Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN Phương pháp sử dụng một số biện pháp tu từ vào tiết dạy đọc hiểu văn bản lớp 7 và lớp 9 trường THCS Thị TrấnSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Phương pháp sử dụng một số biện pháp tu từ vào tiết dạy đọc hiểu văn bản lớp 7 và lớp 9 trường THCS Thị TrấnSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Phương pháp sử dụng một số biện pháp tu từ vào tiết dạy đọc hiểu văn bản lớp 7 và lớp 9 trường THCS Thị TrấnSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Phương pháp sử dụng một số biện pháp tu từ vào tiết dạy đọc hiểu văn bản lớp 7 và lớp 9 trường THCS Thị TrấnSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Phương pháp sử dụng một số biện pháp tu từ vào tiết dạy đọc hiểu văn bản lớp 7 và lớp 9 trường THCS Thị TrấnSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Phương pháp sử dụng một số biện pháp tu từ vào tiết dạy đọc hiểu văn bản lớp 7 và lớp 9 trường THCS Thị TrấnSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Phương pháp sử dụng một số biện pháp tu từ vào tiết dạy đọc hiểu văn bản lớp 7 và lớp 9 trường THCS Thị TrấnSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Phương pháp sử dụng một số biện pháp tu từ vào tiết dạy đọc hiểu văn bản lớp 7 và lớp 9 trường THCS Thị TrấnSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Phương pháp sử dụng một số biện pháp tu từ vào tiết dạy đọc hiểu văn bản lớp 7 và lớp 9 trường THCS Thị TrấnSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Phương pháp sử dụng một số biện pháp tu từ vào tiết dạy đọc hiểu văn bản lớp 7 và lớp 9 trường THCS Thị TrấnSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Phương pháp sử dụng một số biện pháp tu từ vào tiết dạy đọc hiểu văn bản lớp 7 và lớp 9 trường THCS Thị TrấnSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Phương pháp sử dụng một số biện pháp tu từ vào tiết dạy đọc hiểu văn bản lớp 7 và lớp 9 trường THCS Thị TrấnSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Phương pháp sử dụng một số biện pháp tu từ vào tiết dạy đọc hiểu văn bản lớp 7 và lớp 9 trường THCS Thị TrấnSáng kiến kinh nghiệm, SKKN Phương pháp sử dụng một số biện pháp tu từ vào tiết dạy đọc hiểu văn bản lớp 7 và lớp 9 trường THCS Thị Trấn
Trang 1I THÔNG TIN CHUNG
1 Tên sáng kiến: Phương pháp sử dụng một số biện pháp tu từ vào tiết dạy đọc - hiểu văn bản lớp 7 và lớp 9 trường THCS Thị Trấn.
2 Đồng tác giả:
2.1 Họ và tên: LÊ THỊ BÍCH THỦY
Năm sinh: 1978
Nơi thường trú: Mường Cấu - Thị Trấn Tam Đường - Tam Đường - Lai Châu
Trình độ chuyên môn: Đại học Ngữ Văn
Chức vụ công tác: Tổ trưởng chuyên môn
Nơi làm việc: Trường Trung học cơ sở Thị Trấn Tam Đường
Điện thoại: 01682277352
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến 50%
2.2 Họ và tên: TRẦN THỊ MỸ PHƯỢNG
Năm sinh: 1980
Nơi thường trú: Nậm Tường - Thị Trấn Tam Đường - Tam Đường - Lai Châu
Trình độ chuyên môn: Cao đẳng Văn - Sử
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường Trung học cơ sở Thị Trấn Tam Đường
Điện thoại: 0983268415
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến 50%
3 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Ngữ văn lớp 7 và lớp 9
4 Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ ngày 10 tháng 09 năm 2017 đến
ngày 25 tháng 3 năm 2018
5 Đơn vị áp dụng sáng kiến
Tên đơn vị: Trường Trung học cơ sở Thị Trấn
Địa chỉ: Thị Trấn Tam Đường - Tam Đường - Lai Châu
Điện thoại: 02313879106
II NỘI DUNG SÁNG KIẾN
Trang 21 Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
1.1 Sự cần thiết của việc thực hiện sáng kiến:
Văn học là một môn nghệ thuật giàu tính hình tượng, tính biểu cảm Muốn hiểu được một tác phẩm Văn học cần phải biết cảm thụ Người giáo viên muốn hướng dẫn học sinh cảm thụ tốt phải khai thác tất cả các khía cạnh của vấn đề để học sinh nắm bắt một cách hài hoà, chu đáo tác phẩm Công việc đó đòi hỏi công phu, phức tạp, học sinh có thể cảm thụ từ nhiều hướng: Ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, cách gieo vần, nghệ thuật tạo tình huống, nghệ thuật xây dựng hình tượng, biện pháp tu từ Trong đó, việc sử dụng và khai thác các biện pháp
tu từ là một trong những phương pháp giúp học sinh cảm thụ tác phẩm Văn học tốt nhất
Đặc biệt trong các bài kiểm tra một tiết, học kì hay các bài thi học sinh giỏi, các câu hỏi để phát hiện và phân tích các biện pháp tu từ trở thành một phần không thể thiếu Và như vậy việc tìm tòi các biện pháp để nâng cao năng
lực đọc – hiểu sử dụng một số biện pháp tu từ vào tiết dạy đọc - hiểu văn bản
cho học sinh là nhiệm vụ mà người giáo viên dạy Văn phải quan tâm Công việc
đó vừa giúp các tiết đọc – hiểu văn bản đạt hiệu quả cao vừa phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh, đồng thời giúp cho học sinh có khả năng làm tốt các kiểu bài tập dạng này trong các bài kiểm tra và các đề thi theo yêu cầu đổi mới
Vì vậy, qua nhiều năm giảng dạy, chúng tôi đã tự nghiên cứu và mạnh dạn đưa
ra sáng kiến “Phương pháp sử dụng một số biện pháp tu từ vào tiết dạy đọc -hiểu văn bản lớp 7 và lớp 9 trường THCS Thị Trấn” để các anh chị em đồng
nghiệp tham khảo Hy vọng rằng những kinh nghiệm nhỏ này sẽ giúp đồng nghiệp tháo gỡ những vướng mắc trong việc sử dụng, khai thác một số biện
pháp tu từ qua các tiết đọc - hiểu văn bản
1.2 Mục đích của việc thực hiện sáng kiến
Việc lựa chọn, nghiên cứu sáng kiến này nhằm mục đích giúp giáo viên có phương pháp sử dụng một số biện pháp tu từ vào tiết dạy đọc - hiểu văn bản trong môn Ngữ văn lớp 7, lớp 9 nói riêng và môn Ngữ văn THCS nói chung một cách hiệu quả; giúp các em hệ thống hoá kiến thức về các biện pháp tu từ, đưa ra
Trang 3một vài dấu hiệu dễ nhận biết để tránh nhầm lẫn giữa các biện pháp tu từ , từ đó
áp dụng vào việc cảm thụ Văn học
2 Phạm vi triển khai thực hiện: Sáng kiến thực hiện qua các giờ học
văn bản khối lớp 7 và lớp 9 - Trường Trung học cơ sở Thị Trấn Tam Đường
3 Mô tả sáng kiến
3.1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
3.1.1 Hiện trạng trước khi áp dụng giải pháp mới
* Đối với học sinh:
Trong chương trình Ngữ văn THCS, các em được học một số các biện pháp
tu từ (so sánh, nhân hoá, điệp ngữ, nói quá, ẩn dụ, hoán dụ, tương phản, chơi chữ ) Từ việc nắm bắt lý thuyết đến vận dụng trong từng bài tập cụ thể, học sinh có thể phát hiện và phân tích biện pháp tu từ, từ đó các em vận dụng vào việc cảm thụ tác phẩm Văn học Trong quá trình giảng dạy học sinh ở khối lớp 7
và khối 9, chúng tôi nhận thấy:
Đa số các em học sinh đều ngoan, có ý thức học tập tốt Tài liệu tham khảo, dụng cụ học tương đối đầy đủ Đặc biệt hiện nay có mạng In- tơ-nét rất thuận lợi cho việc tìm và tham khảo tài liệu phục vụ cho việc dạy và học
Qua các tiết học và kiểm tra, học sinh nắm các biện pháp tu từ chưa chuẩn xác, còn bị nhầm lẫn, nhiều em còn rất lúng túng khi xác định các phép tu từ và phân tích tác dụng trong mỗi đoạn thơ, đoạn văn Việc vận dụng phân tích các biện pháp tu từ trong việc cảm thụ tác phẩm, khả năng cảm thụ Văn học cũng như vận dụng kiến thức đã học về biện pháp tu từ vào bài viết văn nhìn chung còn hạn chế
Một số học sinh là đồng bào dân tộc thiểu số hoặc kinh tế gia đình còn khó khăn nên một buổi đi học, một buổi về phụ giúp gia đình, chưa có thời gian dành cho việc học ở nhà vì thế phần nào cũng ảnh hưởng đến việc tiếp nhận kiến thức văn học của các em
* Đối với giáo viên:
Một số giáo viên khi dạy các phép tu từ còn gặp nhiều khó khăn,
Trang 4nhiều tiết dạy chưa đạt hiệu quả cao như: Dạy chưa hết bài,
học sinh một cách chung chung, chưa tỉ mỉ, cách nhận biết,
giá trị nghệ thuật, cách vận dụng biện pháp tu từ vào bài viết chưa cao, dẫn chứng trong bài dạy còn nghèo, chưa biết dùng
tập, chưa phát huy hết khả năng của học sinh
Từ những khó khăn trên đã ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh Qua khảo sát chất lượng đầu năm cho thấy tỉ lệ học sinh khối 9 có học lực trung bình trở lên chiếm 64.5%, học sinh yếu, kém chiếm 35.5% ; khối 7 có học lực trung bình trở lên chiếm 66,2%, học sinh yếu, kém chiếm 33,8% (như bảng số liệu sau):
Thời điểm
Khối lớp Tổng số học sinh
Chất lượng học sinh
Trước khi áp
dụng sáng
kiến
9 90 2 2.2 5 5,6 51 56.7 30 33.3 2 2.2
3.1.2 Ưu - nhược điểm của giải pháp cũ:
Theo giải pháp cũ, chúng tôi vẫn hướng dẫn học sinh thực hiện phát hiện, phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong thơ, văn
* Ưu điểm: Học sinh đã biết phát hiện được các biện pháp tu từ, bước đầu đã hình thành kĩ năng phân tích tác dụng của các biện pháp tu từ đó trong phần đọc - hiểu văn bản
* Nhược điểm:
Giáo viên chưa có giải pháp hữu hiệu hướng dẫn sử dụng tốt một số biện pháp tu từ khi dạy phần đọc - hiểu văn bản
Học sinh khó hiểu, còn nhầm lẫn giữa biện pháp tu từ ẩn dụ với hoán dụ, kết quả học tập chưa cao; khả năng phân tích các biện pháp tu từ để làm sáng tỏ nội dung văn bản còn hạn chế
3.2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
Trang 53.2.1 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
Sáng kiến kinh nghiệm đã đưa ra đưa ra cách phân biệt điểm giống và khác nhau giữa các biện pháp tu từ Đồng thời đưa ra phương pháp giúp học sinh phân tích được các biện pháp tu từ trong một câu, một đoạn văn, đoạn thơ
Những kiến thức được trình bày trong sáng kiến này có nội dung cơ bản
về biện pháp tu từ ở các văn bản lớp 7, lớp 9 và cả việc hướng dẫn các bước cụ thể để phân tích biện pháp tu từ
3.2.2 Biện pháp sử dụng một số biện pháp tu từ vào tiết dạy đọc -hiểu văn bản lớp 7 và lớp 9.
Để sử dụng thành công một số biện pháp tu từ vào tiết dạy đọc - hiểu văn bản lớp 7 và lớp 9 giáo viên cần có những biện pháp như sau:
* Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh ôn lại khái niệm, phân biệt các biện pháp tu từ qua các tiết dạy Tiếng việt và phụ đạo.
- Hướng dẫn học sinh ôn lại khái niệm về các biện pháp tu từ:
Vì cơ bản các biện pháp tu từ đã được học ở lớp 6 như: nhân hóa, so sánh,
ẩn dụ, hoán dụ; lên lớp 7 các em học thêm một số biện pháp tu từ như điệp ngữ, chơi chữ, liệt kê; lớp 8 gồm có: nói quá, nói giảm nói tránh; lớp 9 tổng kết ôn lại các biện pháp tu từ từ lớp 6 đến lớp 8 Vì vậy để học sinh nhớ và phát hiện tốt các biện pháp tu từ trong đọc - hiểu văn bản, ngoài những tiết tìm hiểu khái niệm của các phép tu từ được học trong chương trình lớp 7, giáo viên cần hướng dẫn học sinh ôn lại khái niệm của mỗi biện pháp tu từ ở các lớp 6, 8 thông qua các tiết ôn tập, tổng kết về từ vựng và tiết dạy phụ đạo
Ví dụ: Khi ôn biện pháp tu từ “So sánh”, bước đầu tiên giáo viên hướng
dẫn học sinh phát hiện phép so sánh thông qua cấu trúc của nó Cấu trúc của phép so sánh bao giờ cũng có hai vế:
- Vế A là vế nêu tên sự vật, sự việc được so sánh
- Vế B nêu tên sự vật , sự việc dùng để so sánh với sự vật, sự việc nói ở vế
a, giữa hai vế thường có:
- Từ ngữ chỉ phương diện so sánh
Trang 6- Từ ngữ so sánh hoặc có thể vắng từ ngữ chỉ phương diện so sánh, hoặc vắng từ ngữ so sánh , hoặc cả hai
Sau đó, giáo viên cho học sinh rút ra mô hình của phép so sánh rất đa dạng để học sinh, đặc biệt là học sinh yếu, trung bình để nhận biết Mỗi dạng giáo viên lấy nhanh hoặc cho học sinh lấy nhanh một ví dụ để minh họa
Ví dụ: Dạng đầy đủ của một phép so sánh:
Rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận
Rõ ràng trong ví dụ này có đầy đủ cấu tạo của phép so sánh, giáo viên cho học sinh phát hiện các vế của một phép so sánh, phương diện so sánh, từ so sánh
và điền vào mô hình sau:
Vế A
(sự vật được so sánh)
Phương diện
so sánh
Từ ngữ
so sánh
Vế B (dùng để so sánh)
ngất
như hai dãy trường thành vô tận
Từ ngữ so sánh trong cấu tạo của so sánh là những từ xác định kiểu so
sánh: là, như, bằng, giống như, bao nhiêu … bấy nhiêu, v.v (so sánh ngang bằng) hay, chẳng bằng, không bằng, hơn, kém, v.v (so sánh không ngang bằng).
Như vậy dựa vào mục đích và các từ so sánh người ta chia phép so sánh thành hai kiểu:
- So sánh ngang bằng: Phép so sánh ngang bằng thường được thể hiện bởi
các từ so sánh sau đây: là, như, y như, tựa như, giống như hoặc cặp đại từ bao
nhiêu, bấy nhiêu.
- So sánh không ngang bằng (so sánh hơn kém): Trong so sánh không
ngang bằng từ so sánh được sử dụng là các từ : hơn, hơn là, kém, kém gì, chẳng
bằng…
Ví dụ: “Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.”
Vế A: những ngôi sao thức
Vế B: mẹ thức
Từ ngữ so sánh: chẳng bằng
Trang 7Ngoài ra giáo viên còn chỉ cho các em muốn chuyển so sánh không ngang
bằng sang so sánh ngang bằng người ta thêm một trong các từ phủ định: Không,
chưa, chẳng vào trong câu và ngược lại.
Tương tự, với những phép tu từ còn lại, giáo viên hướng dẫn học sinh nhớ lại, hiểu kĩ khái niệm nhằm giúp các em vận dụng tốt cho việc đọc - hiểu văn bản
- Hướng dẫn học sinh phân biệt các biện pháp tu từ:
Trong số các biện pháp tu từ, học sinh hay nhầm lẫn nhất giữa ẩn dụ với hoán dụ Vì vậy giáo viên cần hướng dẫn học sinh phân biệt như sau:
a Giống nhau
Bản chất cùng là sự chuyển đổi tên gọi: gọi sự vật hiện tượng bằng một tên gọi khác
Cùng dựa trên quy luật liên tưởng Dựa trên sự so sánh hai sự vật
có nét chung (So sánh ngầm) chỉ có một vế (vế biểu hiện), còn
vế kia (vế được biểu hiện) bị che lấp đi
Tác dụng: Đều làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho lời văn, biểu đạt cảm xúc
b Khác nhau
Ẩn dụ: dựa vào sự liên tưởng tương đồng, dù hai sự vật đó không liên
quan đến nhau nhưng giữa A và B có điểm gì đó giống nhau (về hình thức,cách thức thực hiện, phẩm chất, cảm giác) nên người ta dùng A để thay cho tên gọi
B Do đó, trong trường hợp này sự vật chuyển đổi tên gọi và sự vật được chuyển đổi tên gọi thường khác phạm trù hoàn toàn
Ví dụ :
Thuyền về có nhớ bến chăng?
Như vậy, thuyền và bến trên thực tế không liên quan đến con người, nhưng dựa vào đặc tính giống nhau ta thấy được hình ảnh ẩn dụ
+ thuyền(vế B) - người con trai (vế A) (người đang xuôi ngược, đi lại - di
động, không cố định, dễ thay đổi)
Trang 8+ bến (vế B) - người con gái (vế A) (kẻ đang đứng đó, ở lại - cố định,
không thay đổi)
Giá trị biểu cảm: những người có quan hệ tình cảm gắn bó nhưng phải xa nhau (khẳng định sự thủy chung)
Hoán dụ: dựa vào sự liên tưởng tương cận (gẫn gũi) giữa các đối tượng
(bộ phận - toàn thể, dấu hiệu của sự vật - sự vật, vật chứa đựng - vật bị chứa đựng, cụ thể - trừu tượng), tức là hình ảnh A và B có liên quan đến nhau Mối quan hệ giữa tên mới (A) và tên cũ (B) là mối quan hệ gần kề
Ví dụ : “Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.”
“Áo chàm”( vế B)- chỉ “đồng bào sinh sống ở Việt Bắc” (vế A)
“Áo chàm” là chiếc áo của người dân vùng Việt Bắc thường mặc hàng ngày, một thứ màu sắc giản dị của con người vốn hiền lành, chất phác nhưng son sắt thủy chung gắn bó của con người nơi đây vì vậy khiến ta liên tưởng đến đồng bào sinh sống ở Việt Bắc Màu chàm rất bền, ít phai do đó Tố Hữu đã mượn nghĩa của màu chàm bền chặt để chỉ tình cảm của con người cũng bền chặt thủy chung Cuộc chia tay giữa người ra đi với người ở lại trong câu thơ
Tố Hữu cho ta hình dung một tình cảm lặng lẽ nhưng bình dị, thiết tha Đây là kiểu hoán dụ lấy dấu hiệu của sự vật vật để chỉ sự vật.
* Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh vận dụng các biện pháp tu từ từ vựng để phân tích những câu văn, câu thơ trong phần đọc - hiểu văn bản:
Trong quá trình vận dụng các biện pháp tu từ vào phân tích đoạn thơ, bài thơ, trước tiên giáo viên yêu cầu học sinh phải đọc kĩ đoạn thơ, bài thơ đó, sau
đó xác định đúng biện pháp tu từ và nhận thấy được giá trị, ý nghĩa, hiệu quả, dụng ý diễn đạt thông qua phép tu từ mà tác giả sử dụng ở trong đoạn thơ, bài thơ đó
Để hướng dẫn học sinh thực hiện tốt thao tác này, giáo viên cần nhớ và vận dụng các bước như sau:
Bước 1:
Yêu cầu học sinh đọc các câu thơ, câu văn có chứa biện pháp tu từ
Trang 9Bước 2:
+ Đặt câu hỏi phát vấn học sinh tìm những phép tu từ được sử dụng trong câu, đoạn thơ văn
+ Xác định từ ngữ có phép tu từ đó và gạch chân
Bước 3:
+ Sử dụng câu hỏi yêu cầu học sinh chỉ ra tác dụng của biện pháp tu từ trong việc thể hiện nội dung tư tưởng của đoạn văn, thơ
+ Trong đó, phân tích kĩ biện pháp nào là hay, đặc sắc nhất, gợi nhiều ấn tượng, cảm xúc cho người đọc
Bước 4: Đánh giá giá trị của các biện pháp tu từ được dùng trong văn
bản (đem lại điều gì về mặt nhận thức, về tư tưởng, tình cảm, về cảm thụ cái hay, cái đẹp )
Ví dụ 1: Khi phân tích tác dụng của các phép tu từ được sử dụng trong
khổ thơ đầu, bài “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh (Ngữ văn - lớp 7) như sau:
"Trên đường hành quân xa Dừng chân bên xóm nhỏ Tiếng gà ai nhảy ổ:
“Cục…cục tác cục ta”
Nghe xao động nắng trưa Nghe bàn chân đỡ mỏi Nghe gọi về tuổi thơ”
(Tiếng gà trưa – Xuân Quỳnh)
Bước 1:
- Hãy đọc, xác định nội dung chính của đoạn thơ ?
Bước 2:
- Khổ thơ sử dụng những phép tu từ nào, hãy chỉ rõ gạch chân các từ ngữ
sử dụng các biện pháp tu từ?
+ Điệp ngữ: “Nghe” lặp lại 3 lần + Liệt kê: “Nghe xao động nắng trưa, Nghe bàn chân đỡ mỏi, Nghe gọi về tuổi thơ”
Trang 10+ Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: “Nghe xao động nắng trưa, Nghe bàn chân đỡ mỏi, Nghe gọi về tuổi thơ”
Bước 3:
* Việc sử dụng các biện pháp tu từ trên có tác dụng gì ?
- Điệp ngữ cách quãng: “ nghe” lặp lại 3 lần ở đầu câu thơ liên tiếp thể hiện nỗi xúc động từng đợt trào dâng trong lòng người chiến sĩ khi nghe âm thanh quen thuộc của quê hương
- Liệt kê + ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: Người chiến sĩ không chỉ nghe âm thanh tiếng gà bằng thính giác mà còn lắng nghe cảm nhận bằng thị giác, bằng cảm giác, cảm xúc của tâm hồn, bằng hồi ức Tiếng gà đánh thức những kỉ niệm tuổi thơ với bà, gia đình, quê hương Tiếng gà như sợi dây vô hình nối liền quá khứ với hiện tại
* Việc sử dụng các biện pháp tu từ đó đã giúp em thấy điều gì trong suy
nghĩ, tình cảm của anh chiến sĩ trong bài thơ?
- Đoạn thơ ngắn nhưng khắc họa được tâm hồn nhạy cảm cùng tình cảm làng quê thắm thiết sâu nặng, tình yêu quê hương đất nước của người lính
Ví dụ 2: Bài thơ “ Cảnh khuya” – Hồ Chí Minh (Ngữ văn 7, tập 1).
Bước 1: Cho học sinh đọc kĩ bài thơ.
Bước 2: Chỉ ra các biện pháp tu từ được sử dụng trong bài thơ ? Gạch
chân các từ ngữ sử dụng các biện pháp tu từ đó ?
- Các biện pháp tu từ: So sánh “tiếng suối - tiếng hát”, điệp ngữ “Lồng, chưa ngủ”
Bước 3: Cho biết tác dụng của việc sử dụng các biện pháp tu từ trong bài
thơ ?
- Hình ảnh so sánh: Tiếng suối như tiếng hát có tác dụng khắc họa âm thanh tiếng suối trong đêm khuya, gợi không gian tĩnh lặng; cách so sánh hiện đại mà độc đáo khiến cảnh rừng khuya không lạnh lẽo mà trở nên có sức sống
và ấm áp tình người
- Điệp từ “lồng” với các hình ảnh: trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa gợi cảnh đẹp thơ mộng, huyền ảo Không chỉ tái hiện một đêm trăng rất sáng mà còn