1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIÁ TRỊ của NHẬN THỨC TRONG THÀNH DUY THỨC LUẬN

12 17 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giá Trị của Nhận Thức Trong Thành Duy Thức Luận
Tác giả Dương Thị Ngọc Ánh
Người hướng dẫn TT.TS. Thích Nhật Từ
Trường học Học viện Phật Giáo Việt Nam tại TP.HCM
Chuyên ngành Triết Học Phật Giáo
Thể loại Tiểu luận giữa kỳ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 258,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó Duy Thức Học biểu trưng sự vững chải từ thời Đức Phật cho đến ngày nay, là một môn triết học Phật Giáo có chiều dày lịch sử rất quan trọng.Vì vậy, Duy Thức Học, nếu như người nà

Trang 1

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HCM

GIÁ TRỊ CỦA NHẬN THỨC TRONG THÀNH DUY

THỨC LUẬN

Tiểu luận giữa học kỳ 7 Môn học: Thành duy thức luận

MSSV: TX 6009

Giảng viên phụ trách: TT.TS THÍCH NHẬT TỪ

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2022.

Trang 2

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HCM

GIÁ TRỊ CỦA NHẬN THỨC TRONG THÀNH DUY

THỨC LUẬN

Sinh viên thực hiện: Dương Thị Ngọc Ánh

Pháp danh: Thích Nữ Huệ Trạm

Mã sinh viên: 0620000009

Lớp: ĐTTX Khóa VI Chuyên ngành: Triết Học Phật Giáo

Thành phố Hồ Chí Minh,tháng 11 năm 2022

Trang 3

MỤC LỤC

A.DẪN NHẬP ………1

B.NỘI DUNG Chương 1: Giá trị của nhận thức luận trong Thành Duy thức học……… 2

Chương 2:Ứng dụng của tư tưởng duy thức……… 7

MỤC LỤC

Chương 1: Giá trị của nhận thức luận trong Thành Duy thức học……… 2

A DẪN NHẬP

B NỘI DUNG

Chương 1:

Giá trị của nhận thức luận trong Thành Duy thức luận

C KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

A DẪN NHẬP

Đức Phật Thích Ca đã xuất hiện nơi cõi đời trên 26 thế kỷ, trải qua bao trang sử biến đổi thăng trầm, bước đường truyền giáo không ít gian nguy khó nhọc! Nhưng người xưa đã làm tròn sứ mệnh đem đạo vào đời, thắp sáng đuốc tuệ ở nhân gian Như thế, xuyên qua dòng lịch sử chúng ta nhận thấy rằng Đạo Phật đi vào đời có cả ba tính chất đó là bi, trí, dũng Trong đó Duy Thức Học biểu trưng sự vững chải từ thời Đức Phật cho đến ngày nay, là một môn triết học Phật Giáo có chiều dày lịch sử rất quan trọng.Vì vậy, Duy Thức Học, nếu như người nào nghiên cứu đến cũng phải công nhận là một môn học rất thực tế, rất sống động, có giá trị thời gian và không gian trong mọi lĩnh vực xây dựng con người tiến bộ cũng như kiến tạo xã hội văn minh theo chiều hướng tâm linh Ngoài sự thỏa mãn phần nào vấn đề thắc mắc của lý trí, Duy Thức Học còn hướng dẫn con người cải tạo bản thân và biến đổi hoàn cảnh theo nhu yếu của nhận thức để họ sống được hạnh phúc an vui chân thật.Duy Thức Học dựa trên nguyên lý cấu tạo vũ trụ và nhân sinh theo chủ thuyết Duyên Sinh của Đức Phật Thích Ca chủ trương Chủ thuyết Duyên Sinh này chính Đức Phật Thích Ca đã tuyên ngôn đầu tiên nơi vườn Lộc Uyển để độ năm Anh Em ông Kiều Trần Như, sau khi thành đạo nơi cội Bồ Đề Căn cứ theo chủ thuyết Nhân Duyên Sinh, Duy Thức Học phân tích tính chất, giá trị, ý nghĩa và vai trò của mỗi tâm thức, cũng như tìm hiểu thấu đáo sự quan hệ lẫn nhau giữa các biểu thức (6 thức trước), Tiềm thức (Matna) và siêu thức (Alaya) trong mọi lĩnh vực sinh hoạt, hỗ trợ nhận thức cũng như sự sáng tạo vũ trụ và nhân sinh.Vì lý do đó học viên “ Giá trị của nhận thức luận trong Duy thức học" làm đề tài nghiên cứu của mình

Trang 5

B NỘI DUNG

Chương 1:

Giá trị của nhận thức luận trong Thành Duy thức luận

Duy thức tam thập tụng ( vijnaptimatratridasastrakarika) được triển khai tư tưởng Ðại thừa đến cực điểm của triết học Phật giáo vào những thế kỷ II đến thế kỷ VI tại Ấn Ðộ Duy thức được biết qua Phạn ngữ bằng 3 từ: 1) Cittamàtra, chủ trương tất cả đều do tâm, duy tâm; 2) Yogacàra, gồm 2 từ Du-già và hạnh, đề xướng hành trì du-già, quán tưởng thiền định để phát huy hạnh nguyện Bồ tát; 3) Vijnanaptivàda, học thuyết cho rằng tất cả vạn vật đều do thức hiện khởi Cả ba từ này được dùng cùng nghĩa với nhau, tuy rằng về sau, do các bộ luận chuyên về “duy thức” của Thế Thân, Vijnanaptivàda được phỗ biến hơn và chấp nhận như là tên gọi cho triết thuyết của tông này (Vijnanaptimatràtavàda) Một số điểm cơ bản của Thành Duy thức

* Tám thức: Duy thức học phân tích tâm thức con người nói riêng, tâm thức chúng sinh hữu tình nói chung, thành tám phần, gọi là tám thức Đó là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, thức thứ bảy, thức thứ tám Từ nhãn thức đến ý thức, gọi là sáu thức ngoài, vì chúng ta dễ dàng nhận ra chúng Thức thứ bảy và thức thứ tám hoạt động âm thầm sâu kín khó nhận ra nên gọi là hai thức trong Như vậy thức thứ bảy và thức thứ tám tương ứng với phần vô thức của Phân tâm học Sự vận hành của các thức đã làm nên các sự kiện tâm lý Như vậy, muốn giải thích được các sự kiện tâm lý, chúng ta phải khảo sát cả tám thức

Trước đây, do đồng hóa đời sống tâm linh với đời sống ý thức, nên Tâm lý học đồng hóa việc tìm hiểu tâm linh với việc tìm hiểu ý thức Hiện nay, dù đã quan tâm đến phần vô thức, nhưng do những hiểu biết về vô thức còn quá ít, quá đơn giản, nên các nhà tâm lý học vẫn chưa thấy được một cách đầy đủ vai trò của vô thức trong đời sống tâm linh, dẫn đến việc cho rằng vô thức và ý thức là hai mặt khác nhau của tâm thức Đây là một trong những nhược điểm của Tâm lý học hiện đại Nếu thấy được đầy đủ vai trò của vô thức mới có thể thấy được sự hoạt động thống nhất của các thức Sự hoạt động thống nhất này chỉ được nhận biết một cách đầy đủ khi phân tích tâm thức con người thành tám thức, không phải chỉ có hai thức như quan điểm của Tâm lý học hiện đại

* Lý nhân duyên: Theo Duy thức học, sự vận hành của tám thức chịu sự chi phối của lý Nhân duyên, cụ thể là lý Tứ duyên Như vậy, các sự kiện tâm lý đều chịu sự chi phối của

lý Nhân duyên Các hiện tượng tâm lý là các hiện tượng nhân duyên

Nhiều nhà tâm lý học muốn xây dựng Tâm lý học thành một lý thuyết khoa học đúng nghĩa Đó là một lý thuyết vừa được xây dựng trên lý Nhân quả vừa mang tính nhất quán Nhưng một lý thuyết như vậy khi vận dụng để lý giải những hiện tượng nhân duyên lại chỉ có một phạm vi tác dụng hạn chế Điều này giải thích tại sao các lý thuyết Tâm lý học hiện có, mỗi lý thuyết đều có những ưu điểm và khuyết điểm riêng Ưu điểm là khi được vận dụng trong phạm vi tác dụng của nó, chúng ta có được những lý giải phù hợp với hiện thực Khuyết điểm là với những hiện tượng nhân duyên nằm ngoài phạm vi tác dụng, lý thuyết ấy không giải thích được Trên tinh thần của lý Nhân quả, chúng ta chỉ thấy được các lý thuyết tâm lý học sai khác Với tinh thần của lý Nhân duyên, tất cả các

lý thuyết Tâm lý học hiện có sẽ được thu nhiếp trong một cái nhìn nhất quán, phân định

Trang 6

được phạm vi tác dụng của từng lý thuyết Chỉ với lý Nhân duyên, tâm lý học mới có được cái nhìn nhất quán về mọi hiện tượng tâm lý

* Nghiệp: Các hiện tượng tâm lý thì luôn thay đổi, tâm thức của con người cũng luôn chuyển biến, vậy năng lực nào đã làm nên sự vận hành đó của tâm thức? Đối với Duy thức học, năng lực ấy xuất phát từ nghiệp, nên gọi là nghiệp lực Có nhiều loại nghiệp khác nhau nên cũng có nhiều dạng nghiệp lực Các nghiệp lực ấy tiềm chứa trong thức thứ tám, chờ khi đủ duyên mới phát động Việc Freud cho rằng vô thức khi mới sinh chỉ chứa đựng năng lực tính dục (libido) là chưa đủ

Với cái nhìn của Duy thức, trong vô thức, lúc mới sinh còn tiềm chứa nhiều loại năng lực khác nữa Điều này giải thích tại sao Alfred Adler, Karl Gustav Jung là những học trò xuất sắc của Freud lại không đồng ý với Freud về nguồn gốc của năng lực tinh thần Từ

đó đã mở ra những hướng Tâm lý học khác Dù vậy cả Adler và Jung đều chưa thấy hết các năng lực tinh thần tiềm ẩn trong vô thức Chỉ với nghiệp, chúng ta mới thấy được đầy

đủ các loại năng lực khác nhau được tiềm chứa trong vô thức Nghiệp mới thực sự là nguồn gốc của năng lực tinh thần

Các điều vừa trình bày ở trên lý giải tại sao Tâm lý học hiện đại chưa thể giải thích được mọi hiện tượng tâm lý, chưa thể có được một lý thuyết Tâm lý học có tính nhất quán Về phần bạn đọc, các bạn có thể nêu ra các thắc mắc như tại sao là tám thức mà không chỉ là hai thức? Lý Nhân duyên là gì, làm sao có thể kiểm chứng trong thực tế? Nghiệp là gì, do đâu mà có, tại sao nó có năng lực chi phối thân tâm của chúng ta? v.v… Các vấn đề này

sẽ được bàn đến trong các bài viết sau

Ngay từ khi Đức Phật mới xuất hiện, với mục đích giải quyết vấn đề nhân sinh hay giải thoát cho chúng sinh khỏi những nỗi khổ đau trong đời sống hiện thực, Ngài đã sử dụng

hệ thống lý thuyết sáu thức để lý giải cho tiến trình nhận thức và điều chỉnh hoạt động nhận thức, phục vụ cho tiến trình giải thoát khổ đau của con người và đạt đến chân lý trong Đạo Phật Hệ thống lý thuyết này được giải thích một cách chi tiết và thống nhất trong thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy Nền tảng của mọi tư tưởng lý luận trong thời kỳ này của đạo Phật dựa trên tư tưởng Vô thường, Vô ngã và Duyên khởi, công thức nhận thức được khái quát thành:CĂN – TRẦN – THỨC > GIẢI THOÁT Khi lý giải những vấn đề của lý luận nhận thức, Duy thức học vẫn dựatrên những nền tảng lý thuyết chung ấy của thời kỳ Nguyên thủy Phật giáo,nhưng những luận bàn được bổ sung để trở nên chi tiết và phù hợp hơn.Trong Duy thức học, bản chất của chức năng nhận biết và đối tượngnhận biết luôn được chú trọng đặc biệt Cái đảm nhận chức năng nhận biết vẫn dựa trên tư duy truyền thống của Nguyên thủy Phật giáo - là Tâm thức,còn được gọi là chủ thể hay kiến phần Và đối tượng được nhận biết chính là pháp hay còn gọi là tướng phần Hai yếu tố này như đã bàn, luôn có mối quanhệ với nhau Công thức đưa đến sự nhận thức, phân biệt vẫn dựa trên mối quan hệ giữa:CĂN – TRẦN – THỨC, trong công thức ấy,CĂN vẫn dựa trên sáu căn: nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý

TRẦN vẫn dựa vào: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp

Tuy nhiên, trong lý thuyết về đối tượng nhận thức, Duy thức học có sự phân định rất rõ ràng thành thuyết Tam cảnh, bao gồm: “Tánh cảnh, Độc ảnh cảnh và Đới chất cảnh” Sự phân chia này của Duy thức học là để khuôn đối tượng nhận thức vào tương ứng với vai trò và chức năng của từng thức cụ thể trong Tám thức.Với THỨC, nếu Nguyên thủy Phật giáo dừng lại ở Sáu thức thì Duy thức học triển khai lý thuyết Tám thức Chức năng, vai trò của từng thức được Duy thức học phân định rất rõ, thể hiện trong lý thuyết về Tam lượng và Tam tính.Phương pháp diệt trừ nhận thức sai lầm của nhận thức không chỉ dừng

Trang 7

lại ở vẻ bề ngoài của lý thuyết Vô minh như trong thời kỳ Nguyên thủy Phật giáo Duy thức học đã lập ra lý thuyết Tam tự tính và Tam vô tính để điều chỉnh nhận thức Duy thức học đã lập ra lý thuyết Tam tự tính và Tam vô tính để điều chỉnh nhận thức từ sai lầm để dần đạt đến chân lý Đi sâu vào xem xét một cách kỹ lưỡng, Duy thức học tin rằng, phải

có một tầng thuộc về Tâm sâu xa hơn luôn gây ảnh hưởng lên Ý thức hằng ngày và làm tầng nền của Tâm, trường phái này đã phát hiện ra một vùng tiềm thức như thế, đó chính

là Mạt na và Alạida thức Duy thức học xem hai thức này là nền tảng của hiện hữu, nó không ngừng chi phối đời sống hằng ngày của chúng ta Chính vì thế, Mạt na và Alạida thức được trường phái này chọn làm điểm trọng tâm trong quá trình nghiên cứu.Như vậy, điểm cốt yếu trong tư tưởng của Duy thức so với tư duy Phật giáo truyền thống là quan niệm Tâm gồm Tám thức Duy thức học phân tích rõ tính chất, chức năng, phạm vi hoạt động của từng thức Hệ thống tám thức này hoạt động như một tổng thể trong quá trình nhận thức hướng nội Tám thức còn được gọi là tám Tâm vương, có vai trò chủ đạo, là sức mạnh chính yếu trong hệ thống tác dụng của thức, có thể tự do tác dụng, làm chủ nhận thức trong mọi hoàn cảnh Tuy nhiên, mỗi thức hoạt động với phạm vi, chức năng khác nhau.Nếu nhìn lại lịch sử tư tưởng Ấn Độ, khi lý giải về sự luân hồi, một số trường phái đưa ra lý thuyết về “ngã – atman” Đức Phật không hoàn toàn đồng ý với quan điểm này, bởi Ngài cho rằng, tất cả mọi thứ đều biến đổi, Vô ngã thì làm sao tồn tại một cái ngã bất biến được, Ngài thừa nhận lý thuyết Vô ngã Nhưng đã Vô ngã thì làm sao lý giải được ý niệm tái sinh như trong quan niệm của Đạo Phật Nhiều giai đoạn tiếp theo trong

sự phát triển của Phật giáo, vấn đề này vẫn tiếp tục được đưa ra bàn luận: làm sao vẫn thừa nhận tính luân hồi nhưng phải đứng trên lập trường Vô ngã của Đức Phật?Duy thức học dường như đã rất cẩn trọng và giải quyết được trăn trở này của Đức Phật khi đưa ra

lý thuyết về Alạida thức – một thức chứa đựng và tích lũy những kinh nghiệm, những dấu

ấn trong toàn bộ đời sống con người, là tiền đề để tạo ra những quả mới và thừa nhận điều này với ý nghĩa là sự luân hồi và tái sinh Phải chăng, đây là một cách thức giải quyết đầy khéo léo của Duy thức học Hiện hành và chủng tử, chúng luôn trong mối quan

hệ tác động qua lại như nhân và quả, cái này sinh cái kia Chủng tử trong Alạida thức hoạt động tạo ra những hiện hành, ở góc độ này, nhân là chủng tử, quả là hiện hành.Tiếp sau đó, hoạt động hiện hành lại tiếp tục hoạt động nhận thức để sinh ra các chủng tử mới,

ở trường hợp này, hiện hành lại đóng vai trò nhân và chủng tử trở thành quả Chính trong

sự kết hợp đầy năng lực của muôn vàn Nhân và Duyên để hình thành nên quả Cứ như vậy, tất cả sự vật được sinh khởi và thế giới được thành lập Đời sống thường ngày của chúng ta cũng như vậy, nó được tạo bởi những hiện hành và chủng tử, chi phối hầu hết mọi suy nghĩ và hành động của chúng ta Có thể nói, lý thuyết Nhân duyên của Đức Phật được nhận thức luận Duy thức học lý giải một cách linh hoạt trong Alạida thức Triết học Phật giáo nói chung và Duy thức học nói riêng đều cho rằng, mọi sự vật hiện tượng đều

Vô thường, Vô ngã, đi tìm cái Ngã rõ ràng là không thể có Thế mà trong cái thế giới Vô ngã ấy, Mạt na thức lại chấp làm bản ngã, vì vậy, nhận thức của thức thứ bảy này thường được Duy thức học gọi là Phi lượng Do bị thức này chi phối, con người luôn bị hấp dẫn bởi sự thường hằng, chúng ta luôn có ý định bám víu suốt cuộc đời, cho rằng mọi thứ luôn tồn tại.Thực ra, con người và kể cả thế giới sự vật hiện tượng luôn ở trong trạng thái chuyển động và thay đổi Sự vật hiện hữu ở đây và bây giờ chỉ là sự kếthợp tạm thời các yếu tố khác Sẽ không có sự vật nào là thường hằng – Vôthường, và con người cũng vậy

-Vô ngã Vì vậy, nếu quá bám víu chặt chẽ vào cái ngã, đời sống con người sẽ khổ đau, nhận thức sẽ càng trở nên sai lầm.Tuy nhiên, trong nhận thức sai lầm để dẫn đến đau khổ, chúng ta biết rằng, Mạt na thức luôn có mối quan hệ đặc biệt với Ý thức Đây là một thức đóng vai trò vô cùng quan trọng trong Duy thức học Phật giáo Năm thức tuy có chức

Trang 8

năng nhận thức trực tiếp ngoại cảnh, nhưng không có tác dụng suy luận nên chỉ có thể đóng vai trò là trợ lực cho Ý thức trong tiến trình nhận thức A lại da thức dù có hoàn hảo tới chừng nào, thì nó cũng chỉ dừng lại ở vai trò của một kho chứa, tự nó không có khả năng điều chỉnh nhận thức Trong khi đó, Mạt na thức lại luôn chấp ngã để đưa ra những nhận thức sai lầm Nếu như Tâm thức không làm gì để kháng cự lại những sai lầm đó thì con người sẽ mãi lâm vào khổ đau Đến đây, Duy thức học chỉ ra vai trò điều chỉnh nhận thức ấy thuộc về Ý thức Con đường nào có thể giúp Ý thức làm được điều này, Duy thức học đã xây dựng nên thuyết Tam tự tính và Tam vô tính Do thế giới sự vật hiện tượng bị chủ thể nhận thức dưới lăng kính vọng tưởng phân biệt (Biến kế sở chấp) Ý thức bị vô minh, không thấy được đó chỉ là sự tự phân biệt của Thức, từ đó chủ thể luôn chấp ngã pháp là thật; sự vật như vậy qua lăng kính nhận thức của con người không còn đúng “như thị” nữa Chỉ khi nào, chủ thể nhận thức và điều chỉnh được Ý thức để nhận biết rằng, mọi pháp đều Vô thường và Vô ngã, mọi pháp đều do Nhân Duyên mà thành và cũng do Nhân Duyên mà diệt thì thấy được bản tính Y tha khởi của đối tượng Đã là Nhân Duyên thì không có tự tính, từ đó phá bỏ tư duy chấp ngã, chấp pháp và đạt đến Viên thành thật tính –tức là hiểu đúng và chân thật về đối tượng “Nói một cách cụ thể hơn, khởi đầu,hành giả quán tưởng Không, tức tính Y tha khởi của ngã và pháp, để tiêu diệt kiến chấp ngã pháp… Theo đó mọi ô nhiễm… cũng bị tiêu diệt, mọi chủng tử cũng được chuyển từ bất tịnh sang tịnh” “Như vậy Y tha khởi là duyên khởi hiểu theo ý nghĩa của tánh không, nghĩa là sau khi phủ định sự có ngã pháp thời vọng chấp sẽ không còn lý do

gì mà tồn tại nữa và tri giác sẽ chuyển từ thức vô minh qua trí tuệ sáng suốt hoàn toàn” Đây được xem là con đường nhận thức trong giáo lý của Duy thức học Khi mới xuất hiện, Duy thức của Vô Trước và Thế Thân xây dựng hoàn toàn tán thành với học thuyết Trung đạo của Long Thọ, phái này không chấp nhận tư duy cực đoan của hữu pháp hay

vô pháp Tuy nhiên, “Duy thức tông thiên trọng sự thực hành về pháp quán tưởng (Yogacara) Thêm vào hai nguyên lý có tính chất tổng thể phổ quát, Duyên khởi là không

và nhị đế của Trung luận, Duy thức tông thiết lập một đạo lý mới có tính chất cá thể đặc thù chuyên khảo về Thức và nghiên cứu phương pháp thực hành phát triển khả năng của thức, chuyển thức thành trí để có hiểu biết chân lý tuyệt đối” Dựa trên Tâm mà cụ thể là Tâm thức để đi vào giải quyết những vấn đề trọng yếu của bản thể luận, trên quan điểm chủ đạo là “vạn pháp duy thức”, Duy thức học vì thế đã có những đóng góp giá trị đối với

sự phát triển của triết học Phật giáo xét trên cả hai phương diện: nhận thức luận và bản thể luận Với việc xây dựng một lý thuyết nhận thức chắc chắn, lôgic và phù hợp với tư tưởng Nguyên thủy Phật giáo, Duy thức học càng xác lập vị trí tồn tại của Phật giáo trong thế giới đương đại, thu hút sự tham gia nghiên cứu không chỉ đối với các luận sư Phật giáo mà còn đối với các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học Bên cạnh đó, Duy thức học còn là cơ sở để các lĩnh vực như Tâm lý học, Nhân minh học và Giáo dục học… tiếp tục xác lập những tiền đề, bổ sung và xây dựng lý thuyết của mình đầy đủ hơn, chính xác hơn và mang tính ứng dụng cao hơn, từ đó mở rộng không gian tác động của Phật giáo đến nhiều miền đất hơn Đặc biệt, gần đây, những nghiên cứu liên quan đến Ý thức, Mạt

na thức và Alạida thức với tâm lý học phương Tây hiện đại (Tâm lý học S Freud với ý thức, tiềm thức và vô thức) đang là một chủ đề thu hút nhiều công trình nghiên cứu Không những vậy, Duy thức học trở thành một lý thuyết, một phương pháp thực hành, luyện tập để điều chỉnh và thay đổi nhận thức, hành động

Nếu triết học Mác – Lênin xem nhận thức là quá trình phản ánh thế giới hiện thực khách quan thì nhận thức luận Duy thức học chọn phương pháp dùng tâm tĩnh để nhận thức thế giới động Con đường nhận thức của Duy thức học độc đáo ở chỗ điều chỉnh Tâm thức hướng vào trong để thực hiện quá trình nhận thức và điều chỉnh nhận thức, buông bỏ dần

Trang 9

thế giới khái niệm,ngôn từ… những công cụ được sử dụng để tìm hiểu về thế giới động -Tục đế.Bởi theo Duy thức học, tri thức dù đúng trong thế giới -Tục đế vẫn chỉ dừng lại ở chân lý tương đối Khi Tâm thức đạt đến cấp độ nhận thức trực tiếp về đối tượng (không đơn thuần chỉ là nhận thức trực giác, riêng lẻ của tiền ngũ thức), nhận biết sự vật đúng như thật trong mối quan hệ nhân duyên, sinh thành của vạn vật, đó là lúc nhận thức của chủ thể tiếp cận với thế giới Chân đế - tri thức sẽ tồn tại dưới hình thức Chân lý tuyệt đối, Duy thức học gọi đó là Duy thức tính Toàn bộ quá trình này luôn được điều khiển bởi Tâm thức.Nếu nhìn một cách tổng quát, toàn bộ nội dung của triết học Phật giáo hay Duy thức học đều dựa trên nền tảng của lý thuyết về Tâm mà trong nhận thức luận gọi là Tâm thức Con đường nhận thức vì thế được Duy thức học xây dựng là đi từ hiện tượng đến bản thể, từ tướng đến tính, từ động đến tĩnh, hay từ việc nhận thức thế giới Hữu vi với những sai lầm do Vô minh mang lại, sau đó dần phá bỏ những sai lầm để đạt đến nhận thức chân lý ở thế giới Vô vi Quá trình phát triển của Tâm lý học đã chỉ ra rằng, mỗi ngành trong ba ngành Tâm lý học ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai và ngôi thứ ba đều có những ưu điểm và khuyết điểm riêng Lạ thay, ưu điểm của ngành này thường là khuyết điểm của ngành kia và ngược lại Điều này đã dẫn đến nhận định sau: Phải chăng để tìm hiểu một cách đầy đủ tâm hồn con người, như một tinh thần nhập thể và nhập thế, cần thiết phải vận dụng một cách hài hòa cả ba phương pháp nói trên Phải chăng sự bổ túc lẫn nhau của ba ngành Tâm lý học khác nhau sẽ nói lên sự thống nhất sâu xa của Tâm lý học Trên tinh thần ấy, hiện nay trong Tâm lý học, vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, nhiều lý thuyết có chủ trương khác nhau khi nói về sự tương quan giữa tâm lý và sinh lý,

sự tương quan giữa tâm lý và xã hội, cũng như khi nói về các đặc tính của những sự kiện tâm lý Điều này đã dẫn đến việc có nhiều diễn giải khác nhau về ý nghĩa, bản chất, nguồn gốc, vị trí và vai trò của sự kiện tâm lý.Đến đây có một câu hỏi cần được nêu ra:

Có hay không có một lý thuyết Tâm lý học có thể lý giải tất cả mọi hiện tượng tâm lý một cách nhất quán? Câu trả là có và đã có Đó chính là môn Duy thức học trong giáo lý nhà Phật.Duy thức học là môn học rất rộng, không chỉ gói gọn trong phạm vi của Tâm lý học

Ở góc độ của Tâm lý học, Duy thức học có khả năng cung cấp cho chúng ta một cái nhìn nhất quán về mọi hiện tượng tâm lý Để vấn đề trở nên đơn giản và dễ hiểu, bài viết này chỉ nêu ra một số điểm cơ bản của Duy thức học, lấy đó làm căn cứ để chỉ ra những khiếm khuyết của Tâm lý học hiện đại, giải thích tại sao Tâm lý học vẫn chưa có được một lý thuyết lý giải mọi hiện tượng tâm lý một cách nhất quán

Trang 10

Chương 2 Ứng dụng của tư tưởng duy thức trong tu tập

Trong cuộc sống đời thường của mình, con người luôn chấp ngã và chấp pháp, tức cho rằng cái tôi của mình là có thật, thế giới là có thật Vì chấp ngã nên con người luôn luôn

bị bất an vì sợ thua kém người, sợ bị người lấn át, sợ nghèo nàn bệnh tật, sợ đủ thứ Người có tài thì lấy tài năng để tranh đua Người bất tài ắt lấy âm mưu thủ đoạn đen tối

để tranh đua, tìm cách lợi mình hại người Mâu thuẫn giữa các cá nhân; mâu thuẫn giữa các tập thể công ty, xí nghiệp, hiệp hội, đoàn thể; mâu thuẫn giữa các quốc gia dân tộc, là luôn luôn hiện hữu Tất cả những mâu thuẫn đó tạo ra thế giới đầy bất an, bạo lực, tranh giành, chiến tranh, mà chúng ta chứng kiến hàng ngày qua các phương tiện truyền thông Còn đối với một cá nhân thì cũng có vô vàn những nỗi lo âu, sợ hãi, đau khổ như nghèo đói, thất nghiệp, bệnh tật, thất tình, thiên tai, nhân họa, người thân chia lìa, oan gia gặp nhau v.v…Tất cả những nỗi khổ và bất an nêu trên đều dựa trên nhận thức sai lầm về thế giới Nhận thức sai lầm đó khiến con người không thể làm chủ được số phận của mình Tại sao tôi sinh ra trong một gia đình nghèo khó bất hạnh ? Tại sao tôi sinh ra trong một đất nước nhược tiểu, nghèo khổ, lạc hậu, chính quyền thì độc đoán, luôn bị các nước lớn chèn ép, tranh giành biển đảo ? Tại sao tôi không xinh đẹp, thông minh, tài giỏi như những diễn viên, ca sĩ, doanh nhân, giàu có thành công trong xã hội ? Tại sao tôi mắc phải những chứng bệnh nan y, khó trị ? Tại sao thiên tai nhân họa không ngừng giáng xuống đầu của tôi ? Trên thế giới này có bao nhiểu người từng than trời trách đất hoặc tự hỏi mình như vậy ? Rõ ràng tuyệt đại đa số con người không làm chủ được số phận của mình.Họ có biết đâu rằng cuộc sống và suy nghĩ cũng như cảm nhận của họ là dựa trên căn bản mê lầm Tác phẩm này vạch ra những chỗ mê lầm căn bản nhất của con người,

kể cả những người thông minh tài giỏi nhất của nhân loại như Einstein cũng không tránh khỏi sai lầm.Hiểu sâu tác phẩm này, một cá nhân có thể rút ra cách giải thoát cho mình Hiểu ngã và pháp chỉ là ảo tưởng thì cuộc đời chỉ còn là một hí trường, mỗi người sẽ diễn vai trò của mình, thành công hay thất bại không còn quá quan trọng nữa Con người vẫn sống như bình thường từ trước tới nay, chỉ có tâm lý, tâm thái thì có thay đổi, không còn quá cố chấp nữa Tự mình giải thoát mọi khổ ách, ban đầu là tương đối, nghĩa là tâm lý phải siêu việt hoàn cảnh, dù có bị đối xử bất công, bệnh tật, tai nạn, gặp hoàn cảnh bất hạnh cũng không quá đau buồn Tâm thức chuyển thì sớm muộn hoàn cảnh sẽ dần dần chuyển biến theo, ý thức cá nhân sẽ hợp nhất với Trời, thân và tâm sẽ được an lạc thật sự, khi cần tiền sẽ có tiền, hoàn cảnh thực tế chung quanh mình sẽ trở nên tốt đẹp một cách

kỳ diệu như có trời giúp.Các chính quyền và các nhà khoa học hiểu sâu tác phẩm này, sẽ hướng hoạt động theo những giá trị phổ quát, vượt khỏi chủ nghĩa ái quốc, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa bá quyền nước lớn, phục vụ tốt hơn cho nhân loại và cả những loài vật khác Các quan chức sẽ giảm bớt tham nhũng, không còn quá chăm lo việc vinh thân phì gia, xã hội sẽ tốt hơn Khoa học dần dần sẽ khai thác được những nguồn năng lượng

vô tận như ánh sáng, gió, nước biển, đó là những nguồn năng lượng sạch Dựa trên ý tưởng vũ trụ là số (digital), một ngày kia các nhà khoa học sẽ biết cách vận dụng các bit thông tin vũ trụ để tạo ra mọi thứ sản phẩm vật chất và tinh thần một cách vô hạn, phục

vụ đáp ứng được tất cả mọi nhu cầu của tất cả mọi người Con người không cần phải tranh giành chém giết nhau nữa, vì mọi nhu cầu sẽ được đáp ứng một cách đầy đủ.Một vài dấu hiệu hiện có cũng khiến chúng ta lạc quan tin tưởng, chẳng hạn phương tiện để vào mạng internet hiện nay, một số nơi đã cung cấp miễn phí Facebook đang lập kế hoạch cho máy bay không người lái sử dụng năng lượng mặt trời để phát sóng cho những

Ngày đăng: 30/11/2022, 19:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thích Quảng Liên, Duy Thức Học, Nxb Tu viện Quảng Đức, 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Duy Thức Học
Tác giả: Thích Quảng Liên
Nhà XB: Nxb Tu viện Quảng Đức
Năm: 1972
2. Tuệ Sĩ dịch, Luận Thành Duy Thức, Nxb Hồng Đức, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận Thành Duy Thức
Tác giả: Tuệ Sĩ
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2009
3. Nhất Hạnh, (1996) Giảng Luận Duy Biểu Học, Nxb Lá Bối Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng Luận Duy Biểu Học
Tác giả: Nhất Hạnh
Nhà XB: Nxb Lá Bối
Năm: 1996
4. Thích Thiện Siêu (2006) Luận Thành Duy Thức, Nxb Văn Hóa Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận Thành Duy Thức
Tác giả: Thích Thiện Siêu
Nhà XB: Nxb Văn Hóa Sài Gòn
Năm: 2006
5. Thích Thiện Hoa (2010) Duy Thức Học, Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Duy Thức Học
Tác giả: Thích Thiện Hoa
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2010
6. Chân Đế - Giải Minh (dịch) (2012) Duy Thức Triết Học, Nxb Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân Đế - Giải Minh (dịch)
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2012

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w