Untitled ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA KINH TẾ ¯ BÀI TIỂU LUẬN MÔN HỌC QUẢN TRỊ BÁN HÀNG ĐỀ TÀI GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ BÁN HÀNG CHO CÔNG T.
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA KINH TẾ
¯
BÀI TIỂU LUẬN MÔN HỌC QUẢN TRỊ BÁN HÀNG
ĐỀ TÀI: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNGQUẢN TRỊ BÁN HÀNG CHO CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VINAMILK
GVHD: ThS Huỳnh Công Phượng
Lớp:
Họ và tên:
MSSV:
BÌNH DƯƠNG 00-201…
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, nhóm chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành đến cô Thạc sĩ Huỳnh Công Phượng đã luôn tận tâm truyền dạy và hỗ trợ nhóm chúng em trong suốt qua trình học tập Không chỉ những kiến thức sách vở mà còn những kiến thức hữu ích những kinh nghiệm trong cuộc sống
Nhóm chúng em đã vận dụng những kiến thức được học trong qua trình học để hoàn thành bài tiểu luận Nhưng do khả năng kiến thức còn hạn chế lẫn thiếu kinh nghiệm thực
tế nên không tranh khỏi sự thiếu sót trong qua trình thực hiện nghiên cứu cũng như trình bày tiểu luận
Rất mong cô bỏ qua và nhóm hi vọng sẽ được nhận những ý kiến để nhóm có thể hoàn thiện một cach tốt nhất cho bài tiểu luận
Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5A/ PHẦN MỞ ĐẦU
Lời nói đầu
Tính cấp thiết của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Ý nghĩa của đề tài
Kết cấu của đề tài
+ Chương 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài
+ Chương 2: Thực trạng, ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân + Chương 3: Đề xuất các giải pháp, kết luận và kiến nghị ( nếu có)
Trang 6B/ PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ BÁN HÀNG
1.1 Khái quát về hoạt động bán hàng
1.1.1 Khái niệm về bán hàng
Theo James M Comer, 2012 : “Bán hàng là một quá trình mang tính cá nhân trong đó người bán tìm hiểu, khám phá, gợi tạo và đáp ứng những nhu cầu hay ước muốn của người mua nhằm thực hiện quyền lợi thỏa đáng, lâu dài của hai bên Bán hàng làm cho hàng hóa lưu thông từ người sản xuất đến người tiêu dùng, từ nơi dư thừa hàng hóa đến nơi có nhu cầu Hoạt động bán hàng sẽ đem lại lợi nhuận cho người bán khi họ nắm bắt tốt các cơ hội từ thị trường và điều chỉnh phù hợp các chính sách phục vụ quyền lợi cho người tiêu dùng”.
Theo Lê Quân, Hoàng Văn Hải, 2017 thì “Bán hàng là quá trình bên bán tìm hiểu, gợi
mở, khám phá và thỏa mãn những nhu cầu hay ước muốn của bên mua để đáp ứng quyền lợi lâu dài của cả hai bên Bên bán có thể được hiểu là cá nhân hoặc doanh nghiệp” Bán hàng là một quá trình mang tính cá nhân trong đó người bán tìm hiểu, khám phá, gợi tạo và đáp ứng những nhu cầu hay ước muốn của người mua nhằm thực hiện quyền lợi thỏa đáng, lâu dài của hai bên (Giáo trình quản trị bán hàng – NXB Thống kê – 2012)
1.1.2 Các hình thức bán hàng chủ yếu
Trên cơ sở những quan điểm và khái niệm trên ta có có thể nói đơn giản rằng bán hàng là một khâu của quá trình thực hiện lưu thông hàng hóa nhằm đưa hàng hóa từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng bằng nhiều cách Bán hàng có hai hình thức chủ yếu nhất chính
là bán buôn và bán lẻ.
1.1.2.1 Hình thức bán buôn chính
Hình thức bán buôn hàng hóa bao gồm tất cả các hoạt động nhằm bán các hàng hóa và dịch vụ cho những người mua về để bán lại hoặc để kinh doanh hay tìm kiếm lợi nhuận của khách hàng Bán buôn được chia thành các loại hình như sau:
a Các cơ sở bán buôn hoàn chỉnh (các trung gian thương mại)
Bao gồm ba hình thức tổ chức đặc biệt là:
Trang 7 Các cơ sở bán buôn thương mại (tiến hành các dịch vụ thương mại cho người bán
b Các đại lý và môi giới bán buôn (các trung gian chức năng)
Đây là các trung gian chức năng Không sở hữu hàng hóa mà tiến hành các dịch vụ nhằm thúc đẩy việc phát triển sức bán, tiết kiệm chi phí tác nghiệp.
c Hình thức bán buôn qua đại diện thương mại
Đặc điểm của công nghệ này là nhà bán buôn từ các đại diện thương mại tiếp cận trực tiếp tới các tổ chức và doanh nghiệp thương mại bán lẻ mang các mẫu hàng
để giới thiệu và mời khách hàng mua hàng sau đó tiến hành thỏa thuận và ký kết hợp đồng lâu dài Thành công hay thất bại của phương thức này phần lớn phụ thuộc vào các đại diện thương mại, vào các thông tin mà đại diện thương mại chọn lựa đối tượng mời chào, phụ thuộc vào cách trình bày và giới thiệu hàng hóa.
Các đại diện thương mại của nhà bán buôn phải dẫn chứng các nét nổi bật của sản phẩm hoặc dịch vụ mà mình muốn bán, nêu được lợi ích của nó khi khách hàng có được và đưa ra những bằng cớ hiện thực chứng minh lời giới thiệu của đại diện thương mại là hoàn toàn đúng Và nếu như các khách hàng có những phản ứng, khước từ hoặc than phiền về hàng hóa, lúc này đòi hỏi các đại diện thương mại phải chuẩn bị các lý lẽ để thương lượng với khách hàng nhằm kết thúc bán hàng.
Chính vì vậy, nên công nghệ này chỉ áp dụng cho các mặt hàng mới hoặc đối với một thị trường mới hoặc chỉ áp dụng cho từng thương vụ kinh doanh.
d Hình thức bán buôn thông qua Catalogue
Công nghệ này có đặc điểm là những nhà bán buôn gửi catalogue tới các khách hàng trong khu vực bán lẻ, khu vực sản xuất công nghiệp hoặc tới các cơ quan
Trang 8khác nhằm giới thiệu các mặt hàng kinh doanh Hình thức này thường được áp dụng cho các mặt hàng như kim hoàn, mỹ phẩm, thực phẩm và đặc sản.
Khách hàng chủ yếu của công nghệ này là các doanh nghiệp bán lẻ và các doanh nghiệp sản xuất ở các khu vực thị trường lân cận.
Ưu điểm của công nghệ này là nó phản ánh sự hiện diện lâu dài, im lặng và chính xác, ngoài ra nó còn có ý nghĩa đối với khách hàng ở xa người bán thông qua đó giảm bớt sự cách biệt giữa người bán và người mua với vai trò cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết cho khách hàng về thông số kỹ thuật, giá cả, hình thức thanh toán… về sản phẩm Nhưng cũng chính vì vậy mà nó thường gây nhầm lẫn cho khách hàng do không trực tiếp tiếp xúc với hàng hóa.
e Hình thức bán buôn qua hội chợ triển lãm
Đây là công nghệ bán mà các nhà bán buôn thương mại có thể tự tổ chức và tham gia hội chợ nhằm trưng bày mặt hàng mới, cải tiến, tiểu thủ công nghiệp… qua đó tiếp xúc với các tổ chức kinh doanh, giao dịch nhận đơn đặt hàng và ký kết mua bán.
Công nghệ này cho phép người ta có thể quan sát diễn biến tình thế của thị trường với sản phẩm mà họ kinh doanh, có thể tiếp xúc với khách hàng tiềm năng, đối thoại với họ, nghe được những mong muốn và nhận xét của họ Cuối cùng, nó cho phép các nhà bán buôn gặp gỡ được các nhà sản xuất sản phẩm bổ xung, những nhà tái thầu hoặc các nhà cung cấp tiềm năng.
f Hình thức bán buôn qua đơn đặt hàng thương mại
Trên thực tế đơn đặt hàng này chỉ phù hợp với các khách hàng thường xuyên quen thuộc của các nhà bán buôn vì trong nội dung của đơn đặt hàng, người ta phải nêu được cụ thể hàng hóa mà họ định mua và những nội dung cần thiết để ký kết hợp đồng mua bán Nếu nhà bán buôn chấp thuận hoàn toàn đơn đặt hàng thì họ sẽ tiến hành ký kết hợp đồng, nếu không thì hai bên sẽ thương lượng lại, thỏa thuận và ký kết hợp đồng.
Tất cả đều phải tuân theo một quy trình sau: Đầu tiên doanh nghiệp thương mại bán buôn nhận đơn đặt hàng sau đó xử lý đơn đặt hàng rồi thông báo kết quả xử lý
Trang 9đơn đặt hàng cho các khách hàng, tiếp theo là thương lượng ký kết hợp đồng mua bán, chuẩn bị các hóa đơn chứng từ hàng hóa rồi giao hàng, cuối cùng thanh toán
và thanh lý hợp đồng mua bán.
g Hình thức bán buôn qua đại lý đặc quyền
Đây là một giao kèo mang tính hợp pháp xác định giữa chủ quyền và đại lý đặc quyền trong đó chỉ rõ nghĩa vụ và đặc quyền của mỗi bên Một nhà đại lý độc quyền có thể đại diện cho hai hoặc nhiều nhà chủ quyền có các mặt hàng mang tính chất bổ sung cho nhau Sự thỏa thuận giữa nhà chủ quyền và đại lý đặc quyền được thiết lập bằng văn bản trong đó qui định giá, khu vực hoạt động, việc bảo hành, thể thức xử lý đơn đặt hàng và mức hoa hồng.
Đại lý đặc quyền chỉ được bán hàng trong phạm vi lãnh thổ qui định bởi nhà chủ quyền Họ sử dụng hình thức này khi không có lực lượng bán riêng ở từng địa phương, để mở rộng khu vực hoạt động mới hoặc để đại diện cho nhà đặc quyền ở những nơi mà họ chưa có năng lực bán thường xuyên.
Tóm lại, với các hình thức bán buôn đa dạng trong hoạt động bán buôn các nhà sản xuất, các DN có nhiều cách thức để lựa chọn sao cho phù hợp với khả năng và nguồn lực mà mình có và phù hợp với mục tiêu đã định.
1.1.2.2 Hình thức bán lẻ phổ biến
Bán lẻ là hoạt động bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, không mang tính thương mại Các hình thức bán lẻ của doanh nghiệp thương mại gồm:
a Hình thức bán hàng truyền thống (cổ điển)
Mọi công việc bán và phục vụ khách hàng đều do nhân viên bán thực hiện, từ tiếp khách, xác định nhu cầu của họ đến bao gói, tính tiền và giao hàng Ngoài ra, nhân viên bán hàng còn thực hiện một số nhiệm vụ như giới thiệu hàng hóa, hướng dẫn khách hàng trong việc chọn hàng và chuẩn bị hàng hóa để giao.
Nơi công tác được ngăn cách giữa khách hàng và hàng hóa, khách hàng không được tự do đi lại tiếp xúc với hàng hóa.
Trang 10 Công nghệ này thường được áp dụng với tất cả các loại hàng hóa, đặc biệt là với các mặt hàng nông sản thực phẩm có giá trị cao và những mặt hàng tiêu thụ tương đối chậm.
Tuy nhiên, hạn chế của hình thức này là lực lượng lao động trong quá trình bán đông mà năng suất thấp, thời gian mua sắm của khách hàng bị kéo dài, bị lệ thuộc vào người bán nên sự thỏa mãn nhu cầu không cao.
b Hình thức bán hàng tự phục vụ
Đặc điểm của công nghệ này là hàng hóa được chuẩn bị chu đáo, sẵn sàng, được trưng bày để ngỏ ở các giá trưng bày và khách hàng sẽ chủ động trực tiếp tiếp cận hàng hóa mà mình định mua dưới sự định hướng gián tiếp hoặc trực tiếp của người bán Với hình thức bán hàng này sẽ không có nhân viên giao hàng, khách hàng lựa chọn trên các giá hàng cho vào giỏ hoặc xe đẩy sau đó trả tiền tại quầy thu ngân được đặt ở lối ra vào của cửa hàng.
Đặt biệt là không có sự phân biệt giữa diện tích dành cho khách và diện tích của người bán hàng (phòng bán hàng).
c Hình thức bán hàng qua máy bán hàng tự động
Là phương pháp sử dụng tự động thực hiện hai chức năng: nhận tiền và xuất hàng.
Ưu điểm của công nghệ này là thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng ở mọi lúc, mọi nơi, ít có hàng hỏng nhưng giá bán hàng hóa đối với công nghệ này thường đắt hơn từ 15%-20% so với công nghệ bán khác vì chi phí đặt hàng hóa vào nhiều máy trên địa bàn rộng, máy bị hỏng thường xuyên, rủi ro, mất cắp.
d Hình thức bán hàng qua bưu điện
Phương pháp này phần lớn sử dụng điện thoại để chào mời khách hàng Người bán
sử dụng điện thoại vừa để mời khách hàng mua bán hàng hóa, vừa để quản lý nợ nần, kiểm tra hàng tồn kho, giao hàng cho khách hàng và thực hiện một số dịch vụ sau bán.
Ưu thế của công nghệ này là đạt hiệu quả cao và nhanh chóng trong kinh doanh, nâng cao trình độ văn minh và hiệu quả phục vụ khách hàng.
Trang 11 Tuy nhiên, công nghệ này đòi hỏi mức sống của người dân phải cao, phù hợp với các quốc gia đã phát triển.
e Bán hàng qua hội chợ
Hình thức này hiện nay rất phổ biến ở nước ta.
Mục đích nguyên thủy của hội chợ triển lãm là giúp DN tìm kiếm khách hàng tiềm năng.
Tuy nhiên, các nhà sản xuất, kinh doanh thương mại còn sử dụng hình thức này như là nơi để mở rộng bán lẻ, tăng doanh thu.
f Bán hàng trên mạng Internet
Đây là hình thức bán hàng hiện đại nhất hiện nay nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin Không cần những quầy hàng ở địa điểm cụ thể, người mua chỉ cần lựa chọn loại hàng hóa mà họ thích trên mạng Internet sau đó trả tiền qua thẻ tín dụng hoặc một tài khoản ở ngân hàng.
Những hình thức này chỉ phù hợp với các quốc gia có mức sống phát triển.
1.1.3 Vai trò của hoạt động bán hàng
Theo Robert J Calvin, 2004 thì có bốn vai trò chính:
Thứ nhất, đối với các doanh nghiệp thì quá trình bán hàng có vai trò hết sức quan trọng Chính hoạt động bán hàng sẽ quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, cũng nhờ nó mà doanh nghiệp tự đánh giá được hàng hóa của mình sản xuất hay kinh doanh được xã hội chấp nhận ở mức độ nào Do vậy, hoạt động bán hàng vừa là công việc hàng ngày, vừa là mối quan tâm của các nhà kinh doanh.
Thứ hai, đối với các doanh nghiệp kinh doanh Thương mại thì bán hàng chính là khâu cuối cùng kết thúc quá trình lưu thông hàng hóa Trong thời đại ngày nay với việc bùng
nổ thông tin, sự phát triển như vũ bão trong lĩnh vực khoa học công nghệ thì việc bán hàng luôn bị cạnh tranh từ nhiều phía Thực tế, có những mặt hàng vừa được đưa ra thị trường, thậm chí còn đang trong giai đoạn nghiên cứu thì đã xuất hiện những mặt hàng khác ưu việt hơn làm cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội cũng thường xuyên thay đổi Thứ ba, nhờ có hoạt động bán hàng mà hàng hóa được chuyển thành tiền tệ, thực hiện vùng chu chuyển vốn trong doanh nghiệp và hoạt động chu chuyển kinh tế trong xã hội,
Trang 12đảm bảo phục vụ cho các nhu cầu xã hội, việc bán hàng có vai trò quyết định đối với việc thực hiện các mục tiêu và giải pháp mà doanh nghiệp theo đuổi thúc đẩy vòng lặp của quá trình tái sản xuất, qua đó tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng sức lao động góp phần thực hiện các mục tiêu của hoạt động kinh doanh.
Thứ tư, hoạt động bán hàng là một vấn đề hết sức cần thiết vì nó sẽ giúp cho doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh hơn, tiết kiệm được chi phí bảo quản, đem lại cho doanh nghiệp một khoản lợi nhuận lớn và chứng tỏ hàng hóa chiếm được lòng tin của khách hàng, tăng nhanh vị thế trên thị thường
1.2 Quản trị bán hàng
1.2.1 Khái niệm về quản trị bán hàng
Tôn Thất Hải và Hà Thị Thùy Dương, 2019 cho biết: “Quản trị bán hàng là hoạt động quản trị của những người thuộc lực lượng bán của doanh nghiệp bao gồm những hoạt động chính như phân tích, lập kế hoạch, thực hiện và kiểm tra hoạt động bán hàng Như vậy, quản trị bán hàng là một tiến trình kết hợp chặt chẽ từ việc thiết lập mục tiêu, chương trình bán hàng, đến việc tuyển dụng, huấn luyện, giám sát và đánh giá kết quả công việc của nhân viên”.
Theo James M.Comer, Quản trị bán hàng, 2 2 thì “Quản trị bán hàng là
hoạt động quản trị của những cá nhân thuộc đội ngũ bán hàng hoặc hỗ trợ trực tiếp
cho đội ngũ bán hàng”
Như vậy, quản trị bán hàng là một tiến trình kết hợp chặt chẽ từ việc thiết lập
mục tiêu cho nhân viên bán hàng, thiết kế chiến lược đến việc tuyển dụng, huấn
luyện, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện công việc của nhân viên bán hàng.
1.2.2 Mục tiêu của hoạt động quản trị bán hàng
Hoạt động của lực lượng bán hàng mang ý nghĩa quan trọng và là mũi nhọn tấn công chủ yếu của doanh nghiệp ra thị trường nhằm tiếp cận và thuyết phục khách hàng mua và sử dụng sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp Các công ty thành công đều có những mục tiêu
rõ ràng trong công tác quản trị bán hàng và những chiến lược cụ thể để đạt mục tiêu Mặc
dù những mục tiêu trong từng giai đoạn hay từng ngành hàng có thể khác nhau song về
cơ bản sẽ gồm hai loại:
Trang 13- Nhân sự hay hướng vào con người;
- Mục tiêu hướng vào doanh số, lợi nhuận.
1.2.2.1 Mục tiêu về nhân sự:
Mục tiêu này liên quan đến quá trình tuyển chọn nhân sự với những tiêu chuẩn được xây dựng khá kỹ lưỡng và rõ ràng, quá trình bồi dưỡng và đào tạo về chuyên môn, kỹ năng và cách thức quản lý tốt nhất đối với lực lượng bán hàng Để đạt được mục tiêu chung của công ty và mục tiêu riêng của bộ phận bán hàng thì cần phải có lực lượng bán hàng hết sức năng động, nhiệt tình, có năng lực và trách nhiệm với công việc cũng như sự đóng góp gắn bó tích cực vào tổ chức và hoạt động chung của toàn tổ chức Như vậy, công việc của đội ngũ quản lý là bằng mọi cách phải tuyển dụng và đào tạo được một lực lượng bán hàng chuyên nghiệp cũng như có chính sách thưởng phạt hợp lý với một phong cách lãnh đạo và quản trị đầy tính thuyết phục Để làm được điều này thì trọng tâm vẫn là mối quan
hệ giữa con người với con người mà cụ thể là giữa người quản lý và nhân viên của mình với sự nỗ lực của cả hai phía Sự phối hợp nhịp nhàng và tinh thần làm việc tập thể với hiệu suất cao sẽ đem lại sự thành công cho hoạt động kinh doanh của bộ phận bán hàng Như vậy, một người quản lý bán hàng sẽ được đánh giá dựa trên cách thức tuyển chọn, đào tạo, bố trí phân công đúng người đúng việc cũng như cung cách quản lý giám sát và động viên khuyến khích tinh thần chung của nhân viên trong lực lượng bán hàng Thông qua những hoạt động như trên, mục tiêu thứ nhất – hướng về nhân sự – đã được phát huy theo một phương thức phù hợp nhất.
1.2.2.2 Mục tiêu về doanh số, lợi nhuận:
Để đạt được mục tiêu về doanh số thì ngay từ người giám sát bán hàng ở cấp thấp nhất cũng phải biết đôn đốc nhân viên và có chiến lược hành động thật cụ thể; bên cạnh đó, người quản lý bán hàng ở cấp cao hơn cần có những cách thức kiểm soát và kích thích người giám sát bán hàng Như vậy, mục tiêu chung của công ty về doanh số và lợi nhuận mới thực sự phát huy và tiến triển tốt qua từng thời kỳ.
Thông qua doanh số và lợi nhuận, Ban giám đốc có thể xác định một cách rõ nét nhất thành quả làm việc của bộ phận bán hàng và có được những chính sách động viên hay
Trang 14điều chỉnh kịp thời Đây là mục tiêu không thể thiếu và mang ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động quản trị bán hàng.
1.2.3 Vai trò của hoạt động quản trị bán hàng
Quản trị bán hàng được coi là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng tạo nên thành công cho các công ty bán hàng, được thể hiện qua việc: quản trị bán hàng giúp bộ phận bán hàng phối hợp với các bộ phận khác như marketing, sản xuất, để hoàn thành chiến lược tổng thể mà công ty đề ra.
Thông qua hoạt động của quản trị bán hàng, công ty sẽ xây dựng được các mục tiêu và chiến lược bán hàng hiệu quả, tối ưu.
Thông qua quá trình quản trị bán hàng, công ty sẽ vận hành và kiểm soát hệ thống bán hàng một cách hiệu quả, hướng nguồn lực vào việc hoàn thành các mục tiêu đề ra.
Quản trị bán hàng với các biện pháp như kiểm tra, giám sát và khen thưởng là một trong những yếu tố hữu hiệu để khuyến khích nhân viên sáng tạo và năng động trong hoạt động bán hàng.
Quản trị bán hàng góp phần xây dựng một lực lượng bán hàng hiệu quả, xây dựng mối quan hệ với khách hàng thông qua việc chăm sóc khách hàng và các hoạt động khác của kênh phân phối.
1.3 Khái niệm cơ bản khác
1.3.1 Khái niệm thị trường
Theo Phan Thị Hà My, 2020 thì: “ Thị trường là môi trường cho phép người mua và người bán trao đổi hàng hóa, dịch vụ, thỏa mãn nhu cầu của cả hai bên về cung và cầu.” Theo quan điểm của các nhà hoạt động Marketing: “ Thị trường là một tập hợp những người mua thực tế và tiềm năng về một loại sản phẩm nào đó”.
Như vậy, thị trường thực hiện chức năng trung gian giữa người bán và người mua Ngoài
ra, thị trường còn là nơi kích thích các nhà sản xuất hoàn thiện sản phẩm của mình ngày càng tốt hơn.
1.3.2 Khái niệm sản phẩm
Lưu Hà Chi, 2022 cho biết rằng: “ Sản phẩm là bất cứ cái gì có thể đưa vào thị trường để tạo sự chú ý, mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng nhằm thỏa mãn một nhu cầu hay ước
Trang 15muốn Nó có thể là những vật thể, dịch vụ, con người, địa điểm, tổ chức hoặc một ý tưởng”.
Ngoài ra, mỗi sản phẩm gồm có những đặc điểm và thuộc tính hữu hình cũng như vô hình Tổng thể của một sản phẩm là sự kết hợp của rất nhiều yếu tố như: sản phẩm cốt lõi, sản phẩm hiện thực, Sự kết hợp các yếu tố nhằm thõa mãn nhu cầu và ước muốn ngày càng cao của người tiêu dùng.
1.3.3 Khái niệm về khách hàng
Minh Tú, 2021 cho hay khách hàng được chia làm hai loại: “Thứ nhất, trong Marketing, khách hàng là những cá nhân hoặc tổ chức mua các sản phẩm hoặc dịch vụ từ các cửa hàng, cửa tiệm, doanh nghiệp sản xuất, hoặc chỉ đơn giản là có nhu cầu mua các sản phẩm hoặc dịch vụ đó Không có khách hàng, doanh nghiệp không thể tồn tại Thứ hai, trong các lĩnh vực kinh doanh cần sự tư vấn chuyên nghiệp như tài chính, đầu tư, luật pháp thì khách hàng chính là những cá nhân hay tổ chức mua các sản phẩm hoặc dịch
vụ nhờ vào sự tư vấn từ những chuyên gia Nếu dịch sang Tiếng Anh thì trong trường hợp này, khách hàng chính là client.”
Như vậy, khách hàng là người hoặc có thể là cá nhân hay một tập thể, tổ chức, thực hiện các giao dịch mua bán hàng hóa hay dịch vụ với các cơ sở sản xuất, dịch vụ, cửa hàng.
1.4 Cơ sở nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng
1.4.1 Chiến lược tổng thể công ty
Chiến lược ở cấp doanh nghiệp liên quan đến việc lựa chọn các hoạt động kinh doanh ở
đó các đơn vị kinh doanh phải cạnh tranh, đồng thời có sự phát triển và phối kết hợp giữa các đơn vị với nhau.
Chiến lược tổng thể của doanh nghiệp có các đặc điểm :
Định hướng mục tiêu chung và nhiệm vụ của doanh nghiệp : Bao gồm việc xác định các mục tiêu, các dạng hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp sẽ tiến hành
và cách thức quản lý và phối kết hợp các hoạt động.
Định hướng cạnh tranh : Đó là việc xác định thị trường hoặc đoạn thị trường mà doanh nghiệp sẽ cạnh tranh.
Trang 16 Quản lý các hoạt động kinh doanh độc lập và mối quan hệ giữa chúng : Chiến lược tổng thể nhằm vào phát triển và khai thác tính cộng hưởng (synergy) giữa các hoạt động thông qua việc phân chia và phối kết hợp các nguồn lực giữa các đơn vị độc lập hoặc giữa các hoạt động riêng rẽ.
Thực hành quản trị : Chiến lược cấp doanh nghiệp cho phép xác định cách thức quản lý các đơn vị kinh doanh hoặc các nhóm hoạt động Doanh nghiệp có thể thực hiện công tác quản lý thông qua việc can thiệp trực tiếp (đối với phương thức quản lý tập quyền) hoặc tạo sự tự chủ quản lý cho các đơn vị kinh doanh (đối với phương thức quản lý phân quyền) trên cơ sở sự tin tưởng.
Doanh nghiệp có nhiệm vụ sáng tạo giá trị gia tăng thông qua việc quản lý danh mục tất
cả các hoạt động kinh doanh của mình, đảm bảo sự thành công đối với mỗi hoạt động trong dài hạn, phát triển các đơn vị kinh doanh và hơn nữa đảm bảo các hoạt động được phối kết hợp hài hòa với nhau.
1.4.2 Phân tích môi trường
Hoạt động quản trị bán hàng không thể tách rời giữa con người với tổ chức, doanh nghiệp với môi trường kinh doanh Khi doanh nghiệp hoạt động tại các thị trường, doanh nghiệp
sẽ chịu sự tác động từ các yếu tố của môi trường như chính sách pháp lý, dân số, công nghệ Do vậy các hoạt động quản trị bán hàng phải được thiết lập và tiến hành theo hướng phù hợp và mang lại hiệu quả nhất Môi trường hoạt động quản trị bán hàng được J.M.Comer mô tả bảng hình sau:
Trang 17Môi trường quản trị bán hàng
(Nguồn: Quản trị bán hàng, J.M.Comer, 2005)
Nhìn vào hình ảnh ở trên, ta thấy rằng hoạt động quản trị bán hàng chịu sự tác động bởi môi trường bên ngoài và môi trường bên trong Môi trường bên ngoài bao gồm các yếu tố như chính trị, luật pháp, kinh tế, văn hóa, tình hình cạnh tranh Việc thay đổi trong chính sách pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh và ngành hàng sẽ làm cho doanh nghiệp cũng phủ thay đổi theo và từ đó tác động đến chính sách quản trị bán hàng Yếu tố bên trong bao gồm các phòng ban trong công ty và mối quan hệ ngay trong nội bộ doanh nghiệp Sự phối hợp nhịp nhưng giữa các phòng như phòng nhân sự, phòng kế toàn, bộ phận sản xuất với phòng bán hàng sẽ làm tăng khả năng cung ứng hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp và có tình hưởng mạnh mẽ đến việc hoạch định chính sách bán hàng Do
đó việc phân tích môi trường sẽ góp phần quan trong trong việc xây dựng chính sách bán hàng, xây dựng và quản lý lực lượng bán hàng và cũng là một trong những cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng
1.4.3 Kỹ thuật phân tích ma trận SWOT
Ma trận SWOT là một ma trận tổng hợp các cơ hội và đe dọa từ bên ngoài, điểm mạnh và điểm yếu của công ty nhằm xây dựng các phương án chiến lược hành động Phương pháp phân tích SWOT dựa trên việc đánh giá một cách chủ quan các dữ liệu được sắp xếp theo định dạng SWOT dưới một trật tự logie dễ hiểu, dễ trình bày và dễ đưa ra các quyết định.
Trang 18Mô hình phân tích SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc năm bắt và ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất cứ tổ chức nào
Mô hình phân tích SWOT thích hợp cho việc đánh giá hiện trung của công ty thông qua việc phân tích tình hình bên trong và bên ngoài công ty Xây dựng mà trận SWOT và các chiến lược hành đồng được mô tả theo hàng sau:
Bảng phân tích ma trận SWOT
(Nguồn: Lê Đăng Lăng, Kỹ năng và quản trị bán hàng)
Việc xây dựng mà trận SWOT không chỉ giúp công ty nhận ra những tác động có lợi, các
cơ hội và ảnh hưởng bất lợi, nguy cơ từ môi trường bên ngoài đồng thời giúp công ty nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu của mình Trên cơ sở đó hình thành các chiến lược hình động nhằm phát huy điểm mạnh, tận dụng cơ hội, khắc phục điểm yếu và hạn chế nguy cơ Trong hoạt động quản trị bán hàng thì việc áp dụng ma trận SWOT sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng các chiến lược nhằm khai thác những cơ hội thị trường, hạn chế áp lực cạnh tranh từ đối thủ, hoàn thiện các quy trình bán hàng cũng như nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Trang 191.4.4 Một số kỹ năng quản trị bán hàng hiệu quả
Để nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng thì bên cạnh chiến lược tổng thể công ty, phân tích môi trường thì cần phải có những kỹ năng trong việc quản trị bán hàng một cách hiệu quả Một số kỹ năng cần thiết góp phần nâng cao hiệu quả quan trị bản hàng là:
- Kỹ năng hoạch định
Hoạch định là một kỹ năng quan trọng trong hoạt động quan trị bán hàng Hoạch định giúp cho nhà quản trị vạch ra những kế hoạch và chương trình hành động cũng như biết được thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc một cách hiệu quả Bên cạnh đó hoạch định còn giúp cho nhà quản trị xây dựng các chiến lược hành động cũng như nằm bắt được toàn bộ quy trình nhằm thực hiện mục tiêu bản hàng đề ra.
Trong kinh doanh mà đặc biệt là trong khâu tổ chức ban hàng thì việc xác định địa bàn và quản lý địa bàn là nhiệm vụ quan trọng ảnh hưởng tới doanh số bán hàng cũng như việc khai thác tối đa tiềm năng của mỗi khu vực Hoạt động quản trị bán hàng bao hàm trong đó là quan trị từng khu vực địa bàn Mỗi khu vực địa bàn bao gồm: khách hàng là nguồn tạo ra doanh số và đối thủ là ngành cạnh tranh với công
ty Việc quản lý địa bàn hiệu quả sẽ góp phần quan trọng trong việc quản lý khách hàng tức là quản lý nguồn doanh thu của công ty đồng thời giảm sát những đối thủ nhằm có những chính sách để phòng và ứng phó kịp thời trước sự cạnh tranh đến
từ đối thủ
- Kỹ năng lãnh đạo và động viên
Bên cạnh kỹ năng quản trị thì kỹ năng lãnh đạo cũng góp phần quan trọng trong việc quản lý hiệu quả tổ chức bán hàng Nếu như các kỹ năng quản trị thiên về các nguyên tắc, hành động, kết quả và thực hiện theo những kế hoạch đềm còn lãnh đạo là quan hệ với con người và thích ứng với sự thay đổi Hai kỹ năng này không xung khác mà nó hỗ trợ bổ sung cho nhau giúp vận hành một tổ chức bán hàng hoạt động một cách hiệu quả vừa theo quy trình vừa thay đổi để thích ứng.
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh
1.5.1 Ảnh hưởng từ môi trường vĩ mô
Trang 20Môi trường vĩ mô là những lực lượng tác động bên ngoài to lớn Nó quyết định trực tiếp đến môi trường vĩ mô trong marketing của các doanh nghiệp trong toàn ngành, thậm chí trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Dựa vào đó, ta có thể phân tích môi trường vĩ mô qua những yếu tố sau:
- Kinh tế
Môi trường kinh tế bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến sức mua của khách hàng
và cách thức tiêu dùng Thị trường cần có sức mua cũng như người mua Tổng sức mua tuỳ thuộc vào thu nhập hiện tại, giá cả, tiền tiết kiệm và tín dụng.
Những người làm thuộc môi trường vĩ mô trong marketing cần phải lưu ý các xu hướng chính trong thay đổi thu nhập và các động thái thay đổi tiêu dùng của khách hàng Các thay đổi trong những biến số kinh tế chủ yếu như thu nhập, tỉ trọng thu nhập dành cho tiêu dùng, cơ cấu chi tiêu, tiền tiết kiệm, hay vay mượn có một tác động rất lớn trên thị trường cũng góp phần làm thay đổi một phần môi trường vĩ
mô trong marketing
- Tự nhiên
Môi trường tự nhiên bao gồm môi trường sinh thái, thời tiết, khí hậu, tài nguyên, năng lượng Các nhà quản trị phân tích môi trường vĩ mô trong marketing cần xem xét các cơ hội và đe doạ có liên quan đến các xu hướng chính trong sự biến đổi của môi trường tự nhiên: sự khan kiếm các nguồn nguyên liệu, mức độ ô nhiễm ngày càng gia tăng, chi phí năng lượng ngày càng gia tăng, sự can thiệp mạnh mẽ của chính quyền trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên.
Trang 21- Nhân sự hay hướng vào con người;
- Mục tiêu hướng vào doanh số, lợi nhuận.
1.2.2.1 Mục tiêu về nhân sự:
Mục tiêu này liên quan đến quá trình tuyển chọn nhân sự với những tiêu chuẩn được xâydựng khá kỹ lưỡng và rõ ràng, quá trình bồi dưỡng và đào tạo về chuyên môn, kỹ năng vàcách thức quản lý tốt nhất đối với lực lượng bán hàng Để đạt được mục tiêu chung củacông ty và mục tiêu riêng của bộ phận bán hàng thì cần phải có lực lượng bán hàng hếtsức năng động, nhiệt tình, có năng lực và trách nhiệm với công việc cũng như sự đónggóp gắn bó tích cực vào tổ chức và hoạt động chung của toàn tổ chức Như vậy, công việccủa đội ngũ quản lý là bằng mọi cách phải tuyển dụng và đào tạo được một lực lượng bánhàng chuyên nghiệp cũng như có chính sách thưởng phạt hợp lý với một phong cách lãnh
Trang 22Như vậy, một người quản lý bán hàng sẽ được đánh giá dựa trên cách thức tuyển chọn,đào tạo, bố trí phân công đúng người đúng việc cũng như cung cách quản lý giám sát vàđộng viên khuyến khích tinh thần chung của nhân viên trong lực lượng bán hàng Thôngqua những hoạt động như trên, mục tiêu thứ nhất – hướng về nhân sự – đã được phát huytheo một phương thức phù hợp nhất.
1.2.2.2 Mục tiêu về doanh số, lợi nhuận:
Để đạt được mục tiêu về doanh số thì ngay từ người giám sát bán hàng ở cấp thấp nhấtcũng phải biết đôn đốc nhân viên và có chiến lược hành động thật cụ thể; bên cạnh đó,người quản lý bán hàng ở cấp cao hơn cần có những cách thức kiểm soát và kích thíchngười giám sát bán hàng Như vậy, mục tiêu chung của công ty về doanh số và lợi nhuậnmới thực sự phát huy và tiến triển tốt qua từng thời kỳ
Thông qua doanh số và lợi nhuận, Ban giám đốc có thể xác định một cách rõ nét nhấtthành quả làm việc của bộ phận bán hàng và có được những chính sách động viên hay
Trang 23điều chỉnh kịp thời Đây là mục tiêu không thể thiếu và mang ý nghĩa quan trọng đối vớihoạt động quản trị bán hàng.
1.2.3 Vai trò của hoạt động quản trị bán hàng
Quản trị bán hàng được coi là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng tạo nênthành công cho các công ty bán hàng, được thể hiện qua việc: quản trị bán hàng giúp bộphận bán hàng phối hợp với các bộ phận khác như marketing, sản xuất, để hoàn thànhchiến lược tổng thể mà công ty đề ra
Thông qua hoạt động của quản trị bán hàng, công ty sẽ xây dựng được các mục tiêu vàchiến lược bán hàng hiệu quả, tối ưu
Thông qua quá trình quản trị bán hàng, công ty sẽ vận hành và kiểm soát hệ thống bánhàng một cách hiệu quả, hướng nguồn lực vào việc hoàn thành các mục tiêu đề ra
Quản trị bán hàng với các biện pháp như kiểm tra, giám sát và khen thưởng là một trongnhững yếu tố hữu hiệu để khuyến khích nhân viên sáng tạo và năng động trong hoạt độngbán hàng
Quản trị bán hàng góp phần xây dựng một lực lượng bán hàng hiệu quả, xây dựng mốiquan hệ với khách hàng thông qua việc chăm sóc khách hàng và các hoạt động khác củakênh phân phối
1.3 Khái niệm cơ bản khác
1.3.1 Khái niệm thị trường
Theo Phan Thị Hà My, 2020 thì: “ Thị trường là môi trường cho phép người mua vàngười bán trao đổi hàng hóa, dịch vụ, thỏa mãn nhu cầu của cả hai bên về cung và cầu.”
Trang 241.3.2 Khái niệm sản phẩm
Lưu Hà Chi, 2022 cho biết rằng: “ Sản phẩm là bất cứ cái gì có thể đưa vào thị trường đểtạo sự chú ý, mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng nhằm thỏa mãn một nhu cầu hay ước
Trang 25Ngoài ra, mỗi sản phẩm gồm có những đặc điểm và thuộc tính hữu hình cũng như vôhình Tổng thể của một sản phẩm là sự kết hợp của rất nhiều yếu tố như: sản phẩm cốtlõi, sản phẩm hiện thực, Sự kết hợp các yếu tố nhằm thõa mãn nhu cầu và ước muốnngày càng cao của người tiêu dùng
1.3.3 Khái niệm về khách hàng
Minh Tú, 2021 cho hay khách hàng được chia làm hai loại: “Thứ nhất, trong Marketing,khách hàng là những cá nhân hoặc tổ chức mua các sản phẩm hoặc dịch vụ từ các cửahàng, cửa tiệm, doanh nghiệp sản xuất, hoặc chỉ đơn giản là có nhu cầu mua các sảnphẩm hoặc dịch vụ đó Không có khách hàng, doanh nghiệp không thể tồn tại Thứ hai,trong các lĩnh vực kinh doanh cần sự tư vấn chuyên nghiệp như tài chính, đầu tư, luậtpháp thì khách hàng chính là những cá nhân hay tổ chức mua các sản phẩm hoặc dịch
vụ nhờ vào sự tư vấn từ những chuyên gia Nếu dịch sang Tiếng Anh thì trong trường hợpnày, khách hàng chính là client.”
Như vậy, khách hàng là người hoặc có thể là cá nhân hay một tập thể, tổ chức, thựchiện các giao dịch mua bán hàng hóa hay dịch vụ với các cơ sở sản xuất, dịch vụ, cửahàng
1.4 Cơ sở nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng
1.4.1 Chiến lược tổng thể công ty
Chiến lược ở cấp doanh nghiệp liên quan đến việc lựa chọn các hoạt động kinh doanh ở
đó các đơn vị kinh doanh phải cạnh tranh, đồng thời có sự phát triển và phối kết hợp giữacác đơn vị với nhau
Chiến lược tổng thể của doanh nghiệp có các đặc điểm :
Định hướng mục tiêu chung và nhiệm vụ của doanh nghiệp : Bao gồm việc xácđịnh các mục tiêu, các dạng hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp sẽ tiến hành
và cách thức quản lý và phối kết hợp các hoạt động
Định hướng cạnh tranh : Đó là việc xác định thị trường hoặc đoạn thị trường màdoanh nghiệp sẽ cạnh tranh
Trang 26 Quản lý các hoạt động kinh doanh độc lập và mối quan hệ giữa chúng : Chiến lượctổng thể nhằm vào phát triển và khai thác tính cộng hưởng (synergy) giữa các hoạtđộng thông qua việc phân chia và phối kết hợp các nguồn lực giữa các đơn vị độclập hoặc giữa các hoạt động riêng rẽ.
Thực hành quản trị : Chiến lược cấp doanh nghiệp cho phép xác định cách thứcquản lý các đơn vị kinh doanh hoặc các nhóm hoạt động Doanh nghiệp có thểthực hiện công tác quản lý thông qua việc can thiệp trực tiếp (đối với phương thức