và nộp thuế cho Nhà nước Năm 2003, Nhà nước mở đường thu hồi một phần, bà nhận tiền đền bù, không ai tranh chấp Sau này, bà N chuyển nhượng cho vợ chồng ông M, bà Q một phần đất, phần còn lại tặng cho con gái là chị L; chị L lại chuyển nhượng một phần đất cho ông Đ và bà Thu T
Tòa án nhân dân tối cao quyết định chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 73/2017/KN-DS ngày 25/09/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 91/2016/DS-PT và Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2015/DS-ST
và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử lại
tranh chấp thuộc bà X và đã được bà N chuyển giao cho người thứ ba ngay tình?
Trích đoạn Quyết định số 07/2018/DS-GĐT ngày 09/05/2018 của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao:
“Như vậy, căn cứ vào nội dung trình bày của bà Tvà các giấy tờ có liên quan thì toàn bộ diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà X.”.
→ Quyền sử dụng đất có tranh chấp thuộc bà X
Trích đoạn Quyết định số 07/2018/DS-GĐT ngày 09/05/2018 của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao:
“Trên cơ sở Bản án dân sự phúc thẩm số 123/2009/DS-PT ngày 23/10/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có hiệu lực pháp luật, ngày 24/4/2010 bà N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.240,8m 2 Sau đó, ngày 19/8/2010, bà N chuyển nhượng cho ông M1 diện tích 323,2m 2 (đo thực tế 313,6m 2 ), ngày 01/10/2010 ông M1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông M1 đã xây dựng nhà 4 tầng trên đất Diện tích đất còn lại 917,6m 2 , ngày 21/10/2011, bà N tặng cho con gái là chị Nguyễn Vi L Sau đó, chị L chuyển nhượng 173,1m 2 (đo thực tế 170,9m 2 ) đất cho ông Lăng Đào Minh Đ và bà Trần Thu T2; ông Đ, bà T1 đã nhận đất sử dụng và được cấp giấy chứng nhận ngày 24/7/2012 Diện tích đất còn lại của chị L đo thực tế là 744m 2 Việc chuyển nhượng và tặng cho nêu trên đã hoàn thành trước khi có Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 410/2012/KN-DS ngày 24/9/2012 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Quyết định giám
Trang 9đốc thẩm số 55/2013/DS-GĐT ngày 30/01/2013 của Toà án nhân dân tối cao hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 123/2009/DS-PT ngày 23/10/2009 nêu trên Căn cứ quy định tạikhoản 2 Điều 138 và Điều 258 Bộ luật dân sự 2005 thì các giao dịch chuyển nhượng và tặng cho đất của ông M1, bà Q, chị L, ông Đ, bà T2 là các giao dịch của người thứ ba ngay tình được pháp luật bảo vệ.”
→ Quyền sử dụng đất có tranh chấp thuộc bà X và đã được bà N chuyển giao cho người thứ ba ngay tình.
chủ sở hữu bất động sản được bảo vệ như thế nào khi tài sản của họ được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình?
Trong Bộ luật Dân sự năm 2005, việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình được quy định tại Điều 138 và Điều 258, trong đó:
- Theo quy định tại Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2005 về Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu:
“1 Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 257 của Bộ luật này.
2 Trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.”
- Theo quy định tại Điều 258 Bộ luật Dân sự năm 2005 về Quyền đòi lại động sản phải
đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình: “Chủ sở hữu có quyền
đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có
đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.”
Trong Bộ luật Dân sự năm 2015, việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình được quy định tại Điều 133 và Điều 168, trong đó:
- Theo quy định tại Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015 về Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu:
“1 Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 167 của
Bộ luật này.
2 Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.
Trang 10Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.
3 Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ
ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.”
- Theo quy định tại Điều 168 về Quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu
hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình: “Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải
đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật này.”
nhiệm của bà N như thế nào đối với bà X?
Để bảo vệ bà X, theo Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án phải xác định trách nhiệm của
bà N đối với bà X:
- Tòa án buộc bà N trả bằng giá trị quyền sử dụng dụng diện tích 914m2 đất cho nguyên
đơn là bà X
- Tòa án cấp phúc thẩm công nhận cho ông M được quyền sử dụng 313,6m2 nhưng buộc ông M phải trả cho bà X giá trị đất 1.254.400.000 đồng là không có cơ sở, gây thiệt hại cho quyền lợi của ông M Lẽ ra, Tòa án phải buộc bà N trả cho nguyên đơn là bà X giá trị đất 1.254.400.000 đồng mới phù hợp
trong Bộ luật Dân sự chưa?
Hướng của Tòa án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên đã được quy định trong Bộ luật
Dân sự Cụ thể:
- Theo quy định tại Điều 256 Bộ luật Dân sự năm 2005 về quyền đòi lại tài sản:
“Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng
tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này Trong trường hợp tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì áp dụng Điều 257 và Điều 258 của Bộ luật này.”
- Theo quy định tại Điều 16 Bộ luật Dân sự năm 2015 về biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản:
“1 Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật.
2 Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.”
- Theo quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015 về quyền đòi lại tài sản: