1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) bài tập TUẦN môn những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế (buổi thảo luận thứ năm)

26 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế (buổi thảo luận thứ năm)
Tác giả Nhóm 1
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Bài tập
Năm xuất bản 2021-2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 72,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể là trong Thông tư 81/TANDTC ngày 24-7-1981 đã hủy bỏ quy định rằng: “Di sản thừa kế bao gồm : Các tài sản thuộc quyền sở hữu của người để thừa kế ...; các quyền về tài sản ...; Cá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI



BÀI TẬP TUẦN Môn : Những quy định chung về Luật Dân

sự, Tài sản và Thừa kế

(Buổi thảo luận thứ năm)

Lớp: 126 - TM46B1 Nhóm thảo luận : Nhóm 1

Trang 2

MỤC LỤC

VẤN ĐỀ 1: DI SẢN THỪA KẾ 1

Tóm tắt bản án số 08/2020/DSST ngày 28/08/2020 về vụ việc “Tranh chấp thừa kế tài sản” của TAND thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc: 1 Tóm tắt Án lệ số 16/2017/AL: 1

1.1 Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không ? Nêu cơ sở pháp lýkhi trả lời 21.2 Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sảnmới sau đó thì tài sản mới có là di sản không ? Vì sao ? 31.3 Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố

có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không ? Nêu cơ sở pháp lýkhi trả lời 41.4 Trong Bản án số 08, Tòa án có coi diện tích đất tăng 85,5m2 chưa được cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bản án có câu trả lời 41.5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Tòa án trong Bản án số 08 và diện

tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 51.6 Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m2 đất, phần di sản của Phùng Văn N làbao nhiêu ? Vì sao ? 61.7 Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K cóđược coi là di sản để chia không? Vì sao? 61.8 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diệntích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K 71.9 Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng cho tiền

đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản để chia không? Vì sao?7

1.10 Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đấttrên là bao nhiêu? Vì sao? 81.11 Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m2 cóthuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao? 81.12 Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” cóthuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao? 9

VẤN ĐỀ 2: QUẢN LÝ DI SẢN 9

Tóm tắt Bản án số 11/2020/DS-PT ngày 10/6/2020 về việc “Tranh chấp quyền quản lý di sản thừa kế” của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La 9

Trang 3

2.1 Trong Bản án số 11, Tòa án xác định ai là người có quyền quản lý di sản của ông Đ

và bà T; việc xác định như vậy có thuyết phục ko, vì sao? 10

2.2 Trong Bản án số 11, ông Thiện trước khi chấp hành án có là người quản lý di sản không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 10

2.3 Trong Bản án số 11, việc Tòa án giao cho anh Hiệu (Tiến H) quyền quản lý di sản có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 11

2.4 Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền tôn tạo, tu sửa lại di sản như trong Bản án số 11 không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 11

2.5 Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền giao lại cho người khác quản lý di sản (như trong Bản án số 11 là ông Thiện giao lại cho con trai) không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 12

2.6 Trong Quyết định số 147, Tòa án xác định người quản lý không có quyền tự thỏa thuận mở lối đi cho người khác qua di sản có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 13

VẤN ĐỀ 3: THỜI HIỆU TRONG LĨNH VỰC THỪA KẾ 14

Tóm tắt Án lệ số 26/2018/AL: 14

3.1 Cho biết các loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế ở Việt Nam 14

3.2 Pháp luật nước ngoài có áp đặt thời hiệu đối với yêu cầu chia di sản không? 15

3.3 Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là năm nào? Đoạn nào của Quyết định tạo lập thành Án lệ số 26/2018/AL cho câu trả lời? 15

3.4 Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của Bộ luật dân sự 2015 cho di sản của cụ T có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao? 16

3.5 Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của Bộ luật dân sự 2015 cho di sản của cụ T với thời điểm bắt đầu từ thời điểm Pháp lệnh thừa kế năm 1990 được công bố có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao? 17

3.6 Suy nghĩ của anh/chị về Án lệ số 26/2018/AL nêu trên 17

VẤN ĐỀ SỐ 4: TÌM TÀI LIỆU 18

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 4

hộ ông Hòa sử dụng ổn định, ranh giới các hộ xung quanh đều rõ ràng và không có tranhchấp, không thuộc diện phải quy hoạch di dời) Năm 2010 ông Hòa và bà Mai cho anh TạXuân Trinh thuê gian bán hàng giáp với phần đất của hộ ông Thuỷ và bà Hạnh Tiền thuênhà do bà Mai nhận Năm 2017, bà Mai chết, anh Trinh giao tiền cho chị Hương là con của

bà Mai Anh Nam, chị Hương yêu cầu tòa xác định diện tích đất 85,5m2 là tài sản chung củagia đình nhưng không được HĐXX chấp thuận Đối với diện tích đất tăng 85,5m2 chưa đượccấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, HĐXX xét thấy đây vẫn là tài sản của ông Hòa, bàMai, chỉ có điều dương sự phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước Tài sản được hìnhthành trong thời gian hôn nhân nên được chia đôi cho ông Hòa, bà Mai Do trước khi chết bàMai không để lại di chúc nên di sản của bà Mai chia cho mỗi người được hưởng 1/3 di sảnthừa kế của bà Mai Diện tích đất 38,4m2 và 47,1m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất thì ông Hòa và anh Nam sau khi đã thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước sẽliên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đề nghị cấp giấy chứng nhận

Tóm tắt Án lệ số 16/2017/AL:

Năm 1991, bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích 131m2trong tổng diện tích 398m2 của thửa đất trên; phần diện tích đất còn lại của thửa đất là267,4m2 Năm 1999 bà Phùng Thị G đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diệntích 267,4m2, bà Phùng Thị G cùng vợ chồng anh Phùng Văn T vẫn quản lý sử dụng nhà đất

1

Trang 5

này Việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất cho ông Phùng Văn K các con bà Phùng Thị

G đều biết, nhưng không ai có ý kiến phản đối gì, các con của bà Phùng Thị G có lời khai bàPhùng Thị G bán đất để lo cuộc sống của bà và các con Nay ông Phùng Văn K cũng đãđược cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì vậy, có cơ sở để xácđịnh các con bà Phùng Thị G đã đồng ý để bà Phùng Thị G chuyển nhượng diện tích 131m2nêu trên cho ông Phùng Văn K Tòa án cấp phúc thẩm không đưa diện tích đất bà Phùng Thị

G đã bán cho ông Phùng Văn K vào khối tài sản để chia là có căn cứ Tòa án cấp sơ thẩmxác định di sản là tổng diện tích đất 398m2 (bao gồm cả phần đất đã bán cho ông Phùng VănK) để chia là không đúng

1.1 Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không ? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Cho tới thời điểm hiện tại thì pháp luật chưa có quy định nào định nghĩa di sản là gì mà

chỉ nêu di sản gồm những gì Theo Điều 612 BLDS 2015 thì : “Di sản bao gồm tài sản

riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.”

Về vấn đề nghĩa vụ của người quá cố có phải là một phần của di sản hay không thì

quan điểm của các nhà làm luật trước đây cho rằng là có Cụ thể là trong Thông tư

81/TANDTC ngày 24-7-1981 (đã hủy bỏ) quy định rằng: “Di sản thừa kế bao gồm : Các tài sản thuộc quyền sở hữu của người để thừa kế ( ); các quyền về tài sản ( ); Các nghĩa vụ

về tài sản của người để thừa kế phát sinh do quan hệ hợp đồng, do việc gây thiệt hại hoặc

do quyết định của cơ quan có thẩm quyền.” Ngoài ra, Thông tư số 594/NCPL ngày

27-8-1968 (đã hủy bỏ) cũng nêu rằng : “Di sản thừa kế bao gồm không những quyền sở hữu cánhân về những tài sản mà người mất đó để lại, mà còn gồm cả những quyền tài sản và nghĩa

vụ tài sản phát sinh do quan hệ phát sinh do quan hệ hợp đồng hoặc do việc thiệt hại màngười chết để lại.” Như vậy, theo các thông tư trên thì di sản có bao gồm cả nghĩa vụ củangười quá cố

Trong quá trình sửa đổi BLDS 2015, quan điểm nghĩa vụ của người quá cố không nằm

trong di sản được đa số các nhà khoa học pháp lý đồng ý Điều này thể hiện trong Điều 612

BLDS 2015 (đã nêu trên) Theo đó, từ Điều 659 đến Điều 662 trong BLDS 2015 thì có thểhiểu rằng trước khi chia di sản, những người thừa kế phải thanh toán các nghĩa vụ của người

Trang 6

chết để lại xong còn lại mới phân chia Việc thực hiện nghĩa vụ không phải với tư cách làchủ thể của nghĩa vụ do họ xác lập mà thực hiện các nghĩa vụ của người chết để lại bằngchính tài sản của người chết.1

Do đó, từ BLDS 2015 có thể kết luận rằng, di sản không bao gồm cả nghĩa vụ củangười quá cố

1.2 Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không ? Vì sao ?

Từ trước đến nay, pháp luật chưa có quy định nào về vấn đề di sản bị thay thế có đượcxem là di sản hay không Nhưng trên thực tế thì có những trường hợp di sản của người đãmất để lại bị thay thế bởi một tài sản mới

Cụ thể là di sản có thể tham gia vào một giao dịch dân sự như mua bán, trao đổi để lấymột khoản tiền hoặc một tài sản khác thì trong trường hợp này, phần tiền hoặc tài sản khác

đó vẫn được xem là di sản vì nó có giá trị tương đương với di sản và được hình thành trênnền tảng của di sản mà người chết để lại

Ví dụ: Trước khi chết, người để lại thừa kế có thực hiện một giao dịch dân sự mua bán đất,

bên mua đặt cọc trước một khoản tiền hứa sau 6 tháng sẽ trao đủ và nhận đất, tức là tại thờiđiểm mở thừa kế phần đất ấy vẫn là tài sản của người chết và là di sản thừa kế, đúng hạn 6tháng người mua trao đủ tiền và nhận đất thì đất lại bị thay thế bởi khoản tiền mua đất (sauthời điểm mở thừa kế) thì khoản tiền đó vẫn được xem là tài sản để lại cho người thừa kế vì

nó phát sinh trên nền tảng của di sản mà người chết đã thực hiện giao dịch trước khi chết đểlại

Do đó, ta nên xem tài sản mới thay thế phần tài sản do người chết để lại là di sản để chiathừa kế nhằm đảm bảo quyền lợi của người được nhận thừa kế

1Nguyễn Xuân Quang, Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế của Đại học Luật TP.HCM NXB

Hồng Đức, 2018, tr 415

3

Trang 7

1.3 Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá

cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không ? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Không cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì quyền sử dụng đấtcủa người quá cố mới được coi là di sản

Căn cứ vào Điểm Tiểu mục 1.3 phần II Nghị quyết 02/2004/NQ – HĐTP thì “người chết

để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có giấy chứng nhận nhưng có di sản là nhà ở, vật kiến trúc khác (như: nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước…) gắn liền với quyền sử dụng đất đó mà có yêu cầu chia di sản thừa kế, thì trong trường hợp đương sự có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng chưa kịp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết yêu cầu chia di sản

là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất đó.”

Ngoài ra, trong tiểu mục 1.2 phần II Nghị quyết số 02/2004/QĐ - HĐTP cũng quy định

rằng : “Đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong các giấy tờ

quy định tại các Khoản 1,2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai 2003 , thì kể từ ngày 1 - 7 - 2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế.” Nghĩa là

trong trường hợp người quá cố không có giấy chứng nhận, quyền sử dụng đất có là di sảnhay không còn phụ thuộc vào người quá cố có một loại giấy tờ quy định tại các Khoản 1,2

và 5 Điều 50 Luật Đất đai 2003 hay không Nếu người quá cố có một trong những giấy tờquy định tại các Khoản 1,2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai 2003 (được nhắc lại trong Điều 100Luật Đất đai 2013) thì quyền sử dụng đất là di sản Nếu người quá cố không có một trongnhững giấy tờ quy định tại các Khoản 1.2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai 2003 thì quyền sử dụngđất không được coi là di sản

1.4 Trong Bản án số 08, Tòa án có coi diện tích đất tăng 85,5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bản án có câu trả lời.

Trong Bản án số 08, Tòa án có coi diện tích đất tăng 85.5 m2 chưa được cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất là di sản Câu trả lời được thể hiện trong đoạn trích sau ở phần Nhậnđịnh của Tòa án :

Trang 8

“Hội đồng xét xử xét thấy: Theo sơ đồ hiện trạng được Công ty đo đạc, khảo sát thực tế ngày 21/02/2020 thể hiện, ngôi nhà và lán bán hàng được làm và xây dựng trên cả diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận và diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận Kết quả xác minh tại UBND phường Đống Đa (nơi có diện tích đất tranh chấp), Phòng Tài nguyên

và Môi trường thành phố Vĩnh Yên, Chi cục thuế Nhà nước thành phố Vĩnh Yên thể hiện: Gia đình ông Hòa đã xây dựng ngôi nhà 3 tầng, sân và lán cán bán hàng trên một phần diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận; diện tích đất này hộ ông Hòa đã quản lý, sử dụng

ổn định nhiều năm nay, các hộ liền kề đã xây dựng mốc giới rõ ràng, không có tranh chấp, không thuộc diện tích đất quy hoạch phải di dời, vị trí đất tăng nằm tiếp giáp với phía trước ngôi nhà và lán bán hàng của hộ ông Hòa, giáp đường Nguyễn Viết Xuân, đất thuộc diện được cấp giấy chứng nhận sau khi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, tiền thuế là 19.000.000đ/m2 Do đó, đây vẫn là tài sản của ông Hòa, bà Mai, chỉ có điều là đương sự phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, nếu không xác định là di sản thừa kế và phân chia thì sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.”'

1.5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Tòa án trong Bản án số 08 và diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Về phần diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận trong Bản án số 08, Tòa đã xử theohướng công nhận đây là tài sản chung của ông Hòa bà Mai, chỉ có điều là đương sự phải thựchiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước Hướng xử lý nêu trên của là hoàn toàn hợp lý

Căn cứ vào Điểm b tiểu mục 1.3 phần II Nghị quyết 02/2004/NQ – HĐQP thì trường hợpngười chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có một trong các loại giấy tờ đượchướng dẫn tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục 1.2 mục 1 này nhưng có di sản là nhà ở, vật kiến trúckhác gắn liền với quyền sử dụng đất đó thì nếu không có văn bản của UBND cấp có thẩmquyền các nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng có văn bản của UBND cấp có thẩmquyền cho biết rõ là việc sử dụng đất đó không vi phạm quy hoạch và có thể được xem xét

để giao quyền sử dụng đất, thì Tòa án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền vớiquyền sử dụng đất Tuy UBND phường Đống Đa chưa có văn bản cho biết rõ là việc sửdụng đát đó có vi phạm quy hoạch hay không, nhưng theo ông Nguyễn Ngọc Thu đại diệntheo pháp luật của UBND phường Đống Đa trình bày: “Hộ ông Hòa đang sử dụng diện tích

5

Trang 9

đất tăng ổn định, không thuộc diện quy hoạch di dời, không tranh chấp” nên có xem xét đểgiao quyền sử dụng đất do không vi phạm quy hoạch.

Hơn nữa, như ông Thu đã đề cập thì ông Hòa đã sử dụng diện tích đất tăng ổn định, các

hộ liền kề cũng không có tranh chấp về việc ông Hòa sử dụng diện tích đất tăng này nên cóthể ngầm hiểu họ cũng công nhận quyền sử dụng đất của ông

Như vậy là hoàn toàn có đủ căn cứ để chứng minh ông Hòa là người sử dụng đất hợppháp và do đó, hướng xử lý của tòa về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất là thỏa đáng và thuyết phục

1.6 Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m2 đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu ? Vì sao ?

Theo nhận định của Tòa án thì diện tích 398 m2 đất là tài sản chung của vợ chồng ông

N và bà G Năm 1991 bà G chuyển nhượng cho ông K 131 m2 đất nhằm trả nợ và nuôi giađình Căn cứ vào Khoản 2 Điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014 về tài sản chung của vợchồng thì phần đất chuyển nhượng trên được xem như là tài sản chung:“ 2 Tài sản chungcủa vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để đảm bảo nhu cầu của gia đình,thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.”

Như vậy, tài sản chung của vợ chồng ông N và bà G lúc này còn 267 m2 Phần di sảncủa ông N là một nửa diện tích 267 m2 đất chung của vợ chồng ông và bà G, tức là 133,5m2

1.7 Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K có được coi là di sản để chia không? Vì sao?

- Theo nhận định của Tòa án thì diện tích 398 m2 đất là tài sản chung của vợ chồng ông N

và bà G Năm 1991 bà G chuyển nhượng cho ông K 131 m2 đất nhằm trả nợ và nuôi giađình Căn cứ vào khoản 2 Điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014 về tài sản chung của vợchồng thì phần đất chuyển nhượng trên được xem như là tài sản chung: “2.Tài sản chung của

vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thựchiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.”

Trang 10

Như vậy, tài sản chung của vợ chồng ông N và bà G lúc này còn 267 m2 Phần di sản của ông N là một nửa diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng ông và bà G, tức là 133,5m2.

1.8 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K.

- Hướng giải quyết của Án lệ khi quyết định không đưa 131 m2 đất đã bán cho ông Vàophần di sản của ông N là hợp lý Như đã phân tích ở trên, bà G chuyển nhượng đất nhằmđảm bảo cuộc sống cho gia đình Mặt khác, theo Điều 651 BLDS 2015 quy định về ngườithừa kế theo pháp luật thì cả bà G và 6 người con đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất, đồng thờinhững người thừa kế cùng hàng sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau Trong trường hợp bà

G chuyển nhượng 131 m2 đất cho ông K phải được sự đồng ý của tất cả các đồng thừa kế.Trên thực tế, các đồng thừa kế đã biết việc chuyển nhượng và không có ý kiến phản đối Nên

có thể xem hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 131 m2 đất của bà G cho ông K là hoàntoàn hợp pháp Căn cứ theo Điều 223 BLDS 2015 về căn cứ xác lập quyền sở hữu theo hợp

đồng: “Người được giao tài sản thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay

hoặc hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật thì có quyền sở hữu tài sản đó”, ông K có quyền sở hữu tài sản trong hợp đồng là 131 m2 đất

1.9 Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng cho tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản để chia không? Vì sao?

Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cho cuộc sống của các con mà dùng sốtiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó không được coi là di sản để chia

Bởi vì sau khi ông N mất mà không để lại di chúc hay thoả thuận khác thì tài sảnchung của hai vợ chồng sẽ được chia đôi là 196m2 đất mỗi người Việc bà Phùng Thị G tự ýbán 131m2 đất cho ông K mà không có sự đồng ý của các con của bà và sử dụng phần tiền

đó cho cá nhân thì có thể xem là bà G đã bán một phần đất thuộc phần của mình trong khốitài sản chung của hai vợ chồng Điều này là hoàn toàn hợp lý do bà G có quyền định đoạtphần tài sản của mình trong khối tài sản chung và số tiền thu được không được sử dụng vì

7

Trang 11

lợi ích của các đồng thừa kế khác nên không thể xem như đã chia thừa kế ứng với phần disản này.

1.10 Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì sao?

Có đoạn trong Án lệ cho rằng: “Diện tích 267m2 đất đứng tên bà Phùng Thị G, nhưngđược hình thành trong thời gian hôn nhân nên phải được xác định là tài sản chung của vợchồng ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G chưa chia Bà Phùng Thị G chỉ có quyền địnhđoạt 1/2 diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng bà Do đó, phần disản của bà Phùng Thị G để lại là 1/2 khối tài sản (133,5m2)”

Vì vậy ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tíchđất trên là 133,5m2

1.11 Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m 2 có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?

Việc Toà án xác định phần còn lại của di sản bà Phùng Thị G là 43,5m2 là chưa thuyết

phục

Bởi vì bà G cũng nằm trong hàng thừa kế thứ nhất của ông N cho nên bà và các con

là những đồng thừa kế nên cùng được hưởng phần di sản của ông N (133,5m2 đất) bằngnhau, tức là khi chia thừa kế mỗi người sẽ được hưởng 19,07m2 đất Căn cứ Điều 651 BLDS

2015 quy định về chia thừa kế: “1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theothứ tự sau đây: a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi,con đẻ, con nuôi của người chết;… 2 Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần disản bằng nhau.”

Do đó tính thêm phần di sản của bà Phùng Thị G còn lại trong diện tích đất chung là133,5m2 với số đất được thừa kế từ ông N thì tổng diện tích đất bà G có là 152,57m2 Bà G

để lại di chúc cho chị H1 90m2 đất thì phần đất còn lại trong di sản của bà phải là 62,57m2

Trang 12

Đây không phải là nội dung của Án lệ 16 vì Án lệ này có nội dung xoay quanh việccông nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do một trong cácđồng thừa kế chuyển nhượng.

1.12 Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m 2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?

Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m2 là chưathuyết phục vì theo quy định tại Điều 612 BLDS 2015: “Di sản bao gồm tài sản riêng củangười chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác” thì bà đã đượcchia ½ số tài sản nhưng bà đáng lý phải được chìa thêm 1/7 trong số ½ của diện tích 267m 2đất còn lại (sau khi trừ bỏ 131m2 mà bà đã bán cho ông Phùng Văn K) vì bà cũng thuộc mộttrong số những thành viên được nhận thừa kế từ ông Phùng Văn N

Đây không phải là nội dung của Án lệ số 16 vì nội dung của Án lệ số 16 là nói vềviệc thừa nhận diện tích 131m2 đất mà bà Phùng Thị G đã bán cho ông Phùng Văn K là hợppháp và không còn thuộc phần di sản thừa kế còn lại phải chia

VẤN ĐỀ 2: QUẢN LÝ DI SẢN

Tóm tắt Bản án số 11/2020/DS-PT ngày 10/6/2020 về việc “Tranh chấp quyền quản lý di sản thừa kế” của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

Bị đơn: Anh Phạm Tiến N

Nội dung đơn khởi kiện:

Giữa anh Phạm Tiến H (anh Hiệu) và anh Phạm Tiến T (anh Thiện), cháu Phạm Tiến N(cháu Nghĩa) có họ hàng với nhau, anh Thiện là anh trai ruột của anh Hiệu và cháu Nghĩa làcon trai anh Thiện

Nguyên nhân khởi kiện: Đòi lại nhà đất của bố mẹ, cũng như nguyên nhân khởi kiện cháuNghĩa đến Tòa án với nội dung: bố mẹ đẻ anh là Phạm Tiến Đ, mẹ đẻ là Đoàn thị T, bố mẹsinh 7 người con là bà L, N, Nh, H, H anh Phạm Tiến T và anh Phạm Tiến H Khi bố mẹ cònsống có một ngôi nhà gỗ 4 gian lợp ngói nằm trên diện tích đất 311m2 (có giấy CNQSD đấtđứng tên bà Đoàn Thị T) Đến năm 1994 ông Đ chết, năm 2012 bà Đoàn Thị T chết Khi

9

Trang 13

chết, bố mẹ anh không để lại di chúc giao cho người con nào trong gia đình được quyền sửdụng, quản lý ngôi nhà và đất nói trên, do đó ngôi nhà và phần đất trên được để nguyênkhông ai quản lý vì các anh chị đã lập gia đình và không ai trông nom nên đã xuống cấptrầm trọng, nay anh Hiệu đã đi chấp hành án xong trở về, bản thân anh Hiệu cũng đã có nhànên không liên quan đến nhà của bố mẹ anh, còn anh Thiện vẫn đang chấp hành án nênnguyện vọng của các anh chị em trong nhà là giao cho anh Hiệu tu sửa lại ngôi nhà và quản

lý đất đai của bố mẹ làm nơi thờ cúng chứ không phân chia, tuy nhiên khi anh có ý định sửathì cháu Nghĩa cản trở không cho xuất trình giấy ủy quyền của anh Thiện với nội dung là ủyquyền cho cháu Nghĩa trông coi ngôi nhà đến khi anh Thiện chấp hành án trở về

Với những tình tiết trên nên anh Hiệu đề nghị Tòa án giải quyết buộc cháu Nghĩa và anhThiện không được cản trở việc tu sửa ngôi nhà cháu Nghĩa không được xâm phạm đến tàisản của bố, mẹ anh, phải bàn giao lại nhà và đất của bố mẹ anh để lại cho anh tu sửa trôngcoi, quản lý để làm nơi thờ cúng bố mẹ anh

2.1 Trong Bản án số 11, Tòa án xác định ai là người có quyền quản lý di sản của ông Đ

và bà T; việc xác định như vậy có thuyết phục ko, vì sao?

Trong bản án số 11, Tòa án xác định anh Hiệu (Phạm Tiến H) là người có quyền quản lý

di sản của bố mẹ anh là ông Phạm Tiến Đ và bà Đoàn Thị T

Việc xác định như vậy có tính thuyết phục, bởi lẽ theo Khoản 1 Điều 616 BLDS 2015

quy định: “Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc, hoặc do những người

thừa kế thỏa thuận cử ra.” Ông Đ và bà T chết, không để lại di chúc, nên việc quản lý di sản

của ông Thiện không có sự nhất trí bằng văn bản của các bên đồng thừa kế, vì vậy ôngThiện không có quyền giao lại cho con trai là Phạm Tiến N trông coi hay sử dụng di sản củaông Đ và bà T Đồng thời, liên quan đến vấn đề này, còn có các bà Liền, bà Nhi, Nhường,Hoài, Hài đều đã xác nhận và ủy quyền toàn bộ cho anh Hiệu giải quyết vụ án trên, cũngnhư đã nhất trí với việc giao di sản thừa kế cho anh Hiệu trông coi và quản lý

2.2 Trong Bản án số 11, ông Thiện trước khi chấp hành án có là người quản lý di sản không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Theo bản án số 11, ông Thiện trước khi đi chấp hành án ông không phải là người quản lý

số di sản trên

Ngày đăng: 01/12/2022, 09:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w