Định nghĩa G2C trong CPDT: Có thể nói rằng G2C Government to Citizen trong CPDT là dịch vụ công mà chínhphủ cung cấp cho người dân, được thực hiện bởi chính nhà nước hoặc
Trang 1BÀI TẬP NHÓM
MÔN: Chính phủ điện tử
Chủ đề: G2C trong Chính phủ điện tử
Trang 2Mục lục
I Khái quát chung
1 Định nghĩa G2C trong Chính phủ điện tử
2 Phân loại dịch vụ công
II Các ứng dụng G2C trong nước
1 ICT là gì?
2 Sự cần thiết của ICT
3 Các kênh giao tiếp giữa chính phủ Việt Nam với người dân 3.1 Cổng dịch vụ công Quốc gia
3.2 Ứng dụng (applications) trên thiết bị di động
III Ứng dụng G2C tại một số quốc gia
IV Thực trạng dịch vụ công G2C trực tuyến của nước ta
V Giải pháp khắc phục những hạn chế
Trang 3I Khái quát chung:
1 Định nghĩa G2C trong CPDT:
Có thể nói rằng G2C (Government to Citizen) trong CPDT là dịch vụ công mà chínhphủ cung cấp cho người dân, được thực hiện bởi chính nhà nước hoặc ủy quyền cho cơquan khác nhằm phục vụ cộng đồng và đảm bảo những nhu cầu thiết yếu Tuy nhiên, cầnlưu ý rằng đối tượng mà dịch vụ công nhắm tới trong trường hợp này không bao gồm các
tổ chức, doanh nghiệp (vốn thuộc phạm trù giao dịch G2B); đối tượng duy nhất được đềcập là người dân
Chúng ta thấy xuất hiện một từ khóa tương đối phức tạp trong phân đoạn trên mà
rõ ràng cần phải cắt nghĩa đầy đủ Đó là cụm từ “dịch vụ công” Cụ thể, tại nghị định32/2019/ND-CP về sử dụng ngân sách Nhà nước để cung cấp dịch vụ và sản phẩm công,khái niệm dịch vụ công được miêu tả như sau:
“Là dịch vụ thiết yếu đối với đời sống kinh tế – xã hội của đất nước, cộng đồng dân cư hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh mà Nhà nước phải tổ chức thực hiện”
Như vậy có thể hiểu tổng quan rằng dịch vụ công là một chức năng của nhà nước,bao gồm việc cung cấp những hàng hóa, sản phẩm dưới bất kỳ hình thức nào vì lợi íchcông cộng Như đã nhắc đến ở trên, G2C trong CPDT đã thu hẹp của cụm từ “công cộng”thành “công dân”: Nhà nước cung cấp những sản phẩm, hàng hóa vì lợi ích của công dânđối với giao dịch G2C
Những ví dụ thực tế của Giao dịch G2C có thể kể đến như việc phổ biến thông tintới công chúng, các dịch vụ công cơ bản như gia hạn giấy phép, cấp giấy khai sinh/ khai
tử, đăng kí kết hôn và kê khai biểu mẫu nộp thuế cũng như hỗ trợ công dân đối với cádịch vụ cơ bản như giáo dục, chăm sóc y tế, thông tin bệnh viện, thư viện và rất nhiềudịch vụ khác
Ví dụ về giao dịch trên G2C: Cổng giao diện Công dân điện tử của Chính phủ
Singapore. Thông qua cổng giao diện Công dân điện tử của Chính phủ Singapore(www.ecitizen.gov.sg), người dân Singapore có thể truy cập tới 1.600 dịch vụ bao gồm từkinh doanh, y tế, giáo dục, giải trí đến việc làm và gia đình Trong đó, 1.300 dịch vụ điện
tử đã được giao dịch trực tuyến giữa người dân với chính phủ Cổng giao diện Công dânđiện tử được chia theo từng danh mục dựa trên nhu cầu thực tế cuộc sống của từng cánhân, trong đó từng bộ và ủy ban luật pháp cung cấp dịch vụ điện tử thông qua cùng mộtcổng Qua đó, người dân Singapore có thể truy cập một cửa đến các dịch vụ của chínhphủ: Điều này giúp cho họ không phải đi qua một rừng các thủ tục hành chính Một vài
Trang 4dịch vụ điện tử thông dụng nhất thường được cung cấp là: nộp đơn xin mua nhà, tìmkiếm thông tin về các trường học, tìm kiếm việc làm, phát triển nghề nghiệp và đăng kýbầu cử Tới tháng 6 năm 2002, khoảng 77% dịch vụ công đã trở nên khả thi để có thểcung cấp trực tuyến
2 Phân loại dịch vụ công:
Dịch vụ công có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, xét theo tiêu chí chủthể cung ứng, dịch vụ công được chia thành 3 loại, như sau:
- Dịch vụ hành chính công: Đây là loại dịch vụ gắn liền với chức năng quản lý nhànước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân Người dân được hưởng những dịch vụ nàykhông theo quan hệ cung cầu, ngang giá trên thị trường, mà thông qua việc đóng cho cơquan hành chính nhà nước Phần lệ phí này mang tính chất hỗ trợ cho ngân sách nhànước
- Dịch vụ sự nghiệp công: Bao gồm các hoạt động cung cấp phúc lợi xã hội thiếtyếu cho người dân như giáo dục, văn hóa, khoa học, chăm sóc sức khỏe, thể dục thểthao, bảo hiểm, an sinh xã hội, Xu hướng chung hiện nay trên thế giới là nhà nước chỉthực hiện những dịch vụ công nào mà xã hội không thể làm được hoặc không muốn làmnên nhà nước đã chuyển giao một phần việc cung ứng loại dịch vụ công này cho khu vực
tư nhân và các tổ chức xã hội
- Dịch vụ công ích: Là các hoạt động cung cấp các hàng hóa, dịch vụ cơ bản, thiếtyếu cho người dân và cộng đồng như: Vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, cấp nước sạch,vận tải công cộng đô thị, phòng chống thiên tai chủ yếu do các doanh nghiệp nhà nướcthực hiện Có một số hoạt động ở địa bàn cơ sở do khu vực tư nhân đứng ra đảm nhiệmnhư vệ sinh môi trường, thu gom vận chuyển rác thải ở một số đô thị nhỏ, cung ứng nướcsạch ở một số vùng nông thôn
Đối với mô hình G2C, một trong những cách nhà nước phục vụ người dân là quadịch vụ công trực tuyến Thường thì trong đó, dịch vụ hành chính công chiếm tỉ trọng chủyếu với những văn bản pháp luật, thủ tục giải quyết được đính kèm trên trang web; tuynhiên, theo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai thì bên cạnh hành chính công,những “dịch vụ khác” như cung cấp định danh điện tử, hỗ trợ người lao động tìm việclàm, cũng được tính là “dịch vụ công trực tuyến”
II Các ứng dụng thực tiễn trong giao dịch G2C
1 Định nghĩa ICT là gì?
Chính phủ điện tử gắn liền với việc ứng dụng ICT ở nhiều cấp độ Vậy thì, câu hỏicần phải đặt ra là: “ICT cụ thể có nghĩa là gì và bao gồm những gì?”
Trang 5ICT là từ viết tắt của Information & Communication Technologies, có thể dịch ratiếng Việt là Công nghệ thông tin và Truyền thông Cụm từ này ám chỉ tất cả những thiếtbị, hệ thống hay ứng dụng cho phép mọi người tạo, sử dụng và thao tác với thông tin.Nhiều người coi đây như là sự mở rộng đối với khái niệm IT (Công nghệ thông tin) vì nóbao gồm cả phạm trù công nghệ truyền thông Tức là, không chỉ có máy tính và mạngmáy tính, những phương tiện khác như điện thoại, thiết bị xử lý âm thanh, radio hay thậmchí vệ tinh satellite, cũng được coi là ICT.
Từ đó ta có thể đưa ra kết luận: CPĐT với ICT được cụ thể hóa là việc ứng dụngbất cứ thiết bị nào trong năng lực có thể, để qua đó tương tác với các đối tượng nhưngười dân, tổ chức, doanh nghiệp trong thế giới số
2 Sự cần thiết của ICT trong chính phủ điện tử
Vai trò của CNTT-TT đã thay đổi đáng kể trong thập kỷ qua (Dawes, 2008) Ngay cảtrong khu vực tư nhân, cho đến giữa những năm 1990, CNTT-TT thường được coi là chiphí doanh nghiệp hoặc chi phí chung với lợi tức đầu tư hạn chế Ví dụ: Quan điểm chungcho rằng bất kỳ trung tâm dữ liệu nào do một công ty xây dựng sẽ nhanh chóng giảm giátrị, vì các máy chủ sẽ nhanh chóng phải được nâng cấp hoặc thay thế, điều này rất tốnkém so với các quy trình thủ công Ngày nay, thật không thể tưởng tượng nổi khi nghĩrằng bất kỳ doanh nghiệp nào có thể hoạt động hiệu quả mà không có máy tính Đại khái,CNTT-TT đã dịch chuyển từ dạng “thứ yếu” với chi phí cơ hội cao nếu sử dụng sang mộtthành phần không thể thay thế đối với hoạt động và sự phát triển của doanh nghiệp.Trước khi bàn luận sâu hơn về những lý do khẳng định sự cần thiết của ICT đối vớiChính phủ, chúng ta hãy bắt đầu với một tiền đề mang tính phổ quát cao, bao trùm nhưsau:
“Mỗi doanh nghiệp, dù lớn đến đâu, cũng chỉ chiếm thị phần là một con số phầntrăm nhất định để phục vụ mà còn thấy cần thiết để ứng dụng CNTT-TT thì huống chi,Nhà nước với hàng triệu hay thậm chí trăm triệu con người để quản lý lại không cần đếnnó?”
Trước kia, phố Phoenix tỉnh thành Arizona thuộc bang SouthWest Tây Nam nước
Mỹ là nơi mà nhiều người dân thường xuyên phải chen lấn nối đuôi nhau để đăng ký xehơi và xe tải Điều này vô tình đã gây ra ô nhiễm tiếng ồn và đồng thời làm bẩn cả khuvực trước của trụ sở thành phố là nơi mà mọi người hay đứng Tình trạng chen lấn đôngđúc này xảy ra không chỉ ở Mỹ mà tại hầu hết các quốc gia trên thế giới bởi lúc đó việc sửdụng xe hơi hay xe tải đã khá phổ biến mà quy định về việc đăng ký giấy phép lại là điềubắt buộc Dân chúng thì tốn thời gian, các nhà chức trách cũng ngán ngẩm với việc phảiquản lý quá nhiều người như vậy Tình trạng Nhà nước làm việc không hiệu quả, thủ tụchành chính chậm chạp và lạc hậu đã đành, nay còn phát sinh nguy cơ có tiêu cực Ví dụnhư để hồ sơ được giải quyết nhanh hơn, việc hối lộ, đút lót hay dọa dẫm người thi hànhcông vụ, xảy ra cũng không phải hiếm
Thực tế trên là một minh họa sắc nét về tính cấp thiết phải xảy ra một cuộc cáchmạng trong việc tổ chức quan hệ nhà nước với nhân dân thông qua CNTT-TT (hình thứcCPĐT)
3 Các kênh giao tiếp giữa chính phủ Việt Nam với người dân
3.1 Cổng dịch vụ công quốc gia/ Cổng dịch vụ công địa phương
Cổng dịch vụ công quốc gia là kênh giao tiếp điện tử quan trọng giữa người dân,doanh nghiệp và cơ quan nhà nước, đồng thời là nơi để người dân, doanh nghiệp tươngtác với Chính phủ trên môi trường điện tử Trong trường hợp này chúng ta tập trung vàođối tượng “người dân” (citizens)
2 lợi ích cốt lõi của cổng dịch vụ công quốc gia:
Trang 6●Đối với những thông tin và văn bản có liên quan xoay quanh thủ tục hành chính,Cổng dịch vụ công Quốc gia có đầy đủ, chính xác và kịp thời tất cả những tài liệu từ Bộ,ngành và địa phương trên trang web của mình; đảm bảo người dân tiếp cận nhanh, gọnvà hiệu quả để phục vụ cho việc lập hồ sơ và xử lý hành chính sau này Đây được coi làđiểm tích cực, ưu việt đầu tiên của Cổng Ta có thể hình dung nó giống như một thư việnkhổng lồ với đầy đủ những cuốn sách, cô đọng hệ thống văn bản luật cần thiết Giả dụbạn cần đăng ký biến động quyền sử dụng đất; không chắc chắn bạn có thể lập hồ sơ vàgửi đi hoàn toàn trực tuyến qua Cổng (trực tiếp thực hiện dịch vụ công trực tuyến), tuynhiên có thể khẳng định những tài liệu về hệ thống luật đất đai và luật khác có liên quanđều nằm trên trang web đó và bạn có thể truy cập được
●Đối với dịch vụ công có thể thực hiện trực tuyến, trực tiếp qua cổng, khoảng 30%trên tổng số dịch vụ công quốc gia nằm trên cổng Những dịch vụ này đều nằm ở mức độ
3 và 4
Ngoài 2 đặc điểm kể trên, Cổng dịch vụ công trực tuyến còn có những ưu điểm sau:
●Đăng ký và được cấp ngay một tài khoản của Cổng dịch vụ công Quốc gia đểđăng nhập Cùng với tài khoản đăng ký đó, người dùng có thể sử dụng để truy cập hệthống dịch vụ Công của Sở, ngành, địa phương Ngoài ra, công dân cũng không phải cậpnhật các trường thông tin, tài liệu đã được lưu trữ trong tài khoản Cổng Dịch vụ côngQuốc gia Ví dụ đăng nhập vào cổng của tỉnh Đak Lắk:
● Cho phép theo dõi toàn bộ quá trình giải quyết thủ tục hành chính Người dântra cứu theo một trong 2 cách sau : không đăng nhập hoặc đăng nhập Nếu
Trang 7đăng nhập, trạng thái hồ sơ sẽ được hiển thị đầy đủ hơn, đi kèm với đó lànhững thông tin khác như tên cán bộ xử lý, số hồ sơ đã hoàn thành,
● Sử dụng tài khoản của các ngân hàng, trung gian thanh toán để thanh toán trựctuyến phí, lệ phí thực hiện thủ tục hành chính; dịch vụ công (với những dịch vụcông được thực hiện ở cấp độ 4)
● Đánh giá sự hài lòng trong giải quyết thủ tục hành chính;
Hướng dẫn đăng ký tài khoản Dịch vụ công Quốc gia cho công dân Việt Nam: Bước 1: Đăng nhập trang chủ Cổng thông tin dịch vụ công quốc gia Tại đây và chọn
Đăng ký cổng dịch vụ công
Bước 2: Chọn phương thức đăng ký
Đối với công dân có thể đăng ký qua 01 trong 05 hình thức:
Trang 8Bước 3: Nhập các thông tin hiện trên bảng và chọn Đăng ký.
Lưu ý: Những trường đánh dấu * là bắt buộc nhập
Trang 9Bước 4: Nhập mã OTP được gửi về điện thoại.
Bước 5: Nhập mật khẩu và nhận thông báo đăng ký thành công.
Trang 103.2 Ứng dụng di động (Applications)
3.2.1 Khái quát ứng dụng di động
Ứng dụng di động (được gọi là Applications trong tiếng Anh) thuộc dạng G2C nàycó thể được tải xuống qua CH Play, Appstore hay những cửa hàng trên các hệ điều hànhkhác Ưu điểm của mô hình này so với cổng dịch vụ công trên web là nó có thể được truycập nhanh chóng, dễ dàng hơn khi người dân chỉ cần click vào biểu tượng app trên mànhình, thay vì phải gõ tên miền dài dòng như đối với web
Cách Việt Nam triển khai ứng dụng dịch vụ công:
Đối với khoảng thời gian đất nước phải chống chọi với dịch Covid, hầu hết ứngdụng do Chính phủ xây dựng đều nhằm mục tiêu phòng chống đại dịch này, bảo đảm antoàn y tế công cộng, kiểm soát dịch tễ quốc gia Bluezone được tạo ra đầu tiên nhưngsau đó đã được tích hợp vào ứng dụng PC COVID với các chức năng khai báo y tế, hiểnthị thông tin tiêm chủng, F0 khỏi bệnh của Sổ sức khỏe điện tử
Ngoài ra, cũng có ứng dụng về bảo hiểm như VSSID (được thiết lập bởi cơ quanBảo hiểm xã hội của Việt Nam) với nhiệm vụ cung cấp bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tếđiện tử Có thể hình dung rằng nếu bạn đến cơ sở khám chữa bệnh công cộng, như
Trang 11trước kia có yêu cầu phải trình cho phía bác sĩ thẻ BHYT dạng giấy nhưng bây giờ bạn cóthể đăng nhập vào ứng dụng, xuất trình thẻ điện tử để thay thế.
3.2.2 VnEID
VnEID là phần mềm được tạo lập bởi Bộ Công An Đây là ứng dụng định danh điện
tử chính thức của quốc gia Định danh điện tử có thể hiểu đơn giản là việc xác thực,chứng minh thành công danh tính của công dân thông qua phương tiện điện tử (máy tính,điện thoại,…) mà không cần sử dụng chứng từ vật lý
Về mức độ ứng dụng, tài khoản định danh điện tử chia làm 2 cấp độ:
●Mức độ 1 gồm có ảnh chân dung và thông tin cá nhân của chủ tài khoản Chủ tàikhoản có thể sử dụng tính năng giải quyết dịch vụ công trực tuyến trong:
o Thông báo lưu trú
o Đăng ký thường trú, tạm trú
o Khai báo tạm vắng
●Mức độ 2 bên cạnh ảnh chân dung, thông tin cá nhân còn có thêm thông tin sinhtrắc học là vân tay của công dân Khi có tài khoản mức độ 2, công dân được sử dụng cáctiện ích đã tích hợp các loại giấy tờ như:
o Giấy phép lái xe
o Bảo hiểm y tế
Trang 12* Bước 2: Đăng ký
Sau khi tải ứng dụng, chọn vào mục “Đăng ký” góc phải phía dưới màn hình
Trang 13Thực hiện nhập các thông tin bao gồm:
- Số định danh cá nhân;
- Số điện thoại
Và nhấn vào ô “Đăng ký”
Trang 14*Bước 3: Quét mã QR và kiểm tra thông tin đăng ký
Trong bước 3 này, hệ thống sẽ gửi yêu cầu sử dụng camera và quét mã QR trêncăn cước của bạn
Hệ thống sẽ hiện lên các thông tin cá nhân và bạn cần kiểm tra bao gồm:
- Số định danh cá nhân;
Trang 16Nếu các thông tin đều chính xác thì chọn vào ô “Đăng ký”
*Bước 4: Nhập mã OTP và thiết lập mật khẩu
Nếu các thông tin đều trùng khớp và chính xác thì hệ thống sẽ gửi mã OTP qua tinnhắn SMS để kích hoạt đăng ký tài khoản và tạo mật khẩu đăng nhập
*Bước 5: Đăng ký tài khoản định danh điện tử mức 1
Sau khi đăng nhập, người dùng chọn vào mục “Đăng ký tài khoản định danh điện tửmức 1 (thực hiện trực tuyến)”