Untitled KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA NGHỆ THUẬT TIỂU LUẬN THỰC TIỄN TRONG VĂN HÓA NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA TẠI NGHỆ AN Giảng viên GS NGUYỄN CHÍ BỀN Học viên QUÁCH THỊ CƯỜNG Hà Nội, 2022.
Trang 1KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA NGHỆ THUẬT
-
TIỂU LUẬN THỰC TIỄN TRONG VĂN HÓA
NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN TRONG LĨNH VỰC
VĂN HÓA TẠI NGHỆ AN
Giảng viên: GS NGUYỄN CHÍ BỀN
Học viên: QUÁCH THỊ CƯỜNG
Hà Nội, 2022
Trang 2I Tổng quát về thực tiễn, thực tiễn trong văn hóa
1 Khái niệm thực tiễn
Thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của triết học Mác –Lênin nói chung và của lý luận nhận thức Mácxít nói riêng, đây là một phạm trù đãđược nghiên cứu từ rất lâu với nhiều quan điểm khác nhau:
Chủ nghĩa duy tâm chỉ hiểu thực tiễn như là hoạt động tinh thần sáng tạo rathế giới của con người, chứ không xem nó là hoạt động vật chất, là hoạt động lịch
2 Một số đặc điểm của thực tiễn
Trước hết, hoạt động thực tiễn là hoạt động mà con người sử dụng nhữngcông cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật chất làm biến đổi chúng theonhững mục đích của mình
Thực tiễn là hoạt động vật chất có mục đích Hoạt động thực tiễn là hoạtđộng bản chất của con người Nói vậy tức là chỉ có con người mới có hoạt độngthực tiễn Con vật không hoạt động thực tiễn Chúng chỉ hoạt động theo bản năngnhằm mục đích thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài Ngược lại,con người hoạt động có mục đích rõ ràng nhằm cải tạo thế giới để thỏa mãn nhucầu của mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới và làm chủ thếgiới Con người không thể thỏa mãn với những gì có sẵn trong tự nhiên Con người
Trang 3phải tiến hành lao động sản xuất của cải vật chất để nuôi sống mình Để lao độnghiệu quả, con người phải chế tạo và sử dụng công cụ lao động Như thế, bằng hoạtđộng thực tiễn, trước hết là lao động sản xuất, con người tạo ra những vật phẩmvốn không có sẵn trong tự nhiên Không có hoạt động thực tiễn, con người và xãhội loài người không thể tồn tại và phát triển được
Tuy nhiên, không phải mọi hoạt động có mục đích của con người đều là thựctiễn Hoạt động tư duy, hoạt động nhận thức hay hoạt động nghiên cứu khoa họcđều là những hoạt động có mục đích của con người Tuy nhiên, chúng không phải
là hoạt động thực tiễn.Đây là những hoạt động tinh thần, là hoạt động trong hệ thầnkinh trung ương của bộ não người chứ không phải diễn ra ngoài thực tế
Hoạt động thực tiễn còn mang tính lịch sử – xã hội Thực tiễn luôn là dạnghoạt động cơ bản và phổ biến của xã hội loài người mặc dù trình độ và các hìnhthức hoạt động thực tiễn có những thay đổi qua các giai đoạn lịch sử Hoạt động đóchỉ có thể được tiến hành trong các quan hệ xã hội Thực tiễn có quá trình vậnđộng và phát triển của nó Trình độ phát triển của thực tiễn nói lên trình độ chinhphục tự nhiên và làm chủ xã hội của con người
Hoạt động thực tiễn ở mỗi thời đại là khác nhau, tùy thuộc tình hình đấtnước mà hoạt động thực tiễn lại biểu hiện khác nhau Do đó, thực tiễn mang tínhlịch sử- xã hội cho từng thời đại
3 Vai trò của thực tiễn
Thực tiễn có vai trò rất quan trọng, đặc biệt là đối với nhận thức
Thứ nhất, thực tiễn là cơ sở, mục đích, là động lực chủ yếu và trực tiếp củanhận thức:
Thực tiễn là cơ sở của nhận thức Điều này có nghĩa là thực tiễn cung cấp tàiliệu cho nhận thức, cho lý luận Mọi tri thức dù trực tiếp hay gián tiếp đối với
Trang 4người này hay người kia, thế hệ này hay thế hệ khác, ở trình độ kinh nghiệm hay lýluận, xét đến cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn Bằng hoạt động thực tiễn, con ngườitác động vào thế giới, buộc thế giới phải bộc lộ những thuộc tính, những tính quyluật để cho con người nhận thức chúng Sở dĩ như vậy, bởi con người quan hệ vớithế giới không phải bắt đầu bằng lý luận mà bằng thực tiễn Chính từ trong quátrình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới mà nhận thức ở con người được hìnhthành và phát triển Ban đầu, con người thu nhận những tài liệu cảm tính Sau đó,con người tiến hành so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa…
để phản ánh bản chất, quy luật vận động của các sự vật, hiện tượng trong thế giới,
từ đó xây dựng thành các khoa học, lý luận
Thực tiễn là mục đích của nhận thức Thực tiễn là mục đích của nhận thức vìnhận thức dù về vấn đề khía cạnh hay ở lĩnh vực gì đi chăng nữa thì cũng phảiquay về phục vụ thực tiễn Nhận thức mà không phục vụ thực tiễn thì không phải
là “nhận thức” theo đúng nghĩa Do vậy, kết quả nhận thức phải hướng dẫn chỉ đạothực tiễn Lý luận, khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vàothực tiễn, cải tạo thực tiễn
Thực tiễn là động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức Thực tiễn là độnglực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức là thực tiễn cung cấp năng lượng nhiều nhất,nhanh chóng nhất giúp con người nhận thức ngày càng toàn diện và sâu sắc về thếgiới Trong quá trình hoạt động thực tiễn làm biến đổi thế giới, con người cũngbiến đổi luôn cả bản thân mình, phát triển năng lực thể chất, trí tuệ của mình Nhờ
đó, con người ngày càng đi sâu vào nhận thức thế giới, khám phá những bí mật củathế giới, làm phong phú và sâu sắc tri thức của mình về thế giới
Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhậnthức Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng kết kinh nghiệm,
Trang 5khái quát lý luận, nó thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các ngành khoa học Khoahọc ra đời chính vì chúng cần thiết cho hoạt động thực tiễn của con người.
Thứ hai, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý Theo các nhà kinh điển của triếthọc Mác – Lênin đã khẳng định: vấn đề tìm hiểu xem tư duy con người có thể đạttới chân lý khách quan hay không hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận, mà
là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân
lý Tất nhiên, nhận thức khoa học có tiêu chuẩn riêng, đó là tiêu chuẩn logic nhưngtiêu chuẩn logic không thể thay thế cho tiêu chuẩn thực tiễn và xét đến cùng nócũng phụ thuộc vào tiêu chuẩn thực tiễn Tiêu chuẩn thực tiễn không cho phép biếnnhững tri thức của con người thành những chân lý tuyệt đích cuối cùng Trong quátrình phát triển của thực tiễn và nhận thức, những tri thức đạt được trước kia vàhiện nay vẫn phải thường xuyên chịu kiểm nghiệm bởi thực tiễn tiếp theo, tiếp tụcđược thực tiễn bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa và phát triển hoàn thiện hơn
II Thực tiễn trong văn hóa
1 Thực tiễn trong văn hóa Việt Nam
Văn hóa là một trong bốn trụ cột của quá trình phát triển kinh tế - xã hội ởViệt Nam Như vậy, khi nhận thức vị trí, vai trò của văn hóa trong sự nghiệp đổimới, Đảng luôn xác định văn hóa là mặt trận ảnh hưởng không nhỏ đến sự tồnvong và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng luôn nhấtquán tư duy văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, mục tiêu và động lực pháttriển bền vững đất nước
Hiếm có một chính đảng nào trên thế giới như Đảng Cộng sản Việt Nam khichưa giành được chính quyền thì ngay từ năm 1943 đã thông qua Đề cương vănhóa, trong đó phác thảo những nét lớn về xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong
Trang 6hiện tại và tương lai với nguyên tắc: dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa;đồng thời khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với cách mạng văn hóa.
Hiếm có một lãnh tụ nào sâu sát đời sống nhân dân, tình hình đất nước vàthế giới, nên chỉ ngay sau ngày lập nước, ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đãchủ trì cuộc họp Chính phủ lâm thời thông qua 6 nhiệm vụ cấp bách, mà 4 trong 6nhiệm vụ đó liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới văn hóa Đó là diệt giặc dốt; tiếnhành tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu; xóa bỏ tệ nạn thuốc phiện;thực hành chính sách tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết Ngay từ lúc đó, HồChủ tịch đã nhấn mạnh: “Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dântộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Namđộc lập” Theo tinh thần đó, ngày 24/11/1946, Hồ Chủ tịch đã đích thân chủ trì Hộinghị văn hóa toàn quốc, nêu rõ vai trò và nhiệm vụ chủ yếu của văn hóa trong côngcuộc kháng chiến và kiến quốc, khẳng định văn hóa là một mặt trận, người làm vănhóa thực sự là chiến sĩ; kêu gọi toàn Đảng, toàn dân thực hiện tốt phương châm
“kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến” “Văn hóa phải soi đườngcho quốc dân đi” đã là tư tưởng chủ đạo trong toàn bài nói chuyện của Người tạiHội nghị này
Từ ngay sau phiên họp thứ nhất ngày 3/9/1945, Bác Hồ đã nêu ra những nộidung rất cụ thể của nhiệm vụ văn hóa: “trong một năm phải thanh toán cho xongnạn mù chữ”, “phải học đạo đức công dân, phổ thông chính trị”, “để trả lời cho thếgiới biết nước ta là nước văn minh” Trong bộn bề công việc, Người vẫn dành thờigian viết tác phẩm “Đời sống mới”, chỉ rõ nội hàm và vị trí, nhiệm vụ quan trọngcủa việc xây dựng đời sống mới Theo Người: “Đời sống mới không phải cái gì cũcũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ Cái gì
cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý Cái gì cũ màtốt thì phải phát triển thêm Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm.”
Trang 7Suy cho cùng, muốn thực hiện được những mục tiêu ấy, phải có đội ngũ cán
bộ làm văn hóa, vừa hiểu biết văn hóa, vừa phải thấm nhuần đạo đức cách mạng:cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư
Quán triệt những quan điểm của Đảng và Bác Hồ về nhiệm vụ xây dựng vàphát triển nền văn hóa Việt Nam trong từng thời kỳ lịch sử, chúng ta đã đạt nhữngthành tựu bước đầu có ý nghĩa Trước hết, đó là việc phát động một phong trào vănhóa quần chúng trong các cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹxâm lược, mà nổi bật là phong trào “Tiếng hát át tiếng bom” không chỉ trong cáclực lượng vũ trang, mà còn lan rộng trong các tầng lớp nhân dân, khơi gợi lòng yêunước, cổ vũ ý chí “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, khôngchịu làm nô lệ”; động viên toàn dân vượt qua mọi gian khó, hy sinh để làm nênmột Điện Biên “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; tiếp sau đó là Đại thắngmùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào ngày 30/4/1975lịch sử
Sau 12 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, cùng với những thànhtựu to lớn về kinh tế, xã hội, an ninh - quốc phòng, đối ngoại; trên lĩnh vực văn hóaxuất hiện những hiện tượng không lành mạnh, tác động tiêu cực đến đời sống xãhội, mà nổi bật nhất là sự xuống cấp trong đạo đức, lối sống Vì lẽ đó, năm 1998,BCH Trung ương Đảng (khóa VIII) đã ra Nghị quyết 03 về “Xây dựng và pháttriển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Sau 15 năm thựchiện Nghị quyết này, BCH Trung ương khóa XI lại ban hành Nghị quyết số 33 về
“Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triểnbền vững đất nước” Thực hiện hai nghị quyết quan trọng này, nước ta đã đạt đượcnhững thành tựu đáng ghi nhận, thể hiện ở mấy điểm nổi bật: 1/ Nhận thức về “sứcmạnh mềm” của văn hóa được nâng lên - đó là cơ sở đề ra những chủ trương,quyết định thích hợp; 2/ Hình thành các sản phẩm văn hóa đa dạng, phong phú của
Trang 854 dân tộc anh em, góp sức tích cực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển; 3/ Nguồnlực xã hội được huy động cùng với sự đầu tư Nhà nước cho văn hóa từng bướcđược tăng lên; 4/ Các văn bản pháp lý về quản lý văn hóa tiếp tục được bổ sung,hoàn thiện; 5/ Tính định hướng ngày càng được rõ nét trong chỉ đạo phát triển vănhóa: phát huy tối đa truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, bồi đắp chủ nghĩayêu nước và nhân văn Việt Nam, tiếp thu có chọn lọc các yếu tố tiên tiến của vănhóa thế giới; 6/ Giao lưu và hợp tác quốc tế được mở rộng, bạn bè thế giới ngàycàng hiểu rõ văn hóa Việt Nam, đất nước Việt Nam và con người Việt Nam; 7/Phong trào văn hóa quần chúng được mở rộng, chất lượng được nâng lên, đặc biệt
là “Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở” được lan tỏa
và phát huy tác dụng; 8/ Hoạt động của các cơ quan báo chí, truyền thông ngàycàng đóng góp tích cực trong việc giáo dục, nâng cao nhận thức của cán bộ, nhândân về vai trò văn hóa; tham gia phát hiện, cổ vũ những nhân tố mới, người tốt việctốt, góp phần bồi đắp CHÂN - THIỆN - MỸ…
Vậy vấn đề gì cần được đặc biệt quan tâm hiện nay để thúc đẩy sự phát triểnvăn hóa theo các định hướng của Nghị quyết số 33 Trước hết, cần nhấn mạnh, đó
là việc tiếp tục nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về vai trò,
sứ mệnh quan trọng đặc biệt của nhiệm vụ xây dựng văn hóa gắn chặt với xâydựng con người Con người vừa là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, văn hóa; nhưngchính văn hóa cũng tạo ra con người và hoàn thiện nhân cách con người - mà cụthể là con người Việt Nam trong thời đại công nghiệp 4.0 với rất nhiều thời cơ vàthách thức Các đặc tính yêu nước, trung thực, đoàn kết là rất cần, nhưng không thểkhông nhấn các đặc tính nhân ái, nghĩa tình, cần cù, sáng tạo Chúng ta đã và đangchứng kiến nhiều cảnh tượng đau lòng: con giết cha, vợ giết chồng, em giết chị,bạn thân giết bạn thân… chỉ vì giành giật đồng tiền lợi nhuận trong hợp tác buônbán, đầu tư; thậm chí chỉ vì tranh giành một mét vuông đất lối đi vào nhà Nếu chỉ
Trang 9thỏa mãn với cách nói có vẻ “tròn trịa” về lý luận: phát triển kinh tế là trọng tâm,xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, màngười lãnh đạo các cấp không hiểu thấu đáo nội hàm “nền tảng tinh thần” thì rất dễxây dựng kế hoạch phát triển văn hóa tại địa bàn một cách hình thức “cho xongchuyện”; và vì thế, dẫn đến thực trạng đầu tư tản mạn, chắp vá, tùy tiện, không đạtđược kết quả mong muốn Từ nhận thức không đầy đủ, dẫn đến sự chỉ đạo lệch lạc;một số nơi có biểu hiện chủ quan, áp đặt, duy ý chí Khi cuộc sống ở từng làng xã,khóm ấp không bảo đảm an ninh, an toàn cho cộng đồng và từng con người thìcách giải quyết thiếu đồng bộ, nghĩa là phải giải quyết đồng thời về kinh tế và vănhóa, mà nhiều khi lấy tình làng nghĩa xóm, truyền thống yêu thương gia đình, dòng
họ để giải quyết theo phương châm “hòa giải”; thì lại quá nhấn mạnh biện pháphành chính, pháp luật…
Từ nhận thức phải đi tới hành động; nói cách khác, cần tổ chức thực hiệnmột cách bài bản, đồng bộ, sát thực với tình hình từng địa bàn Ngày 16/6/2008,
Bộ Chính trị (khóa X) ra Nghị quyết chuyên đề về “Xây dựng, phát triển văn học,nghệ thuật Việt Nam trong thời kỳ mới” Để thực hiện Nghị quyết này, một Ban chỉđạo Trung ương được thành lập do đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng banTuyên giáo làm Trưởng ban; đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ làm Phó trưởngban cùng nhiều bộ trưởng khối tư tưởng - văn hóa và các ban, ngành liên quan, đãhọp và thảo luận nhiều lần, nêu ra 36 chương trình cụ thể thuộc các lĩnh vực chỉđạo và quản lý, các chuyên ngành văn học, nghệ thuật; công tác đào tạo cán bộ làmvăn hóa, văn học, nghệ thuật; tăng cường phát triển, bồi dưỡng tài năng văn học,nghệ thuật… Nhưng từ đó đến nay, kết quả triển khai ra sao; những mặt được vàchưa được; nguyên nhân chủ quan, khách quan của những hạn chế, bất cập ấy chưađược xem xét nghiêm túc, do đó, chưa có những kết luận tổng quát, đồng bộ
Trang 10Trong Nghị quyết 33, nêu 4 giải pháp, đầu tiên là phải tiếp tục đổi mớiphương thức lãnh đạo của Đảng, mà muốn thực hiện được yêu cầu ấy, cấp ủy,chính quyền các cấp, nhất là người đứng đầu cần thực hiện thật nghiêm 5 quanđiểm chỉ đạo về xây dựng và phát triển văn hóa Chỉ có như vậy, chúng ta mới cóđược một kế hoạch thật bài bản và đồng bộ trong nhiệm vụ nâng cao, hiệu lực, hiệuquả quản lý nhà nước về văn hóa; trong xây dựng đội ngũ cán bộ làm văn hóa;trong việc tăng cường nguồn lực cho lĩnh vực văn hóa… Đây cũng là những nhiệm
vụ trọng tâm để chúng ta tập trung sức làm tốt hơn nữa sứ mệnh cao quý là: xâydựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiệnđại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vữngđất nước
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, Đại hội lần thứ XIII của Đảngtiếp tục khẳng định tầm quan trọng của văn hóa và phát huy vai trò của văn hóatrong điều kiện mới
Đại hội lần thứ XIII của Đảng là cột mốc quan trọng Với chủ trương gắn kếtchặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, côngbằng xã hội, Đại hội lần thứ XIII của Đảng chú trọng khơi dậy truyền thống yêunước, niềm tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, Đây là điều kiện, tiền đề làm cho văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, mụctiêu, động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Văn kiện Đạihội lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: “Gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với thựchiện tiến bộ và công bằng xã hội; phát huy nhân tố con người, lấy nhân dân làmtrung tâm; phát huy vai trò của văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu,động lực của sự phát triển”
Quan điểm của Đảng về vai trò của văn hóa trong sự nghiệp đổi mới ở ViệtNam Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực thúc đẩy phát
Trang 11triển kinh tế - xã hội Văn hóa còn là sức mạnh nội sinh phát triển bền vững đấtnước, đóng vai trò là “hệ điều tiết” trong sự vận động mọi mặt của đời sống Nhậnthức rõ vai trò quan trọng của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng, Đảng luôn quantâm đến văn hóa, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để phát triểnquốc gia - dân tộc Trong công cuộc đổi mới, Đảng không ngừng bổ sung, pháttriển đường lối xây dựng nền văn hóa mới phù hợp với tiến trình phát triển đấtnước.
Trên tinh thần đó, Đại hội lần thứ XI của Đảng khẳng định vị trí, vai tròquan trọng của văn hóa, coi văn hóa là một trong ba bộ phận (kinh tế, xây dựngĐảng, văn hóa) trụ cột cho sự phát triển bền vững của đất nước và chủ trương pháttriển văn hóa sâu, rộng, đồng bộ với phát triển kinh tế - xã hội Nghị quyết Hộinghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và pháttriển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nướcxác định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực pháttriển bền vững đất nước Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị,
xã hội” Nhận thức sâu sắc của về mối quan hệ giữa văn hóa, kinh tế, chính trịđánh dấu sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về vai trò của văn hóa trong thời kỳđổi mới
Đại hội lần thứ XII của Đảng tiếp tục nhất quán đường lối xây dựng nền vănhóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người Việt Nam phát triểntoàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước với mục tiêu: “Làm chovăn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nộisinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vìmục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Trong đó, xâydựng nền văn hóa, con người Việt Nam phát triển toàn diện là một trong nhữngmục tiêu của chiến lược phát triển Trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn