1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VI PHẠM CƠ BẢN HỢP ĐỒNG TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM: MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN

23 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vi phạm cơ bản hợp đồng trong pháp luật Việt Nam: Một số bất cập và định hướng hoàn thiện
Tác giả ThS Võ Sỹ Mạnh Trường
Trường học Trường Đại học Ngoại thương
Chuyên ngành Luật Thương mại
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 61,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VI PHẠM CƠ BẢN HỢP ĐỒNG TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM: MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆNVI PHẠM CƠ BẢN HỢP ĐỒNG TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM: MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN ThS Võ

Trang 1

VI PHẠM CƠ BẢN HỢP ĐỒNG TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM: MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN

VI PHẠM CƠ BẢN HỢP ĐỒNG TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM: MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ ĐỊNH

HƯỚNG HOÀN THIỆN

ThS Võ Sỹ Mạnh Trường Đại học Ngoại thương

Tạp chí KTĐN số 67 Email: manhvs@ftu.edu.vn Đặt vấn đề

Vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng là cơ sở pháp lý quan trọng để áp dụng các chế tài trongthương mại như tạm ngừng thực hiện hợp đồng hoặc đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợpđồng[1] khi các bên trong hợp đồng không có thỏa thuận về điều kiện áp dụng ba chế tài này Tuynhiên, Luật thương mại năm 2005 còn thiếu nhiều quy định có tính hướng dẫn để làm rõ hơn vềkhái niệm này Bên cạnh đó, theo Điều 4 của Luật thương mại năm 2005 thì trong trường hợp Luậtthương mại hoặc luật chuyên ngành không quy định thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự[2].Song, Bộ luật dân sự năm 1995 cũng như năm 2005 cũng không quy định về vi phạm cơ bản hợpđồng và các văn bản dưới luật của Việt Nam hiện hành cũng không có quy định hướng dẫn về vấn

đề này Đây thực sự là những bất cập của pháp luật Việt Nam về vi phạm cơ bản hợp đồng Nhữngbất cập này nếu không được loại bỏ hay sửa đổi thì việc áp dụng ba chế tài nói trên khó có tính khảthi Trên cơ sở chỉ ra một số bất cập từ quy định về vi phạm cơ bản, bài viết sẽ đề xuất một số địnhhướng để hoàn thiện quy định này của pháp luật Việt Nam

Từ khóa: vi phạm cơ bản, hủy bỏ hợp đồng, thiệt hại

1 Tại sao phải quy định về vi phạm cơ bản hợp đồng?

Trước năm 2005, trong pháp luật thực định Việt Nam nói chung, pháp luật hợp đồng nóiriêng chưa từng xuất hiện thuật ngữ “vi phạm cơ bản” hợp đồng hay “vi phạm cơ bản” nghĩa vụ hợpđồng, “vi phạm cơ bản” hợp đồng không được ghi nhận ở bất cứ văn bản quy phạm pháp luật nào ởViệt Nam, thay vào đó là thuật ngữ vi phạm “nghiêm trọng”[3]

Khái niệm “vi phạm cơ bản” hợp đồng chỉ được “du nhập” vào pháp luật Việt Nam từ năm

2005 tại khoản 13 Điều 3 của Luật thương mại năm 2005, theo đó vi phạm cơ bản là “sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”

Từ nghiên cứu các dự thảo Luật thương mại (sửa đổi), các ý kiến đóng góp và trao đổi trongquá trình xây dựng Luật thương mại cũng như Tờ trình số 1456/CP-CP của Chính phủ ngày5/10/2004 trước Quốc hội về dự án Luật thương mại (sửa đổi), có thể thấy lý do cho sự ra đời quyđịnh về vi phạm cơ bản gồm:

Thứ nhất, nghị quyết Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đãkhẳng định mục tiêu “tiếp tục chính sách mở cửa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển,tích cực chuẩn bị các điều kiện về kinh tế, thể chế, cán bộ… để thực hiện thành công quá trình hội

Trang 2

nhập”, trong khi đó Luật thương mại năm 1997 còn nhiều điềm chưa tương thích với điều ước vàtập quán thương mại quốc tế đã được thừa nhận rộng rãi trên thế giới như Công ước Viên năm

1980 về mua bán hàng hóa quốc tế Vì vậy, sửa đổi, bổ sung Luật thương mại năm 1997 phải đảmbảo được sự phù hợp với các điều ước về thương mại trên thế giới để từ đó “tạo điều kiện cho ViệtNam tham gia vào các định chế chung của thế giới trong lĩnh vực thương mại”, trong đó có Côngước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà “vi phạm cơ bản hợp đồng” là mộtquy định quan trọng của Công ước

Thứ hai, hợp đồng thương mại được giao kết và có hiệu lực thì các bên có nghĩa vụ thựchiện nghiêm những gì các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng Với mong muốn để các bên giữ choquan hệ hợp đồng tồn tại chứ không phải “tùy tiện” trong việc hủy bỏ quan hệ hợp đồng đã đượcxác lập Bên cạnh đó, Bộ luật dân sự quy định hợp đồng chỉ có thể bị hủy bỏ khi “các bên có thỏathuận hoặc pháp luật có quy định”[4] Điều này dẫn đến việc hủy bỏ hợp đồng trong thực tiễn là vôcùng khó khăn nếu các bên không có thỏa thuận trước về việc hủy bỏ hợp đồng Trong khi đó, Luậtthương mại năm 1997 cũng không có quy định cho phép các bên hủy bỏ hợp đồng thương mại nếucác bên không có thỏa thuận[5] Vì vậy, pháp luật thương mại cũng cần quy định điều kiện để cácbên có thể yêu cầu cơ quan giải quyết tranh chấp hủy bỏ hợp đồng khi các bên không có thỏa thuận

cụ thể về vấn đề này Điều này càng được khẳng định thêm khi Ông Trương Quang Hoài Nam – Tổtrưởng Tổ soạn thảo Luật thương mại năm 2005 nhấn mạnh “Sở dĩ chúng tôi phải đặt ra quy định

về vi phạm cơ bản và vi phạm không cơ bản là vì hợp đồng thương mại cần phải đảm bảo tính bềnvững; các bên càng tuân thủ đúng hợp đồng thì càng có lợi cho xã hội Do vậy, quan điểm củachúng tôi là các bên không thể tùy tiện hủy bỏ hợp đồng”[6]

2 Một số bất cập từ quy định về vi phạm cơ bản hợp đồng

Như đã đề cập ở trên, quy định về vi phạm cơ bản hợp đồng có ý nghĩa rất lớn trong việc

thực hiện các chế tài quy định tại Điều 308, 309, 312, 313 Luật thương mại Tuy nhiên, quy định về

vi phạm cơ bản hợp đồng đã bộc lộ một số bất cập ngay chính từ những thuật ngữ được sử dụng trong khái niệm này, cụ thể:

Thứ nhất, các thuật ngữ dùng trong quy định về vi phạm cơ bản còn “mơ hồ, trừu tượng”

Báo cáo 350/UBTVQH11 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 18/5/2005 về việc giải trình, tiếp thu chỉnh lý dự thảo Luật thương mại (sửa đổi) trình Quốc hội thông qua, Uỷ ban thường vụ Quốc hội nhận thấy: “một vi phạm được xác định là vi phạm cơ bản dựa trên hai tiêu chí là: phải có gây thiệt hại cho bên kia và mức độ gây thiệt hại làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”. Tuy nhiên, “thiệt hại” và “mục đích của việc giao kết hợp đồng” còn chưa rõ ràng

- Về “thiệt hại” do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra

Về mặt thuật ngữ, “thiệt hại” là bị mất mát về người, về của cải vật chất hoặc tinh thần[7].Luật Thương mại năm 2005 không giải thích, không có quy định trực tiếp nào liên quan đến giảithích “thiệt hại” cũng như không đưa ra bất cứ dẫn chứng mức độ thiệt hại như thế nào thì sẽ cấuthành vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng Luật Thương mại năm 2005 cũng không có quy định vềviệc thiệt hại có yêu cầu phải là tổn thất thực tế, hư hỏng hay mất mát hay không? Có phải thiệt hạinêu ra ở khoản 13 điều 3 chỉ đề cập đến thiệt hại vật chất hay cả những mất mát vô hình? Thiệt hại

Trang 3

này có bao gồm thiệt hại về mặt pháp lý hay không? Tất cả những câu hỏi này đều chưa thể có câutrả lời thỏa đáng từ các quy định của pháp luật Việt Nam cũng như hướng dẫn, giải thích của cơquan có thẩm quyền.

Tác giả cho rằng, thuật ngữ “thiệt hại” trong khái niệm về vi phạm cơ bản phải được hiểu là không cần có thiệt hại giống như trường hợp giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại Cần phải hiểu thuật ngữ này theo hướng, đó là những gì không thuận lợi, tức là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm Chỉ nên coi những vi phạm có ảnh hưởng lớn tới lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm mới là cơ bản [8] Vì vậy, không nhất thiết phải đặt thuật ngữ này trong khái niệm về vi phạm cơ bản hợp đồng

- Về “mục đích của việc giao kết hợp đồng”

Mục đích là cái vạch ra làm đích nhằm đạt cho được[9] Như vậy, khi giao kết hợp đồng, cácbên đặt ra đích gì và ở đâu nhằm đạt cho được? Vấn đề này không phải dễ dàng tìm được câu trảlời

Mục đích của giao kết hợp đồng là một trong những vấn đề pháp lý quan trọng của pháp luậthợp đồng Việc các bên thỏa thuận để ràng buộc quyền và nghĩa vụ đối với nhau cũng vì nhữngmục đích xác định, nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hoặc sinh hoạt, tiêu dùng. Đây là mục đích chung nhất của các loại hợp đồng

Trong pháp luật thực định của Việt Nam, không thể tìm thấy ở bất kỳ văn bản quy phạmpháp luật nào giải thích mục đích của việc giao kết hợp đồng là gì mà thay vào đó là mục đích củagiao dịch dân sự? Mục đích của giao dịch dân sự đã được quy định tại Điều 123 Bộ luật dân sự,

theo đó mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác

lập giao dịch đó Việc xác định lợi ích hợp pháp của các bên giao kết hợp đồng cũng không phải là

điều đơn giản vì các bên có thể vì hướng tới nhiều lợi ích hợp pháp khác nhau khi xác lập bất cứgiao dịch nào Vì vậy, pháp luật không quy định và các bên không nêu rõ khi giao kết hợp đồng rằnglợi ích hợp pháp các bên mong muồn từ việc xác lập giao dịch là gì thì việc xem xét, xác định mụcđích của các bên (lợi ích hợp pháp) cần căn cứ vào ngôn từ của hợp đồng, các tình huống có liênquan đến giao dịch, thực tiễn thương mại giữa các bên

Có thể nói, mục đích của giao kết hợp đồng phải là kết quả của sự mong muốn chung củacác bên Mục đích là lợi ích mà các bên cùng mong muốn đạt được còn động cơ chỉ là mong muốncủa một bên hoặc của riêng mỗi bên mà không có sự thống nhất giữa các bên Mục đích của hợpđồng bao gồm nhiều loại: mục đích chung của loại hợp đồng, mục đích riêng của từng nhóm hợpđồng hoặc mục đích cụ thể của từng hợp đồng riêng lẻ Mục đích giao kết hợp đồng thường đượcthể hiện trong các điều khoản của hợp đồng, nhằm thể hiện những mục tiêu, mong muốn cụ thể màcác bên muốn đạt được khi giao kết hợp đồng và mong muốn thực hiện hợp đồng theo mục đích

đó[10]

Đứng ở góc độ thực tiễn giao dịch thương mại, có thể xảy ra hai trường hợp sau:

Một là, các bên nêu rõ hoặc ngầm định mục đích của giao dịch trong hợp đồng Chẳng hạn,khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, người bán và người mua thỏa thuận với nhau rằng hànghóa là nguyên liệu được mua để phục vụ sản xuất sản phẩm nhất định thì mục đích của người muaxem như không đạt được nếu người bán giao cho người mua nguyên liệu không thể sử dụng để

Trang 4

sản xuất thành phẩm được Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp này thì việc lý giải, xác định mức

độ không sử dụng được của nguyên liệu trong việc sản xuất thành phẩm cũng cần phải làm rõthêm Như vậy, việc quy định về mục đích của giao kết hợp đồng cho thấy rằng cơ sở xác định viphạm nghĩa vụ hợp đồng là đầu tiên và trước hết nằm ở các điều kiện quy định rõ ràng hoặc ngầmđịnh trong hợp đồng

Hai là, các bên không thỏa thuận về mục đích của giao kết hợp đồng thì làm sao để có thể xác định mục đích của giao kết hợp đồng? Trong trường hợp này, việc xác định mục đích của giao kết hợp đồng cần kết hợp chặt chẽ với xác định mục đích của hoạt động thương mại – hoạt động được thực hiện bởi chủ yếu là các thương nhân Chẳng hạn, khi người bán giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với người mua, hai bên không có thỏa thuận rõ ràng về mục đích của mua bán hàng hóa Hơn nữa, đối với hoạt động mua bán hàng hóa, bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận[11] Từ đây, có thể thấy, bên bán và bên mua tuy có mục đích riêng khác nhau (bên bán nhằm mục đích nhận thanh toán, bên mua nhằm mục đích nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa) nhưng cả hai đều nhằm mục đích chung giống nhau là sinh lợi bởi mua bán hàng hóa cũng là một hoạt động thương mại Tức là, việc nhận thanh toán của bên bán phải sinh lợi cũng như nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa của bên mua cũng phải sinh lợi Vì vậy, bất cứ hành vi vi phạm nào của bên mua làm cho bên bán nhận thanh toán chậm hoặc thanh toán không đầy đủ hoặc không nhận được thanh toán thì đều dẫn đến mục đích sinh lợi của bên bán không đạt được.

Ngoài ra, một vấn đề khác chưa được xác định rõ là khi nào vi phạm nghĩa

vụ hợp đồng của bên vi phạm làm cho bên bị vi phạm không đạt mục đích của giao kết hợp đồng Chẳng hạn, một bên có bị không đạt mục đích của giao kết hợp đồng hay không khi anh ta hoàn toàn mất đi lợi ích trong quá trình thực hiện hợp đồng? hay bên bị vi phạm mất đi mục đích khi giao kết hợp đồng hoặc mất

đi lợi ích của giao dịch mua bán do hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của bên

vi phạm? Điều này làm phát sinh câu hỏi tình huống thực tiễn và các vấn đề có liên quan cần được xem xét đến như đàm phán, thực tiễn thương mại giữa các bên, tập quán và bất kỳ hành vi nào tiếp sau đó của các bên giao kết hợp đồng khi xem xét mục đích của giao kết hợp đồng giữa các bên.

Thứ hai, sự không thống nhất giữa thuật ngữ “vi phạm cơ bản hợp đồng” và vi phạm nghiêm trọng” hợp đồng trong các văn bản quy phạm pháp luật

Hiệnnay,trongcácquyđịnhphápluậtthựcđịnhcủaViệtNamđangtồntại

2thuậtngữlà“viphạmcơbản”và“viphạmnghiêmtrọng” Ngoài thuậtngữ“viphạm

có “viphạmnghiêmtrọng”xuấthiệnở30Bộluật,Luậtvà21Pháplệnh[12]

Trang 5

Vi phạm cơ bản là căn cứ để áp dụng các chế tài như đã đề cập ở trên, còn vi phạm nghiêmtrọng là căn cứ để một bên trong giao dịch dân sự có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợpđồng[13] Theo Báo cáo tổng kết thi hành Bộ luật dân sự năm 2005 của Bộ Tư pháp thì “thực tế hiệnnay cho thấy, rất nhiều hợp đồng dễ dàng bị một trong các bên tuyên bố huỷ bỏ hoặc đơn phươngchấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự chỉ vì bên kia vi phạm một điều khoản nào đó của hợp đồng.Điều này gây nên sự bất ổn định cho các giao dịch và tốn kém khi mà một bên có thể sử dụng sự viphạm không đáng kể của phía bên kia để chấm dứt hợp đồng Do đó, Bộ luật cần phải quy định rõchỉ khi có những vi phạm nghiêm trọng, làm cho mục đích của việc giao kết hợp đồng không đạtđược thì hợp đồng mới bị chấm dứt”[14] bởi “vi phạm nghiêm trọng” không chỉ là một khái niệm khoa

học mà là căn cứ pháp lý góp phần quan trọng vào việc ổn định các quan hệ hợp đồng, ổn định giaolưu dân sự, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể – một yêu cầu khách quan của bất cứnền kinh tế thị trường nào[15]

Bất cập này đã dẫn đến thực tế là cơ quan tài phán đã có nhầm lẫn giữa “vi phạm nghiêm

trọng” và “vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng” khi giải quyết tranh chấp Trong vụ tranh chấp giữa

nguyên đơn (người mua Việt Nam) và bị đơn (Người bán Trung Quốc), theo đó nguyên đơn đã ký với bị đơn hợp đồng mua bán, bị đơn đồng ý bán cho nguyên đơn lô theo góc phổ thông Q325, theotiêu chuẩn GB9787-1988, xuất xứ Trung Quốc, số lượng 750MT+_10% (dung sai do người bán chọn), đơn giá 445 USD/MT CFR FO cảng Hải Phòng – Việt Nam theo Incoterms 2000, giao hàng

từng phần, thanh toán bằng L/C không hủy ngang Quyết định của Trọng tài tuyên rằng “Theo quy

định tại Điều 56 Luật thương mại Việt Nam năm 2005, Bên mua có nghĩa vụ chấp nhận thanh toán theo quy định của L/C đã mở (bộ chứng từ không có dấu hiệu không phù hợp) và nhận hàng

Nhưng nguyên đơn đã không thanh toán và không nhận hàng là một vi phạm nghiêm trọng hợp

đồng đã ký”[16] Tương tự, vụ tranh chấp giữa nguyên đơn (người mua Việt Nam) và bị đơn (người bán Hoa Kỳ, Trọng tài quyết định “Trong thực tế, sau khi bị SGS Việt Nam từ chối giám định,

Nguyên đơn đã tự mình yêu cầu ngay Vinacontrol giám định mà không thông báo cho Bị đơn biết

Lý giải của nguyên đơn về vấn đề này là không thể chấp nhận được Với trình độ của công nghệ thông tin như hiện nay thì việc thông báo, thậm chí trao đổi và quyết định một vấn đề có thể tính

bằng phút Như vậy, về hính thức, nguyên đơn đã vi phạm nghiêm trọng điều khoản về giám định

của hợp đồng”[17]

Hai vụ tranh chấp trên cho thấy, cơ quan tài phán dường như chưa quen với thuật ngữ “vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng” mà quen dùng “vi phạm nghiêm trọng” Bên cạnh đó, cơ quan tài phán sử dụng Luật thương mại để xem xét nghĩa vụ và vi phạm nghĩa vụ của các bên nhưng khi kếtluận vi phạm lại sử dụng thuật ngữ “vi phạm nghiêm trọng” không có trong Luật thương mại và cũngkhông có lý giải thỏa đáng khi đưa ra kết luận này

1 Định hướng hoàn thiện quy định về vi phạm cơ bản hợp đồng của pháp luật Việt Nam

Xuất phát từ thực tiễn quy định và áp dụng quy định của pháp luật thực định Việt Nam về vi phạm cơ bản cho thấy tồn tại một số bất cập về quy định này Rõ ràng, dù không muốn cũng phải thừa nhận một điều, rằng, việc khắc phục những bất cập về quy định vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng trong pháp luật Việt Nam là cơ sở để không chỉ tạo ra sự thống nhất, hài hóa hóa giữa các văn

Trang 6

bản quy phạm pháp luật mà còn là cơ sở áp dụng chế tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thựchiện hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng trong thực tiễn.

- Hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về vi phạm cơ bản hợp đồng phải tạo sự thống nhất thuật ngữ, giải thích và áp dụng quy định về vi phạm cơ bản trong tất cả các văn bản pháp luật hiện hành về hợp đồng

Có thể nói, hiện nay, việc song song tồn tại các thuật ngữ “vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợpđồng”, “vi phạm nghiêm trọng” trong các văn bản pháp luật có giá trị cao thấp khác nhau, đôi khi lạitạo ra những lỗ hổng pháp lý khiến người áp dụng và cơ quan tài phán gặp rất nhiều khó khăn, lúngtúng trong quá trình phân biệt và lựa chọn áp dụng cho chuẩn xác Điều này đòi hỏi phải có một giảipháp hợp lý và triệt để nhằm thống nhất thuật ngữ nhằm tạo cơ sở pháp lý ổn định, minh bạch và tincậy trong việc điều chỉnh vi phạm cơ bản hợp đồng

Hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về vi phạm cơ bản, trước hết, cần đảm bảo sựthống nhất thuật ngữ để “đảm bảo tính thống nhất, cân đối mối liên hệ bên trong và sự phụ thuộclẫn nhau trong tất cả các bộ phận hình thành hệ thống, tính nhất quán về logic trong cách diễn đạtcủa người làm luật”[18] Bởi lẽ, “Tiêu chuẩn để xác định một hệ thống pháp luật đúng đắn và hiệuquả bao gồm: tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp và công nghệ trong quá trình lập pháp[19].Trong đó tính đồng bộ phải đảm bảo yêu cầu: Đảm bảo sự thống nhất, loại trừ mọi mâu thuẫn,chồng chéo hay trùng lặp trong bản thân hệ thống để đảm bảo một cơ chế điều chỉnh hiệu quả

- Hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về vi phạm cơ bản hợp đồng phải nhằm giúp các bên giao kết hợp đồng dễ dàng áp dụng các chế tài có liên quan khi có sự vi phạm cơ bản hợp đồng

Trong môi trường kinh doanh ngày càng phát triển và đa dạng, cạnh tranh với các đối tácnước ngoài trên thị trường Việt Nam cũng như thị trường nước ngoài vô cùng gay gắt Hợp đồngthương mại được sử dụng như công cụ pháp lý cho những “toan tính” của các bên trong hoạt độngthương mại Hơn ai hết, các bên giao kết hợp đồng luôn mong muốn hợp đồng được thực hiện mộtcách triệt để, có hiệu quả nhằm đảm bảo lợi ích, làm nền tảng duy trì, phát triển quan hệ thương mạigiữa các bên Vì thế, pháp luật cần đủ rõ ràng, minh bạch để đảm bảo cho các bên môi trường pháp

lý bình đẳng, an toàn và thuận lợi cho hoạt động thương mại

Quy định về vi phạm cơ bản hợp đồng có ý nghĩa rất lớn đối với việc áp dụng các chế tàitrong thương mại như tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng và hủy bỏ hợpđồng khi các bên không có thỏa thuận về các điều kiện để áp dụng các chế tài trên Việc quy địnhcác chế tài này, cùng với các chế tài khác (buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, bồi thườngthiệt hại), nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan hệ hợp đồng thương mại, đảm bảo camkết giữa các bên được thực hiện Ngoài ra, các chế tài này cũng không ngoài mục đích nhằm tạo ramôi trường pháp lý công bằng, thuận lợi để các thương nhân tham gia hoạt động thương mại hiệuquả, thuận lợi vì mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường khi mà cácyếu tố cạnh tranh luôn là động lực cho sự phát triển của chính các thương nhân

Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, lợi nhuận mà các thương nhân cóđược phải là lợi ích kinh tế hợp pháp, được nhận từ việc thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ hợpđồng Nhưng do mục đích này thương nhân có thể có nhiều hành vi vi phạm khác nhau dẫn đến

Trang 7

việc không thực hiện, thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng làm ảnh hường trực tiếp đến lợi íchhợp pháp của bên bị vi phạm, thậm chí có thể phát sinh nghĩa vụ về tài sản của bên bị vi phạm đốivới bên thứ ba Hành vi vi phạm hợp đồng luôn tiềm ẩn nguy cơ xâm hại lợi ích của bên bị vi phạm(làm mất mát, hư hỏng hàng hóa, giảm sút thu nhập, lợi nhuận…) Để bảo vệ lợi ích của bên bị viphạm, bên bị vi phạm có thể tự mình hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng các hình thứcchế tài nói trên đối với bên vi phạm Vì vậy, khi những căn cứ cho việc áp dụng các chế tài nói trênđược quy đỉnh rõ ràng, cụ thể thì bên bị vi phạm có cơ sở rõ ràng để áp dụng hoặc yêu cầu cơ quantài phán cho phép áp dụng.

Tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hay hủy bỏ hợp đồng lànhững chế tài nhằm trừng phạt và thái độ nghiêm khắc của bên bị vi phạm đối với bên vi phạmtrong quan hệ hợp đồng Khi áp dụng các chế tài này, sự bất lợi mà bên vi phạm hợp đồng phảigánh chịu cơ bản thể hiện ở chỗ, bên vi phạm không được đáp ứng các quyền theo thỏa thuậntrong hợp đồng, do bên bị vi phạm không phải thực hiện các nghĩa vụ tương xứng Vì vậy, việc sửađổi hoặc làm rõ quy định về vi phạm cơ bản hợp đồng sẽ góp phần đảm bảo điều kiện thuận lợi chocác bên tham gia hợp đồng thực hiện được quyền yêu cầu cơ quan tài phán áp dụng các chế tài nóitrên mà không phụ thuộc vào phán quyết mang “cảm tính” của cơ quan tài phán vì sự không rõ ràngtrong quy định về vi phạm cơ bản hợp đồng của Luật thương mại

- Hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về vi phạm cơ bản hợp đồng nhằm tạo sự thuận lợi, dễ dàng và thống nhất cho các cơ quan giải quyết tranh chấp về hợp đồng của Việt Nam trong việc áp dụng các chế tài khi có sự vi phạm cơ bản hợp đồng

Thực tiễn cho thấy, ở đâu có hoạt động thương mại thì ở đó có phát sinh tranh chấp Vấn đềđặt ra là các bên phải giải quyết tranh chấp đó một cách nhanh chóng và hiệu quả và cơ quan tàiphán (tòa án hoặc trọng tài thương mại) cần can thiệp ở mức độ nhất định dưới các hình thức khácnhau vào việc giải quyết các tranh chấp, nhằm đạt được hai mục tiêu cơ bản là: (1) bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp và; (2) tạo môi trường pháp lý ổn định để phát triển kinh tế Với nguyên tắc hai cấp xét xử (sơ thẩm và phúc thẩm), hệ thống tòa án nhân dân của ViệtNam được tổ chức từ cấp Huyện, cấp Tỉnh đến Tòa án nhân dân tối cao Bên cạnh đó, các bêntranh chấp thương mại còn có thể lựa chọn trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranhchấp giữa các bên Việc xác định hành vi vi phạm hợp đồng có bị coi là cơ bản hay không thuộcthẩm quyền của các cơ quan tài phán này Trên cơ sở đó, các cơ quan tài phán này có thể chophép hoặc không cho phép các bên áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thựchiện hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng thương mại Vì thế, nếu thiếu đi sự rõ ràng, tiêu chí cụ thể về viphạm cơ bản, căn cứ quan trọng để áp dụng các chế tài nói trên khi các bên không có thỏa thuận vềcác chế tài này, thì dễ dẫn đến “sự đa dạng” trong giải thích quy định về vi phạm cơ bản tại Luậtthương mại và “né tránh” áp dụng quy định này mà thay vào đó áp dụng quy định trong Bộ luật dân

sự như thực tiễn áp dụng pháp luật đã phân tích ở trên Điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn không chỉđến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong tranh chấp thương mại mà còn làm cho môitrường pháp lý trở bên “bất ổn định”

Vì vậy, hoàn thiện quy định về vi phạm cơ bản hợp đồng không chỉ dừng ở quy định thốngnhất về thuật ngữ, về tiêu chí xác định vi phạm cơ bản mà còn hoàn thiện các chế tài có liên quan

Trang 8

trong Bộ luật dân sự nhằm tạo ra sự thuận lợi, dề dàng và thống nhất cho cơ quan tài phán trongviệc giải quyết tranh chấp có liên quan đến vi phạm cơ bản hợp đồng bởi hệ quả pháp lý của viphạm cơ bản hay không cơ bản là hoàn toàn khác biệt.

- Hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về vi phạm cơ bản hợp đồng nhằm tạo sự

tương thích giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về vi phạm cơ bản hợp đồng

Nghị quyết Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳngđịnh “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên cótrách nhiệm trong cộng đồng quốc tế…Chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước xâydựng cộng đồng ASEAN vững mạnh, tăng cường quan hệ với các đối tác, tiếp tục giữ vai trò quantrọng trong các khuôn khổ hợp tác ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương” Với chủ trương đó, cácchuẩn mực chung của thương mại quốc tế đang được Việt Nam từng bước áp dụng thông qua quátrình đàm phán, ký kết, gia nhập và thực thi các điều ước quốc tế Vì vậy, việc hoàn thiện quy định

về vi phạm cơ bản cũng cần phải hướng tới tạo sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và phápluật quốc tế về vấn đề này, trong đó có Công ước Viên, Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mạiquốc tế (UNIDROIT Principles of International Commercial Contract, viết tắt là PICC), Bộ nguyên tắchợp đồng châu Âu (Principles of European Contract Law, viết tắt là PECL)…

Công ước Viên, PICC, PECL đều có những quy định về vi phạm cơ bản hợp đồng haykhông thực hiện cơ bản hợp đồng Đặc biệt là Công ước Viên - văn bản đã thống nhất hoá đượcnhiều mâu thuẫn giữa các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trongviệc giải quyết các xung đột pháp luật trong thương mại quốc tế và thúc đẩy thương mại quốc tếphát triển Hầu hết các cường quốc thương mại trên thế giới đều đã gia nhập Công ước Viên, trong

đó có rất nhiều quốc gia là bạn hàng lớn và lâu dài của Việt Nam như các quốc gia EU, Hoa Kỳ,Canada, Australia, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore

Như vậy, việc hoàn thiện quy định về vi phạm cơ bản theo hướng tạo sự tương thích giữapháp luật Việt Nam và Công ước Viên không chỉ đặt ra trong quá trình rà soát hệ thống pháp luậtquốc gia trước khi gia nhập điều ước quốc tế mà còn cả trong giai đoạn thực thi, khi Việt Nam trởthành thành viên của Công ước Viên Việc nắm bắt những điểm tương đồng và khác biệt giữa Côngước Viên và pháp luật thương mại Việt Nam sẽ giúp chúng ta hòa nhập vào nền pháp luật thươngmại quốc tế một cách tự tin, chủ động, phù hợp với điều kiện đặc thù của Việt Nam cũng như gópphần bảo vệ quyền và lợi ích của các doanh nghiệp và nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế.Bên cạnh đó, việc tiếp thu có chọn lọc các quy định về không thực hiện cơ bản hợp đồng trongPICC, PECL sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật thương mại Việt Nam và giúp các doanh nghiệp ViệtNam thuận lợi hơn trong việc áp dụng các văn bản này trong các giao dịch thương mại quốc tế vớicác đối tác đến từ các quốc gia công nhận và áp dụng các văn bản đó

Thay cho lời kết

Pháp luật Việt Nam nói chung, Luật thương mại năm 2005 và Bộ luật dân sự nói riêng cònthiếu nhiều quy định có tính hướng dẫn để làm rõ hơn những bất cập về vi phạm cơ bản hợp đồng.Những bất cập này nếu không được loại bỏ hay sửa đổi thì việc áp dụng ba chế tài tạm ngừng thực

Trang 9

hiện, đình chỉ thực hiện và hủy bỏ hợp đồng khó có tính khả thi Và như vậy thì sẽ dẫn đến một thực

tế là quy định “vi phạm cơ bản hợp đồng” sẽ khó “sống” trong thực tế, thậm chí trao cho tòa án,trọng tài “thẩm quyền lớn” trong việc xác định có hay không có vi phạm cơ bản hợp đồng

Bàn về khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng theo công ước Viên 1980

Vi phạm cơ bản hợp đồng – Thuật ngữ pháp lý này có lẽ không còn xa lạ với giới nghiên cứu luật pháp cũng như những người hoạt động trong lĩnh vực pháp luật, thậm chí là các doanh nghiệp kể từ ngày 14/6/2005 – ngày mà Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 được Quốc hội khóa 11 thông qua.

Vi phạm cơ bản hợp đồng, theo quy định tại khoản 13 điều 3 Luật Thương mại năm 2005, là “sự vi phạm

hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích giao kết hợp đồng” Đây cũng là cơ sở để áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng hoặc đình chỉ thực hiện hợp

đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng.[1]

Tuy nhiên, tính đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn, giải thích rõ nội hàm của khái niệm vi phạm cơ bảnhợp đồng nói trên Nhiều câu hỏi xoay quanh khái niệm này vẫn chưa có lời giải đáp: thiệt hại do hành vi viphạm hợp đồng gây ra đến mức nào thì được coi là vi phạm cơ bản hợp đồng? Mục đích của các bên khi giaokết hợp đồng là gì? Có thể nói rằng, “vi phạm cơ bản hợp đồng” là khái niệm phức tạp và đến nay có tác giảnước ngoài cho rằng vi phạm cơ bản hợp đồng là khái niệm “vô nghĩa, trừu tượng và mơ hồ”[2].Để góp thêm ýkiến nhằm làm rõ hơn khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng, bài viết này phân tích một số căn cứ xác định viphạm cơ bản hợp đồng theo Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế (dưới đây gọi tắt là Công ước Viên)

>> Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: 1900 6162

1 Khái niệm “Vi phạm cơ bản hợp đồng” theo quy định của Công ước Viên

Khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng được quy định tại Điều 25 Công ước Viên, theo đó “một sự vi phạm hợp

đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu được hậu qủa đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ

cũng ở vào hoàn cảnh tương tự”.[3]

Từ quy định trên, xét về mặt lý thuyết, có thể thấy vi phạm cơ bản hợp đồng được xác định dựa trên các yếu tố:(1) Phải có sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng; (2) Sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng đó phải dẫn đến hậu quả là mộtbên mất đi điều mà họ chờ đợi (mong muốn có được) từ hợp đồng; (3) Bên vi phạm hợp đồng không thể nhìnthấy trước được hậu quả của sự vi phạm đó

Công ước Viên không đưa ra định nghĩa về vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Tuy nhiên, vi phạm nghĩa vụ hợpđồng có thể hiểu là việc một bên giao kết hợp đồng không thực hiện nghĩa vụ mà các bên thỏa thuận trong hợpđồng hoặc thực hiện không hết nghĩa vụ hợp đồng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng Ví dụ, các

Trang 10

bên thỏa thuận cụ thể về nghĩa vụ giao hàng trong hợp đồng nhưng người bán không giao hàng hoặc giao hàngthiếu, giao sai hàng hoặc giao hàng không đúng chất lượng như đã thỏa thuận trong hợp đồng Như vậy, nếungười bán giao hàng không phù hợp với hợp đồng[4], ví dụ như hàng hóa được giao thiếu về số lượng và/hoặckhông phù hợp về chất lượng hoặc giao sai chủng loại hàng mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng, thì đượccoi là người bán đã có sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.

Ngoài ra, vi phạm nghĩa vụ hợp đồng phải là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại đáng kể cho bên bị vi phạm Thếnào là thiệt hại đáng kể? Công ước Viên cho rằng thiệt hại đáng kể là những thiệt hại làm cho bên bị vi phạmmất đi cái mà họ chờ đợi (mong muốn có được) từ hợp đồng Công ước Viên không giải thích rõ cái mà ngườinày chờ đợi là gì Vì vậy, việc xác định mức độ thiệt hại là đáng kể hay không đáng kể sẽ do tòa án (hoặc cơquan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp) quyết định căn cứ vào từng trường hợp, từng vụ tranh chấp cụ thể

Ví dụ, phải căn cứ vào giá trị kinh tế của hợp đồng, sự tổn hại về mặt tiền bạc do hành vi vi phạm hợp đồnghoặc mức độ mà hành vi vi phạm hợp đồng gây cản trở đến các hoạt động khác của bên bị vi phạm.[5]

Tuy nhiên, mặc dù hành vi vi phạm hợp đồng dẫn đến thiệt hại cho bên bị vi phạm nhưng hành vi vi phạm hợp

đồng đó sẽ không bị coi là vi phạm cơ bản hợp đồng nếu bên vi phạm “không thể nhìn thấy trước hậu quả của

hành vi vi phạm đó và người ở vào hoàn cảnh tương tự cũng không thể tiên liệu được” Chính xác hơn, khả

năng nhìn thấy trước hậu quả của hành vi vi phạm hợp đồng là yếu tố cần thiết để xác định hành vi vi phạm đó

có phải là một sự vi phạm cơ bản hợp đồng hay không Khả năng tiên liệu trước được những thiệt hại do hành

vi vi phạm hợp đồng gây ra sẽ phụ thuộc vào kiến thức của bên vi phạm về những sự kiện xuay quanh giaodịch[6] như kinh nghiệm, mức độ tinh tế và khả năng tổ chức của bên vi phạm[7]

2 Vi phạm cơ bản hợp đồng qua thực tiễn giải quyết một số vụ tranh chấp về hàng hóa không phù hợp với hợp đồng

Có thể thấy rằng không phải mọi trường hợp hàng hóa không phù hợp với hợp đồng đều cấu thành một sự viphạm cơ bản hợp đồng Vì vậy, việc xác định được mức độ không phù hợp như thế nào của hàng hóa dẫn đếncấu thành một sự vi phạm cơ bản hợp đồng là điều rất quan trọng Tuy nhiên, Công ước Viên không quy địnhtiêu chí để xác định mức độ không phù hợp của hàng hóa so với quy định của hợp đồng Thực tiễn giải quyếttranh chấp về hợp đồng có áp dụng Công ước Viên, tòa án và trọng tài một số nước thường áp dụng bốn (04)căn cứ để xác định mức độ không phù hợp của hàng hóa cấu thành một vi phạm cơ bản theo quy định tại điều

25 của Công ước Viên Đó là thỏa thuận của các bên trong hợp đồng về vi phạm cơ bản; Hậu quả do hành vi viphạm hợp đồng gây nên là nghiêm trọng; Khả năng bán được của hàng hóa không phù hợp hợp đồng; và khảnăng “sử dụng được” của hàng hóa không phù hợp hợp đồng Dưới đây, sẽ phân tích thực tiễn xét xử tranhchấp liên quan đến vi phạm cơ bản hợp đồng dựa trên bốn căn cứ này

a Việc xem xét có hay không có sự thỏa thuận của các bên về sự vi phạm cơ bản hợp đồng

Nếu các bên giao kết hợp đồng thỏa thuận rằng trong trường hợp người bán giao hàng không phù hợp với hợpđồng mà sự tuân thủ nghiêm ngặt hợp đồng là yếu tố cần thiết thì bất kỳ sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nàocũng đều bị xem là vi phạm cơ bản hợp đồng Ví dụ, nếu người mua tuyên bố rằng hàng hóa không phù hợp sẽkhiến cho người mua không đạt được một mục đích cụ thể hoặc nếu người mua thông báo cho người bán biết

rõ mục đích mua hàng của người mua nhầm nhắc người bán phải giao hàng như hợp đồng quy định thì bất kỳhành vi vi phạm nào ảnh hưởng tới mục đích cụ thể đó đều cấu thành một vi phạm cơ bản hợp đồng Căn cứvào những thỏa thuận rõ ràng trong hợp đồng, lúc này, người bán không thể lập luận rằng anh ta không nhìnthấy trước được (không tiên liệu được) những thiệt hại có thể xảy đến cho người mua nếu anh ta không giao

Trang 11

hàng theo những quy định đó Như vậy, tòa án sẽ dễ dàng xác định được một sự vi phạm cơ bản hợp đồng nếuhàng hóa được giao không đúng những gì đã thỏa thuận trong hợp đồng Trong trường hợp này, tòa án dễ dàngkết luận người bán đã có sự vi phạm cơ bản hợp đồng.

Điều quan trọng đối với việc áp dụng căn cứ này là người mua có nghĩa vụ chứng minh có hay không có điềukhoản trong hợp đồng quy định rằng không thực hiện một nghĩa vụ liên quan đến giao hàng sẽ được coi là viphạm cơ bản hợp đồng Nếu không, người mua không thể tuyên bố hành vi vi phạm đó của người bàn là viphạm cơ bản hợp đồng và làm cơ sở để tuyên bố hủy bỏ hợp đồng theo Điều 49 của Công ước Viên.[8] Phân

tích vụ Garden flowers[9] dưới dây sẽ thấy rõ điều này.

Vụ Garden flowers là tranh chấp giữa người bán (Đan Mạch) và người mua (Úc) Vào mùa xuân 1991, người

mua Úc đến Đan Mạch để đặt mua cây từ người bán Cùng với Andreas Schwabe – nhân viên của người bán,

người mua đã đến vườn hoa của Anders Jonsson – người bán loại cây Osteospermum ecklonis (Cúc Châu phi).

Người mua đã kiểm tra những cây này, Schwabe đã giải thích cho người mua rằng đây là cây trồng trong vườn

và cần chỗ có ánh nắng Schwabe không hướng dẫn gì thêm cho người mua về việc bảo quản và chăm sóc cây,cũng như không có bất cứ bảo đảm nào rằng hoa sẽ nở suốt mùa hè Người mua đã bán lại số cúc Châu phi nóitrên cho một khách hàng và cam kết với khách hàng này rằng cúc sẽ nở suốt mùa hè Tuy nhiên, khách hàngnày đã khiếu nại người mua vì cúc không nở suốt mùa hè Vì thế, người mua đã khiếu nại lại người bán với lý

do là chất lượng hàng hóa giao (tức là cúc Châu phi) không phù hợp với quy định về chất lượng trong hợp

đồng – hoa không nở suốt mùa hè Theo người mua, đây là sự vi phạm cơ bản hợp đồng và đã từ chối thanhtoán cho người bán Tòa án đã bác bỏ lập luận này với lý do là người mua đã không chứng minh được rằngngười bán có đưa ra một sự bảo đảm rằng hoa sẽ nở suốt mùa hè Tương tự như vậy, trong vụ tranh chấp về hạt

tiêu Spanish paprika[10]giữa người bán Đức và người mua Tây Ban Nha về việc giao hạt tiêu, theo đó hạt tiêu

chứa gần 150% hỗn hợp ethyla oxit tối đa được chấp nhận theo luật về thuốc và thực phẩm của Đức Trong vụtranh chấp này, người bán đã chứng minh được rằng giữa người bán và người mua đã có thỏa thuận cụ thể vềviệc hàng hóa (tức là hạt tiêu) phải phù hợp với người tiêu dùng ở Đức Vì thế, Tòa án quận Ellwangen[11] raphán quyết tuyên rằng người mua đã có sự vi phạm cơ bản hợp đồng Hai vụ tranh chấp với hai phán quyếtkhác nhau của tòa án cho thấy, khi các bên giao kết hợp đồng đã có thỏa thuận rõ ràng trong hợp đồng về viphạm cơ bản hợp đồng thì tòa án chỉ căn cứ vào thỏa thuận đó của các bên để quyết định hành vi vi phạm củamột bên có phải là vi phạm cơ bản hợp đồng hay không Tuy nhiên, nếu các bên không có thỏa thuận về viphạm cơ bản hợp đồng thì tòa án sẽ cố gắng suy luận dựa trên ngôn ngữ hợp đồng, tập quán, thói quen và giaodịch giữa các bên.[12] Điều này thường là rất phức tạp vì luật pháp chưa đưa ra những quy định cụ thể về cáigọi là vi phạm cơ bản hợp đồng

b Mức độ nghiêm trọng của hậu quả do hành vi vi phạm hợp đồng gây nên

Trong trường hợp hợp đồng không quy định rõ ràng, vi phạm cơ bản hợp đồng có thể được xem xét căn cứ vàotính nghiêm trọng của hậu do hành vi vi phạm hợp đồng gây nên Theo quy định tại Điều 25 Công ước Viên,một trong những yếu tố quan trọng để xác định vi phạm cơ bản là thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gâynên lên tới mức làm cho bên bị vi phạm không đạt được cái mà họ chờ đợi từ hợp đồng Như vậy, tính nghiêmtrọng của hậu quả do hành vi vi phạm gây nên được xem như sự thiệt hại đáng kể mà bên bị vi phạm phải gánhchịu do hành vi vi phạm của bên vi phạm Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp về vấn đề này, tòa án đã sửdụng một số tiêu chí dưới đây để xác định tính nghiêm trọng của hậu quả do hành vi vi phạm gây nên, tức làxác định mức độ “đáng kể” của thiệt hại mà bên bị vi phạm phải gánh chịu

Ngày đăng: 01/12/2022, 09:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w