1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

31 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Vấn Đề Về Phát Triển Chương Trình Dạy Học Kỹ Năng Mềm Cho Sinh Viên Trường Đại Học Văn Lang Trong Bối Cảnh Hội Nhập
Tác giả Tiêu Minh Sơn
Người hướng dẫn TS. Cao Thị Châu Thủy
Trường học Trường Đại Học Văn Lang
Thể loại bài tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Tp.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 332,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG TRONGBỐI CẢNH HỘI NHẬP Tóm tắt: Phát triển chương trình dạy học kỹ năng mềm cho sinh v

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA GIÁO DỤC

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC

BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC

VĂN LANG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

GVGD: TS CAO THỊ CHÂU THỦY HVTH: TIÊU MINH SƠN

Tp.Hồ Chí Minh, năm 2021

Trang 2

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG TRONG

BỐI CẢNH HỘI NHẬP

Tóm tắt: Phát triển chương trình dạy học kỹ năng mềm cho sinh viên đại học

nhằm đảm bảo khả năng thích ứng của người học trước những thay đổi của thời đại làmột yêu cầu cấp thiết Thông qua phương pháp nghiên cứu tài liệu và thực nghiệm đổimới phương pháp dạy học môn kỹ năng mềm cho sinh viên Trường Đại học Văn Lang từnăm 2019 – 2020 Kết quả cho thấy việc xác định tầm quan trọng, mục tiêu chương trình,thiết kế nội dung, phương pháp tiếp cận, hình thức tổ chức, kiểm tra và đánh dựa dựa trênkết quả đầu ra hướng đến đáp ứng yêu cầu của các kỹ năng thế kỷ XXI và phù hợp vớiđặc điểm của người học thuộc thế hệ Z là những yếu tố quan trọng góp phần mang lạithành công cho chương trình

Từ khóa: phát triển chương trình, kỹ năng mềm, quản lý sự thay đổi, đổi mới

Abstract: Developing a curriculum to teach soft skills for university students to

ensure the learners' adaptability to the changes of the times is an urgent requirement.Through document research and experimental methods to innovate teaching methods forsoft skills for Van Lang University students from 2019-2020 The results showed that thedetermination of the importance, program objectives, content design, approach,organizational form, testing and evaluation based on the outcomes aimed at meeting therequirements of the XXI century skills and consistent with the characteristics ofGeneration Z learners are important factors that contribute to the success of the program

Keywords: program development, soft skills, change management, innovation

1 Đặt vấn đề

Việt Nam đã và đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tích cực và sẵn sàngcho cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, điều đó đã tạo ra sự thay đổi nhanh chóng và

Trang 3

không ngừng trên tất cả mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội Tuy nhiên, mọi sự thànhcông đều phải xuất phát từ yếu tố con người, điều đó đòi hỏi phải có nguồn nhân lực đápứng được yêu cầu trong thời đại mới – những thế hệ Z.

Những thay đổi này đã tác động trực tiếp đến nền giáo dục thế giới và đặt ranhững yêu cầu mới đối với công tác giáo dục, thay đổi cả triết lý giáo dục trong thế kỷXXI Việc giáo dục đơn thuần chỉ tập trung vào truyền đạt kiến thức không còn phù hợpnữa, thay vào đó, giáo dục cần tập trung phát triển những yếu tố “con người” mà máymóc không thể thay thế được, đào tạo nguồn nhân lực sẵn sàng thích nghi trước mọi thayđổi:

Giáo dục không thể thực hiện được chức năng truyền thống là truyền đạt lại khốikiến thức khổng lồ của nhân loại, mà chỉ cung cấp những kiến thức cơ bản, nềntảng, chủ yếu tập trung rèn luyện cho người học các kỹ năng như: tư duy, ngônngữ, diễn đạt, khai thác và xử lý thông tin sau đó áp dụng, sử dụng có ích cácthông tin đó và trên cơ sở đó, biến thông tin thành tri thức (Nguyễn Đức Chính(2012)

Nghị quyết đại hội Đảng XII cũng đã coi đổi mới giáo dục và đào tạo là một trong

ba giải pháp có tính đột phá chiến lược nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suấtlao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế Nghị quyết 29 của Chính phủ về “Đổi mớicăn bản và toàn diện giáo dục đào tạo” đã nêu rõ:

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huytính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học;khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cáchhọc, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổimới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổchức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiêncứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy

và học

Trang 4

Chủ trương này đã một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của việc đào tạo, pháttriển chương trình kỹ năng, đổi mới phương pháp dạy học Để đảm bảo chất lượng giảngdạy kỹ năng mềm ở các trường đại học, rất cần sự quan tâm, đầu tư ở tất cả các khâu củaquá trình giáo dục như nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, đội ngũ giảngviên, triết lý giáo dục được vận dụng, mô hình áp dụng,…Bài tiểu luận sẽ tập trung đigiải quyết từng vấn đề ở nhiều khía cạnh khác nhau theo quan điểm của tác giả

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Khái niệm kỹ năng mềm

Theo Từ điển tiếng Việt: Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu được

trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế (Hoàng Phê, 2003; tr 520) Từ cách hiểu trên, có

thể đưa ra khái niệm kỹ năng như sau: Kỹ năng là khả năng chuyên biệt của một cá nhân

về một hoặc nhiều khía cạnh được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống (xem Vũ Thị Nga, 2017, tr 10) Đa số các kỹ năng mà mỗi cá

nhân có được là do quá trình học tập và rèn luyện Kỹ năng bao gồm hai nhóm, đó là: Kỹ

năng cứng và kỹ năng mềm (xem Vũ Thị Nga, 2017, tr 13).

Theo từ điển Giáo dục học: Kỹ năng là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt

động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy cho dù đó

là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ.

Còn về khái niệm kỹ năng mềm (KNM), tác giả Forland, Jeremy cho rằng:

KNM là một thuật ngữ thiên về mặt xã hội để chỉ những kỹ năng có liên quan đếnviệc sử dụng ngôn ngữ giao tiếp, khả năng hòa nhập xã hội, thái độ và hành vi ứng

xử hiệu quả trong giao tiếp giữa người với người Nói khác đi, đó là kỹ năng liênquan đến việc con người hòa mình, chung sống và tương tác với cá nhân khác,

nhóm, tập thể, tổ chức và cộng đồng (xem Bùi Đoan Trang, 2019)

Nhà nghiên cứu N.J Pattrick định nghĩa:

KNM là khả năng, là cách thức chúng ta tiếp cận và phản ứng với môi trườngxung quanh, không phụ thuộc và trình độ chuyên môn và kiến thức KNM khôngphải là yếu tố bẩm sinh về tính cách hay là những kiến thức của sự hiểu biết lýthuyết mà đó là khả năng thích nghi với môi trường và con người để tạo ra sự

Trang 5

tương tác hiệu quả trên bình diện cá nhân và cả công việc (xem Bùi Đoan Trang,

2019)

Michal Pollick tiếp cận dưới góc nhìn KNM là một năng lực thuộc về Trí tuệ cảm xúc:KNM đề cập đến một con người có biểu hiện của EQ (Emotion IntelligenceQuotion), đó là những đặc điểm về tính cách, khả năng giao tiếp, ngôn ngữ, thóiquen cá nhân, sự thân hiện, sự lạc quan trong mối quan hệ với người khác và trong

công việc (xem Bùi Đoan Trang, 2019)

Tác giả Giusoppe Giusti cho rằng, KNM là những biểu hiện cụ thể của năng lực hànhvi:

KNM là những biểu hiện cụ thể của năng lực hành vi, đặc biệt là những kỹ năng

cá nhân hay kỹ năng con người KNM thường gắn liền với những thể hiện của tínhcách cá nhân trong một tương tác cụ thể, đó là kỹ năng chuyên biệt rất “người”

của con người (xem Bùi Đoan Trang, 2019)

Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Đinh Thị Kim Thoa thì cho rằng, KNM là thuật ngữ dùng đểchỉ các kỹ năng thuộc về trí tuệ cảm xúc, những yếu tố ảnh hưởng đến sự xác lập mốiquan hệ với người khác

KNM là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng thuộc về trí tuệ cảm xúc như: một sốnét tính cách (quản lý thời gian, thư giãn, vượt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổimới), sự tế nhị, kỹ năng ứng xử, thói quen, sự lạc quan, chân thành, kỹ năng làmviệc theo nhóm Đây là những yếu tố ảnh hưởng đến sự xác lập mối quan hệ vớingười khác Những kỹ năng này là thứ thường không được học trong nhà trường,không liên quan đến kiến thức chuyên môn, không thể sờ nắm, nhưng không phải

là kỹ năng đặc biệt mà phụ thuộc chủ yếu vào cá tính của từng người KNM quyếtđịnh bạn là ai, làm việc thế nào, là thước đo hiệu quả cao trong công việc (NguyễnThị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, 2010)

KNM giúp con người tự quản lý chính bản thân mình và tương tác với nhữngngười xung quanh để thành công trong công việc cũng như trong cuộc sống KNMthường khó quy chuẩn, phụ thuộc rất nhiều vào đối tượng tương tác và khó có thể đođược KNM được sử dụng mọi lúc, mọi nơi và suốt đời Hơn nữa, theo mức độ thành đạt

Trang 6

Nếu như khi làm việc cần có khả năng chuyên môn và kiến thức thực tế, thì KNMlại giúp chúng ta sử dụng kiến thức chuyên môn hiệu quả hơn KNM bổ sung cho các KNchuyên môn và rất quan trọng trong môi trường làm việc Một người có thể có trình độchuyên môn cao, nhưng nếu không có KNM thì không thể “bán” ý tưởng của mình,không thể hòa hợp với mọi người hay hoàn thành công việc một cách thuyết phục và như

thế thì không thể đi đến thành công (xem Peggy Klaus, 2012) Theo Huỳnh Văn Sơn:

KNM là những KN không liên quan trực tiếp đến kiến thức chuyên môn mà thiên

về mặt tinh thần của mỗi cá nhân nhằm đảm bảo cho quá trình thích ứng với ngườikhác, nhằm duy trì tốt mối quan hệ tích cực và góp phần hỗ trợ thực hiện côngviệc một cách hiệu quả (Huỳnh Văn Sơn, 2013)

Như vậy, song song với kiến thức chuyên môn, KNM đóng vai trò rất quan trọngđối với thành công trong sự nghiệp của mỗi người

Từ những quan niệm trên, bài viết đồng tình và sử dụng quan niệm sau: KNM(Soft skills) là một thuật ngữ xã hội học dành cho cá nhân KNM bao gồm các đặc điểmtính cách, lòng biết ơn, sự giao tiếp, sử dụng ngôn ngữ, thói quen cá nhân, sự thân thiện

và sự lạc quan, khả năng đồng cảm với người khác, hay để giữ bình tĩnh dưới các áp lực.KNM là tổng hợp các kỹ năng giúp con người tư duy và tương tác với nhau KNM có vaitrò rất quan trọng đối với SV trong quá trình học tập, nghiên cứu và sinh hoạt ở môi

trường đại học cũng như sau khi ra trường… (xem Vũ Thị Nga, 2017, tr 14).

2.2 Phát triển chương trình dạy học kỹ năng mềm cho sinh viên

2.2.1 Tầm quan trọng của kỹ năng mềm đối với sinh viên

Muốn thành công trong công việc và cuộc sống, con người cần được trang bị kiếnthức và rất nhiều kỹ năng Kỷ nguyên thông tin và tri thức hiện nay cũng đòi hỏi từngthành viên trong xã hội phải tự học suốt đời, trau dồi khả năng tư duy độc lập và thíchứng nhanh với những biến động thường xuyên, đa dạng, phức tạp của xã hội Để làmđược điều này, cần phải học tập và rèn luyện các KNM để có thể trở thành những conngười vừa có năng lực chuyên môn vừa có kỹ năng tốt KNM ngày càng được chứngminh có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành bại trong sự nghiệp và cuộc sống của một cánhân

Trang 7

Khi đánh giá năng lực của người lao động, người sử dụng lao động cũng thườngcăn cứ vào các tiêu chí liên quan đến kiến thức, kỹ năng và thái độ đối với công việc.Những người sử dụng lao động coi trọng các KNM vì đây là một nhân tố đánh giá conngười rất hiệu quả Người có các KNM sẽ dẫn dắt được những người khác theo cùng mộthướng để đạt một mục đích chung

Với tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật như vậy, việc trang bị KNM để sinh viênsau khi ra trường tiếp tục tự nghiên cứu, tự học tập, tự rèn luyện kỹ năng chuyên môn vàthực hiện triết lý “học tập suốt đời”, “học để chung sống”, “học để làm việc” là vô cùngquan trọng Nó giúp sinh viên thường xuyên cập nhật được những thay đổi của khoa học,công nghệ, giúp sinh viên có đủ kỹ năng để xử lý mọi tình huống xảy ra trong quá trìnhlàm việc hàng ngày Được trang bị các KNM trong môi trường học tập, sinh viên sẽ thamgia chủ động, tích cực hơn các hoạt động xã hội, biết cách tổ chức chuyên nghiệp và sángtạo các hoạt động ngoại khóa, nâng cao kết quả học tập, biết cách thiết lập các mối quan

hệ thân thiện với mọi đối tượng, có nhiều hơn các cơ hội nghề nghiệp và chắc chắn rằng

sẽ giải quyết mọi vấn đề phát sinh trong cuộc sống một cách hiệu quả hơn

Như vậy, KNM là hành trang không thể thiếu của sinh viên để phát triển nghềnghiệp trong tương lai, đặc biệt trong môi trường giáo dục phát triển về tự chủ, xã hộihóa giáo dục như Trường Đại học Văn Lang

2.2.2 Mục tiêu chương trình

Để đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động trong tương lai, việc đào tạo kỹ

năng mềm được đưa vào giảng dạy tại Trường Đại học Văn Lang và trở thành một yêucầu của chuẩn đầu ra cho tất cả các chuyên ngành Theo chương trình đào định hướng

ứng dụng của từng Khoa/Bộ môn, sinh viên phải đáp ứng đầy đủ các chuẩn đầu ra về

kiến thức, kỹ năng và thái độ Bên cạnh chuẩn đầu ra về chuyên môn, về tin học và ngoại

ngữ thì sinh viên phải có các kỹ năng mềm Việc chú trọng định hướng phát triển kỹ năngmềm cho sinh viên là một trong những mục tiêu mà Trường Đại học Văn Lang đanghướng đến Chương trình đào tạo với các học phần tập trung vào 4 nhóm kỹ năng chính

như: Kỹ năng học đại học, Kỹ năng làm việc nhóm và thuyết trình, Kỹ năng giao tiếp

và Kỹ năng nghề nghiệp

Trang 8

Chương trình đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên được Nhà trường giao đếnTrung tâm Phát triển Năng lực sinh viên thiết kế linh hoạt, gắn với thực tiễn theo địnhhướng ứng dụng; giúp sinh viên xác định được mục tiêu, động lực học tập đúng đắn, phùhợp Ví dụ như môn Kỹ năng Giao tiếp:

Về kiến thức: Giúp sinh viên nắm được những kiến thức cơ bản về giao tiếp và các

kỹ năng để giao tiếp hiệu quả

+ Giới thiệu chung về lý thuyết: khái niệm, lợi ích, nguyên tắc

+ Nhận diện bản thân trong giao tiếp

+ Nhận thức đối tượng giao tiếp

Về kỹ năng: Trang bị cho sinh viên các kỹ năng thuyết trình, kỹ năng làm việc

nhóm để ứng dụng xử lý các tình huống cụ thể

+ Kênh giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ

+ Các kỹ năng giao tiếp cơn bản: Kỹ năng đặt câu hỏi, Kỹ năng lắng nghe, Kỹnăng phản hồi, Kỹ năng trình bày văn bản, Kỹ năng sử dụn E-mail, Kỹ năng giaotiếp qua điện thoại

Về thái độ: Giúp sinh viên tự tin và thành công hơn trong học tập, cuộc sống

kỹ năng mềm đó là có ích, cần thiết cho nghề nghiệp, cho tương lai của họ Chính kỹnăng mềm đã góp phần làm nên chất lượng giáo dục trong môi trường đại học Từ đó,hoàn chỉnh dần khả năng của sinh viên sau khi ra trường Sinh viên vừa tiếp cận đượckiến thức, vừa rèn luyện kỹ năng, vừa được đào tạo một thái độ tích cực

Trang 9

2.2.3 Thiết kế nội dung chương trình đối với người dạy và học

Bên cạnh kỹ năng cứng là kỹ năng chuyên môn nghề nghiệp, kinh nghiệm cho mỗicông việc, ngành nghề nhất định; còn có kỹ năng mềm liên quan đến việc con người hòamình, chung sống và tương tác với cá nhân khác, nhóm, tập thể, tổ chức và cộng đồng

(xem Lê Thu Hà, 2016) Kỹ năng mềm thiên về nhóm các kỹ năng thuộc về giao tiếp,

tương tác, phát triển các quan hệ tốt giữa người với người Dần dần cũng được mở rộngsang các kỹ năng liên quan giúp cho giao tiếp hiệu quả và thành công trong công việcnhư thích ứng, tư duy sáng tạo, tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, ra quyết định, lãnh

đạo (xem Nguyễn Duy Mộng Hà và cộng sự, 2020) Các kỹ năng của thế kỷ 21 liên quan

đến sự nỗ lực, tự chủ, sáng tạo của bản thân rất cao gồm các năng lực thiên về nhóm cánhân đồng thời gồm cả những kỹ năng biết làm việc với người khác Điều này đòi hỏi cácnhà giáo dục hay thiết kế chương trình đào tạo các cấp, nhất là bậc đại học của thế kỷ 21không thể không quan tâm lồng ghép cả hai nhóm kỹ năng này như là điều kiện cần và

đủ, nhằm phát triển con người toàn diện, cân bằng và hài hòa (xem Nguyễn Duy Mộng

Hà và cộng sự, 2020)

Giáo dục kỹ năng mềm là quá trình hình thành và phát triển cho người học các kỹnăng mềm cần thiết để đảm bảo cho quá trình thích ứng với người khác và công việc,nhằm duy trì tốt các mối quan hệ tích cực và hỗ trợ thực hiện công việc một cách hiệuquả thông qua những cách thức và nội dung khác nhau Như vậy dạy học kỹ năng mềm làmột quá trình đòi hỏi không chỉ chú trọng việc cung cấp nền tảng kiến thức mà quantrọng hơn là giáo dục các giá trị về mặt tinh thần, hình thành các hành vi tương ứng chongười học và phải được ứng dụng cụ thể trong cuộc sống hằng ngày Đối tượng chính củahoạt động dạy học kỹ năng mềm tại trường đại học là sinh viên, là những công dân có độtuổi từ 18-25 đang học tập ở bậc đại học, có những đặc điểm: Năng động, nhạy cảm vàsẵn sàng tiếp thu cái mới; là bộ phận trí tuệ và ưu tú trong các thế hệ thanh niên, là nơikết tinh nhiều tài năng sáng tạo, là nguồn lao động có học vấn cao; là lớp người đanghình thành và khẳng định nhân cách, có xu hướng chung là tính tích cực, tính tự lập, độc

lập và nhu cầu tự khẳng định phát triển khá cao (xem Vũ Thùy Hương, 2018)

Trang 10

Theo Marilyn N Norman và Joy C Jordan, chương trình phát triển kỹ năng mềmcho sinh viên nên chú ý các vấn đề sau: Các năng lực cần phù hợp với độ tuổi sinh viên;

Kỹ năng được học tốt nhất thông qua trải nghiệm, thực hành và khả năng củng cố thông

qua tình huống thực tế (xem Đoàn Thị Minh Thoa, 2021) Theo Lý thuyết học tập của

người lớn (Andragogy) của Malcolm Shepherd Knowles, sinh viên là những người trẻ đã

ở tuổi trưởng thành (18 tuổi trở lên) cần được học tập theo những nguyên lý sau:

1) Người học cần được can dự vào quá trình lập kế hoạch và đánh giá kết quả họctập;

2) Trải nghiệm (gồm cả những sai sót) cung cấp nền tảng cho các hoạt động họctập;

3) Người học quan tâm đến những nội dung học có liên hệ trực tiếp tới công việchoặc trong đời tư của họ;

4) Học theo kiểu lấy vấn đề làm trung tâm (Problem-centered) hơn là hướng đến

nội dung (Content-oriented) (xem Đoàn Thị Minh Thoa, 2021) Chương trình học cần tập

trung hơn vào tiến trình, sự tương tác và thẩm thấu trực tiếp hơn là vào phát triển nộidung Những phương pháp giảng dạy tương tác và tích cực sẽ được sử dụng nhiều hơn,thông qua trải nghiệm thực tế, người học tự xây dựng các tri thức cho chính mình

2.2.4 Phương pháp tiếp cận chương trình

Giảng dạy kỹ năng mềm khác nhiều so với giảng dạy các môn khoa học thuần túy,đòi hỏi người giảng viên phải có kiến thức chuyên môn, am hiểu tâm lý lứa tuổi, có kinhnghiệm và sự trải nghiệm thực tế Thêm nữa, hiện nay tại các Trường đại học trongchương trình đào tạo thường tích hợp kỹ năng mềm vào các môn học chính khóa đangđươc áp dụng triệt để ở hầu hết các học phần Việc tích hợp giúp cho người học có thểứng dụng các kỹ năng mềm được biết vào những hoạt động thực tế Qua đó, họ có thêmthời gian và hoạt động để hình thành kỹ năng một cách tốt nhất Ví dụ như: Kỹ năng làmviệc nhóm và thuyết trình, Kỹ năng Giao tiếp, Kỹ năng học đại học, Kỹ năng nghềnghiệp… Song hành với từng nội dung chính, sinh viên có thể vận dụng thêm những kỹnăng khác như: Kỹ năng Quản lý thời gian, Kỹ năng Đặt câu hỏi, Kỹ năng lắng nghe, Kỹnăng Tư duy phản biện, Tư duy logic, Kỹ năng lập kế hoạch, Kỹ năng xác định mụctiêu… Qua đó, các bạn sinh viên có thể vận dụng ngay các kỹ năng mềm đó trong việc

Trang 11

tiếp thu kiến thức của từng học phần Các bạn chuyển từ hình thức học thụ động sanghình chức chủ động, lấy người học là trung tâm Phương pháp này theo định hướng ứngdụng, giảng viên đổi mới cách dạy từ truyền thống sang dạy học tích cực

Tích hợp dạy kỹ năng mềm hiệu quả nó phụ thuộc nhiều vào giảng viên Giảngviên là người đạo diễn và kiểm soát lớp để cuốn các bạn sinh viên tham gia Tích hợp kỹnăng mềm vào việc giảng dạy là điều cần thiết, là môi trường để sinh viên rèn luyện kỹnăng ngay khi bước vào giảng đường đại học

Tuy nhiên, việc tích hợp cần nhiều điều kiện từ phía giảng viên, từ phía người học.Đối với giảng viên cần phải có phương pháp giảng dạy kỹ năng mềm Phương pháp giảngdạy một trong những yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Phương phápgiảng dạy khoa học, phù hợp sẽ tạo điều kiện cho giảng viên và sinh viên phát huy khảnăng truyền đạt và lĩnh hội kiến thức Ý thức được điều đó, giảng viên cơ hữu và thỉnhgiảng (đã được tập huấn chuyên môn theo hướng chương trình đào tạo tại Trường) đãlinh hoạt sử dụng các phương pháp giảng dạy như: Phương pháp làm việc nhóm, phươngpháp thuyết trình/vấn đáp, phương pháp kể chuyện, phương pháp trực quan Bên cạnh

đó giảng viên sử dụng các kỹ thuật giảng dạy như: Kỹ thuật bàn tay nắn bột, kỹ thuậtkhăn trải bàn, kỹ thuật công não, kỹ thuật chuyên gia, kỹ thuật các mảnh ghép…Ứngdụng trên hệ thống E-learning, học tập trực tuyến, trò chơi sư phạm, kết hợp công nghệthông tin, thực hiện dự án,…

Trong đó, theo quan điểm của cá nhân, tôi thấy việc thực hiện những phương pháp

đấy có thể mô phỏng thành hai dạng phương pháp tiếp cận chính, đó chính là: đa ngành

và liên ngành Vì cơ bản, sinh viên tại Trường đến từ nhiều Khoa/Bộ môn khác nhau nên

việc thực hiện việc tiếp cận hướng tích hợp đa ngành và liên ngành là phù hợp

2.2.4.1 Phương pháp tiếp cận đa ngành

Phương pháp tiếp cận đa ngành, đặc biệt là ở mảng đào tạo kỹ năng mềm nhằmxây dựng một chương trình có sự tích hợp của các ngành/tiểu ngành xung quanh một vấn

đề mà nhiều ngành khoa học cùng quan tâm hoặc những chủ đề học tập chung cho nhiềungành mà người học có thể giải quyết chủ đề trên cơ sở góc độ khoa học khác nhau

Trang 12

Hình: Ví dụ phương pháp tiếp cận đa ngành

Trong tích hợp đa ngành, Trường đã xây dựng những chủ đề dựa trên các lĩnh vựcmôn học khác nhau (thường là từ 3 nội dung trở lên); để từ đó thu hút sinh viên ở các độtuổi khác nhau, lớp học khác nhau hoặc cả trường cùng tham gia thực hiện trong các tiếtdạy/buổi sinh hoạt/diễn đàn/workshop,… Hoạt động này đem lại nhiều lợi ích cho sinhviên, giúp sinh viên làm việc và cộng tác với mọi người trong tập thể đa dạng về nhậnthức và độ tuổi (ví dụ hoạt động phỏng vấn và thực hiện chủ đề: Café – Wrokshop trong

Kỹ năng làm việc nhóm và thuyết trình); trải nghiệm và thể hiện sự hiểu biết sâu sắc vấn

đề trong một quá trình khám phá lâu dài thông qua sản phẩm như: video clip, mô hình, dự

án, trình bày báo cáo, tranh luận, phản biện, đặt vấn đề…(ví dụ mô hình Học tập thôngqua trải nghiệm (ELC) của David A.Kolb trong Kỹ năng Nghề nghiệp); học tập lẫn nhau

và tạo ra hăng hái (ví dụ Cây kỳ vọng trong Kỹ năng học đại học), hứng thú trong quátrình làm việc cộng đồng (ví dụ Dự án: Tặng quà cho người vô gia cư – Kỹ năng Giaotiếp)

2.2.4.2 Phương pháp tiếp cận liên ngành

Phương pháp tiếp cận liên ngành nhằm xây dựng một chương trình có đối tượngnhận thức – học tập là những chuẩn kiến thức, kỹ năng chung cho nhiều ngành/tiểu ngành

có liên quan mà khi triển khai cần sử dụng các chuẩn kiến thức, kỹ năng chung đã đượctích hợp trong chương trình (Ví dụ: tích hợp sử dụng công nghệ thông tính, khoa học máytính vào chương trình giảng dạy của nhiều ngành chứ không đơn thuần chỉ là để sử dụngmáy tính) Kỹ năng mềm cũng đòi hỏi những yêu cầu như thế khi tích hợp nhiều phươngpháp vào để hỗ trợ sinh viên trong quá trình học tập

CHỦ ĐỀ

NHÀ TRƯỜNG

GIA ĐÌNH

XÃ HỘI KHOA HỌC

KINH NGHIỆMM

CÔNG NGHỆ BẢN THÂN

Trang 13

Chương trình liên ngành trong những môn kỹ năng mềm có những chủ đề, dự ánhọc tập yêu cầu sinh viên phải sử dụng kiến thức của nhiều ngành/tiểu ngành để giảiquyết, thiết lập tri thức kết nối giữa nhiều ngành với nhau (Ví dụ: trong Kỹ năng Giaotiếp hướng dẫn sinh viên thường sẽ liên kết nhiều kỹ năng như: nghe (lắng nghe) – nói(thuyết trình, trình bày, phản hồi) – đọc (luyện thanh, luyện giọng, tập đọc phát âm, trònvành rõ chữ) – viết (viết email xin việc, viết báo cáo,…) Trong việc tích hợp liên ngànhnhư thế cần xác định những kỹ năng, khái niệm, chủ đề cần rèn luyện, lĩnh hội đòi hỏisinh viên phải sử dụng kiến thức của nhiều ngành khoa học khác

2.2.5 Hình thức tổ chức dạy và học

Đối với hình thức tổ chức dạy và học được Trường Đại học Văn Lang xác địnhngay từ đầu với những mục tiêu được đưa ra Người dạy phải chuẩn bị nội dung, thiết kếbài giảng, phương pháp giảng dạy,… còn đối với người học sẽ được học tập trên lớp vàvấn đề tự học Ở đây, tôi quan tâm vấn đề tự học của sinh viên tại Trường, nhà trường đãchuẩn bị những video minh họa (do trường thực hiện), bài tập trắc nghiệm, bài tập nhóm,bài tập cá nhân (trên hệ thống E-learning) Ngoài ra, với tinh thần như đã nêu từ giảngviên đòi hỏi phải có nhiều kinh nghiệm, kiến thức liên ngành và đa ngành thì giảng viêncòn được tập huấn trên hệ thống Microsoft (MS Team) để chủ động hơn trong những tìnhhuống trực tuyến trong xã hội và tình hình đầy biến động như ngày nay (dịch Covid –19) Ví dụ ở môn Kỹ năng Giao tiếp, với những yêu cầu từ giảng viên và sinh viên (trướckhi lên lớp – lên lớp và tự học) như sau:

Môn học sử dụng phương pháp Blended learning với quy trình giảng dạy như sau:

 Đối với người dạy

- Trước buổi lên lớp:

1) Đăng tải nội dung bài giảng, clip hướng dẫn về nội dung bài học thông qua hệthống học tập trực tuyến;

2) Nêu các yêu cầu tự học và thời hạn hoàn thành cho SV: thảo luận, làm bài tập,

3) Hướng dẫn, giải đáp các thắc mắc của SV tại các mục thảo luận trực tuyến

- Trong giờ lên lớp:

Trang 14

5) Cùng SV thảo luận nâng cao, tìm hiểu sâu;

6) Hướng dẫn SV học tập thông qua trải nghiệm, thực hành tại lớp về các tìnhhuống học tập

 Đối với người học

Các phương pháp học tập gồm:

- Trước khi lên lớp, sinh viên sẽ thực hiện các bước tự học sau:

1 Xem bài giảng, clip về nội dung bài học thông qua hệ thống học tập trực tuyến;

2 Thảo luận về nội dung bài học, nêu các thắc mắc tại các mục thảo luận trựctuyến;

3 Thực hiện các bài tập theo yêu cầu của giảng viên;

- Trong giờ học tại lớp:

4 Sinh viên nghe giảng, thảo luận và tham gia thực hiện các hoạt động học tậptrải nghiệm

2.2.6 Kiểm tra và đánh giá dựa vào mô hình CELOs (Course Expected Learning Outcomes: Kết quả học tập mong đợi) trong việc đánh giá chương trình

Việc kiểm tra và đánh giá các học phần KNM hướng tới việc nâng cao nhận thức

về vai trò của kNM, từ đó khuyến khích sinh viên chủ động, không ngừng hoàn thiện các

kỹ năng cần thiết để tự tin và thành công hơn trong học tập, công việc và cuộc sống

Điều kiện để được dự thi kết thúc học phần:

- Sinh viên phải tham dự đảm bảo dự từ 70% thời lượng môn học trở lên

- Thực hiện đầy đủ các hoạt động trên lớp theo yêu cầu của giảng viên

Hình thức thi kết thúc học phần

- Hoàn thành Bài tập nhóm (30% điểm), 5 bài kiểm tra trắc nghiệm (20% điểm) và

3 bài kiểm tra cá nhân (50% điểm)

Ví dụ ở môn Kỹ năng Giao tiếp, sinh viên sẽ áp dụng thêm chuẩn đầu ra – kết quảmong đợi của môn học: kiến thức – kỹ năng và thái độ, phẩm chất đạo đức

Kiến thức

- Vận dụng các khái niệm và nguyên tắc giao tiếp vào việc xác định các yếu tố ảnhhưởng, đối tượng và lập kế hoạch cho các loại hình giao tiếp

Trang 15

- Vận dụng các nguyên tắc giao tiếp và phong cách giao tiếp trong học tập và cuộcsống hàng ngày.

Kỹ năng

- Giao tiếp hiệu quả bằng đa phương tiện với các bên liên quan

- Phối hợp các KN lắng nghe, đặt câu hỏi và phản hồi để vận dụng sáng tạo, giảiquyết được những vấn đề hàng ngày

- Giao tiếp ứng xử phù hợp với đối tượng giao tiếp

Thái độ, phẩm chất đạo đức

- Ứng xử phù hợp với các bên liên quan trong môi trường đa dạng, tôn trọng sựkhác biệt đa văn hóa, kết nối và phát triển các mối quan hệ nội bộ và bên ngoài.Trong quá trình thực hiện, KNM có thể được điều chỉnh, bổ sung các hình thứckiếm tra và đánh giá phù hợp với điều kiện thực tế, cập nhật kịp thời trong bài giảng vàthông báo trước cho sinh viên

2.2 Triết lý giáo dục – nền tảng cốt lõi của chương trình

Trường Đại học Văn Lang cũng đã xác định sứ mệnh của mình là “Đào tạo những

con người mang lại tác động tích cực truyền cảm hứng cho xã hội”, đào tạo người học

trở thành phiên bản tốt nhất của chính họ, với tinh thần học tập suốt đời, luôn sống trọn

vẹn với tất cả tiềm năng của bản thân Cùng với sứ mệnh này là Triết lý giáo dục “Thông

qua học tập trải nghiệm, đào tạo con người toàn diện, có khả năng học tập suốt đời, có đạo đức, có sức ảnh hưởng và mang lại thay đổi tích cực cho cộng đồng”, chú trọng đến

trang bị cho người học kỹ năng học tập, lối suy nghĩ sáng tạo, tinh thần khởi nghiệp, kỹnăng lãnh đạo và các kỹ năng sống (Trường Đại học Văn Lang, 2020)

2.4 Quản lý việc phát triển chương trình dạy học kỹ năng mềm cho sinh viên theo hướng cải thiện và đổi mới hoạt động giảng dạy kỹ năng mềm cho sinh viên trong bối cảnh hội nhập - Ứng dụng thực tiễn

Vấn đề trình bày dựa vào kết quả khảo sát từ Trung tâm Phát triển Năng lực sinhviên – Trường Đại học Văn Lang kể từ tháng 9- 2019 đến nay trong tìm hiểu đổi mớihoạt động giảng dạy kỹ năng mềm cho sinh viên Trước tháng 9-2019, các môn học kỹnăng mềm do các khoa tự xây dựng và tổ chức tổ chức giảng dạy, tổng cộng có 4 môn

Ngày đăng: 30/11/2022, 20:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình: Ví dụ phương pháp tiếp cận đa ngành - MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
nh Ví dụ phương pháp tiếp cận đa ngành (Trang 12)
yếu tố ảnh hưởng, đối tượng và lập kế hoạch cho các loại hình giao tiếp. - MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
y ếu tố ảnh hưởng, đối tượng và lập kế hoạch cho các loại hình giao tiếp (Trang 21)
Bảng 1. Ma trận đánh giá Kết quả học tập mong đợi (KQHTMĐ) của học phần - MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
Bảng 1. Ma trận đánh giá Kết quả học tập mong đợi (KQHTMĐ) của học phần (Trang 23)
- Kiến thức về giao tiếp và Mơ hình giao tiếp cửa sổ Johari - Các lỗi giao tiếp thường gặp - MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
i ến thức về giao tiếp và Mơ hình giao tiếp cửa sổ Johari - Các lỗi giao tiếp thường gặp (Trang 24)
- Các cấp độ và hình thái của giao tiếp - Khung lý thuyết về giao tiếp - MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
c cấp độ và hình thái của giao tiếp - Khung lý thuyết về giao tiếp (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w