1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tự do di chuyển hàng hoá, tự do di chuyển dịch vụ, tự do di chuyển đầu tư, tự do di chuyển vốn hơn và tự do di chuyển lao động lành nghề (Pháp luật cộng đồng Asean)

12 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tự do di chuyển hàng hoá, tự do di chuyển dịch vụ, tự do di chuyển đầu tư, tự do di chuyển vốn hơn và tự do di chuyển lao động lành nghề (Pháp luật cộng đồng ASEAN)
Tác giả Phạm Thu Trang
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Pháp luật cộng đồng ASEAN
Thể loại Bài tập tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 658,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP TIỂU LUẬN HẾT HỌC PHẦN MÔN PHÁP LUẬT CỘNG ĐỒNG ASEAN Hà Nội, 2021 HỌ VÀ TÊN Phạm Thu Trang MSSV 431319 LỚP N07 TL1 ĐỀ TÀI Anhchị hãy nêu cấu trúc của thị.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP TIỂU LUẬN HẾT HỌC PHẦN MÔN PHÁP LUẬT CỘNG ĐỒNG ASEAN

Hà Nội, 2021

Trang 2

ĐỀ TÀI:

Anh/chị hãy nêu cấu trúc của thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất ASEAN và LỰA CHỌN 01 trong 05 yếu tố cơ bản của thị trường và cơ sở sản

xuất thống nhất trong Cộng đồng kinh tế ASEAN bao gồm: tự do di chuyển

hàng hoá, tự do di chuyển dịch vụ, tự do di chuyển đầu tư, tự do di chuyển vốn hơn

và tự do di chuyển lao động lành nghề và phân tích nội dung của 01 trong 05 yếu tố

đó dưới các góc độ sau:

- Cơ sở pháp lý

- Mục tiêu

- Phương thức thực hiện tự do hoá

- Đánh giá những tác động của đại dịch Covid 19 tới hiệu quả hợp tác của các quốc gia thành viên trong từng yếu tố mà anh/chị đã lựa chọn

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung 1

1.1 Mô hình liên kết của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) 1

1.2 Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) 1

Chương 2: Cấu trúc của thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất ASEAN 2

Chương 3: Nội dung của yếu tố “tự do di chuyển hàng hóa” của thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 3

3.1 Cơ sở pháp lý 3

3.2 Mục tiêu 3

3.3 Phương thức thực hiện tự do hoá 4

3.4 Đánh giá những tác động của đại dịch Covid 19 tới hiệu quả hợp tác của các quốc gia thành viên trong yếu tố “tự do di chuyển hàng hóa” 7

KẾT LUẬN 8

Trang 4

1

MỞ ĐẦU

Cộng đồng kinh tế ASEAN là một trong ba trụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra trong Tầm nhìn ASEAN 2020 Để xây dựng được Cộng đồng kinh tế ASEAN thì nhất thiết phải trên cơ sở thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất Tuy nhiên, để thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất được hình thành thì nhiệm vụ trung tâm đối với ASEAN là đảm bảo được sự tự do di chuyển hàng hóa trong Khu vực thương mại tự do ASEAN Tìm hiểu về nội dung này, em xin trình bày một số phân tích của mình về cấu trúc của thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất ASEAN và nội dung của yếu tố “tự do di chuyển hàng hóa” của thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất trong Cộng đồng kinh tế ASEAN

NỘI DUNG Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung

1.1 Mô hình liên kết của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)

Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) là liên kết kinh tế của ASEAN, hình thành trên

cơ sở hệ thống thể chế và thiết chế pháp lí, nhằm xây dựng ASEAN trở thành một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất, có tính cạnh tranh cao, phát triển đồng đều giữa các nền kinh tế thành viên và hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu1 Theo các văn bản pháp lí của ASEAN, nội dung của AEC bao gồm: (i) Thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất, (ii) Khu vực kinh tế cạnh tranh cao, (iii) Khu vực phát triển kinh tế đồng đều, (iv) Khu vực hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu

1.2 Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA)

Khu vực thương mại tự do ASEAN là khu vực thương mại hình thành giữa các nước ASEAN, mà tại đó các rào cản thương mại được dỡ bỏ đồng thời các hoạt động thuận lợi hóa thương mại được xúc tiến đối với hàng hóa qua lại giữa các quốc gia thành viên Nội dung của AFTA bao gồm 2 nhóm vấn đề chính: Các vấn đề pháp lí về tự do hóa thương mại hàng hóa (dỡ bỏ các rào cản thương mại) gồm tự do hóa thuế quan, các biện pháp phi thuế quan và quy tắc xuất xứ hàng hóa và các vấn đề pháp lí về thuận lợi hóa thương mại hàng hóa, bao gồm thủ tục hải quan; tiêu chuẩn, quy định kĩ thuật và thủ tục đánh giá sự phù hợp; các biện pháp vệ sinh dịch tễ

1

Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Pháp luật cộng đồng ASEAN, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2014, tr.148

Trang 5

2

Chương 2: Cấu trúc của thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất ASEAN

Trong số bốn trụ cột của AEC, thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất ASEAN được coi là trụ cột hợp tác chính của Cộng đồng ASEAN và là tiền đề, điều kiện tiên quyết để thực hiện ba trụ cột còn lại Dưới góc độ tiêu dùng, AEC sẽ là một thị trường thống nhất Thông qua tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ, người tiêu dùng sẽ được tự do lựa chọn các loại hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong khu vực cũng giống như được sản xuất ở nước mình Dưới góc độ sản xuất, AEC sẽ là một cơ sở sản xuất đơn nhất Thông qua việc tự do di chuyển các yếu tố của sản xuất như vốn, người lao động (và

cả các yếu tố đầu vào khác dưới dạng hàng hóa và dịch vụ), ASEAN sẽ là một khu vực sản xuất thống nhất đối với các nhà sản xuất, cung ứng hàng hóa và dịch vụ2 Một thị

trường và cơ sở sản xuất thống nhất của ASEAN bao gồm năm yếu tố cốt lõi Thứ nhất,

tự do di chuyển hàng hóa của ASEAN được thực hiện thông qua tự do hóa thuế quan, các biện pháp phi thuế quan, thiết lập quy tắc xuất xứ, thuận lợi hóa thương mại, hợp tác hải

quan, hài hòa hóa và nhất thể hóa hàng rào tiêu chuẩn và kĩ thuật trong thương mại Thứ hai, tự do di chuyển dịch vụ được thực hiện thông qua xóa bỏ (có lộ trình) các hạn chế đối

với thương mại dịch vụ, xây dựng các thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA), tăng cường

phát triển nguồn nhân lực và xây dựng năng lực trong lĩnh vực dịch vụ Thứ ba, tự do di

chuyển đầu tư được thực hiện thông qua việc mở cửa đầu tư, xóa bỏ các biện pháp hạn chế đầu tư, dành chế độ đãi ngộ quốc gia và chế độ tối huệ quốc cho cả nhà đầu tư ASEAN và các nhà đầu tư bên ngoài; bảo hộ đầu tư, các chương trình và hoạt động xúc

tiến và thuận lợi hóa đầu tư Thứ tư, tự do di chuyển dòng vốn hơn được thực hiện thông

qua tăng cường hội nhập và phát triển thị trường vốn của khu vực (đặc biệt là các vấn đề liên quan đến chứng khoán, thanh toán quốc tế, thị trường vay nợ) và cho phép di chuyển

các khoản vốn lớn và có ý nghĩa kinh tế quan trọng Thứ năm, tự do di chuyển lao động

lành nghề, ASEAN sẽ tạo điều kiện cho sự tự do di chuyển của lao động có tay nghề cao thông qua: (i) Cho phép nhập cảnh và tạo điều kiện thuận lợi trong cấp thị thực (visa) và

di chuyển của các chuyên gia và lao động có tay nghề cao tham gia vào thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư; (ii) Tăng cường hợp tác giữa các thành viên Mạng lưới các trường đại học ASEAN (ASEAN University Network – AUN) để tạo thuận lợi cho sinh viên và

2

Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Pháp luật cộng đồng ASEAN, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2014, tr.152

Trang 6

3

cán bộ các trường đại học trong đi lại, học tập và làm việc trong khu vực; (iii) Phát triển các năng lực cốt lõi, trình độ và kĩ năng của các giảng viên đại học trong các nghề nghiệp liên quan đến các lĩnh vực ưu tiên hội nhập của ASEAN và các lĩnh vực dịch vụ khác; (iv) Tăng cường khả năng nghiên cứu của các quốc gia thành viên về nâng cao trình độ và kĩ năng của người lao động; (v) Phát triển mạng lưới thông tin thị trường lao động giữa các nước thành viên ASEAN

Ngoài ra, thị trường và cơ sở sản xuất cũng bao gồm hai thành phần quan trọng là: các lĩnh vực hội nhập ưu tiên; thực phẩm, nông nghiệp và lâm nghiệp

Chương 3: Nội dung của yếu tố “tự do di chuyển hàng hóa” của thị trường và

cơ sở sản xuất thống nhất trong Cộng đồng kinh tế ASEAN

3.1 Cơ sở pháp lý

Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN và Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung cho AFTA (CEPT) được kí năm 1992 là cơ sở pháp lí đầu tiên và cũng là những công cụ pháp lý đầu tiên, chủ yếu thực hiện tự do hóa thương mại hàng hóa trong AFTA Hai hiệp định này sau đó đã được sửa đổi, bổ sung bằng hàng loạt các nghị định thư Nhằm xây dựng khung pháp lí cho tiến trình hội nhập các ngành ưu tiên trong ASEAN, Hiệp định khung về hội nhập các ngành ưu tiên (APIS)

đã được kí năm 2004 với các nội dung tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại đối với các loại hàng hóa được ưu tiên hội nhập Trước những thay đổi của bối cảnh thế giới và khu vực, cũng như yêu cầu thúc đẩy liên kết nội bộ của ASEAN, Hiệp định về thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) đã được kí năm 2009, trở thành cơ sở pháp lí toàn diện điều chỉnh tất cả những nội dung pháp lí hiện nay của AFTA.3

3.2 Mục tiêu

Tự do di chuyển hàng hóa trước hết nhằm đạt được sự đối xử công bằng giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài, giữa các nhà sản xuất trong nước với những nhà sản xuất nước ngoài, và sau cùng là đạt được chế độ thương mại tự do Để tạo điều kiện thuận lợi về lưu chuyển hàng hóa trong nội khối ASEAN, các nước ASEAN đã thống nhất tạo ra một hành lang pháp lý cao nhất trong tự do hóa thuế

3

Lê Minh Tiến, Tự do hoá thương mại hàng hoá của ASEAN trong quá trình hình thành, xây dựng và phát triển Cộng đồng kinh

tế ASEAN Tạp chí Luật học, số Đặc san ASEAN/2018, tr 21

Trang 7

4

quan trong khu vực, giúp cho các doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài khu vực có thể phát triển kinh doanh một cách tốt nhất với nhiều nguồn nguyên liệu phong phú và giá rẻ hơn, nguồn thiết bị máy móc chất lượng tốt hơn, cũng như góp phần thúc đẩy thương mại nội khối thông qua việc đơn giản hóa các thủ tục, giảm bớt thời gian và chi phí kinh doanh, từ đó làm tăng lợi nhuận cho khối doanh nghiệp và đông đảo người tiêu dùng

3.3 Phương thức thực hiện tự do hoá

Trong khuôn khổ ASEAN, tự do hóa thương mại hàng hóa của ASEAN được chia thành hai nhóm phương thức Đó là dỡ bỏ rào cản thương mại (gồm tự do hóa thuế quan, các biện pháp phi thuế quan và thiết lập quy tắc xuất xứ) và thuận lợi hóa thương mại hàng hóa (gồm hợp tác hải quan, hài hòa hóa và nhất thể hóa hàng rào tiêu chuẩn và kĩ thuật trong thương mại, các biện pháp vệ sinh dịch tễ)

3.3.1 Dỡ bỏ rào cản thương mại

Hai phương thức chung mà ASEAN thực hiện dỡ bỏ rào cản thương mại, đó là (i)

tự do hóa theo lộ trình có sự phân biệt giữa các thành viên trên cơ sở trình độ phát triển bởi nếu không tiến hành tự do hóa theo lộ trình thì những nước kém phát triển hơn trong ASEAN có thể không đủ năng lực thực hiện những cam kết pháp lí chung trong khuôn khổ AFTA và (ii) phân biệt giữa các loại hàng hóa do vai trò cũng như sự tác động khác nhau của chúng đối với mỗi nền kinh tế

3.3.1.1 Tự do hóa thuế quan

Tự do hóa thuế quan trong AFTA là quá trình thực hiện cắt giảm và xóa bỏ thuế quan của các quốc gia thành viên theo cơ chế chung

Thứ nhất, cắt giảm và xóa bỏ thuế quan theo CEPT Chương trình CEPT được thực

hiện theo phương thức phân chia các loại hàng hóa được thành 4 danh mục cắt giảm thuế quan với các lộ trình cắt giảm và xóa bỏ thuế quan khác nhau Cụ thể: (i) Danh mục cắt giảm ngay (IL), những loại hàng hóa nào phải tiến hành cắt giảm thuế quan ngay; (ii) Danh mục loại trừ tạm thời (TEL), gồm những mặt hàng trong thời gian đầu tạm thời chưa đưa vào giảm thuế quan; (iii) Danh mục nhạy cảm cao (SL) gồm các mặt hàng nông sản chưa chế biến; (iv) Danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL) bao gồm các loại hàng hóa có ảnh hưởng đến sức khỏe con người, an ninh quốc gia, văn hóa, thuần phong mỹ tục… Những hàng hóa thuộc Danh mục này sẽ không bị cắt giảm thuế quan theo CEPT

Thứ hai, cắt giảm, xóa bỏ thuế quan và hạn ngạch thuế quan theo ATIGA Một là,

Trang 8

5

về cắt giảm, xóa bỏ thuế quan Phương thức cắt giảm và xóa bỏ thuế quan theo ATIGA tương tự như CEPT, tức là cũng được tiến hành theo các lộ trình cắt giảm khác nhau trên

cơ sở phân chia các loại hàng hóa và trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia thành viên Tuy nhiên, so với CEPT, ATIGA quy định cụ thể và chi tiết hơn về lộ trình cắt giảm thuế quan đối với một số loại hàng hóa cụ thể tại các nước thành viên, chủ yếu là các nước CLMV (Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam), như sản phẩm công nghệ thông tin, nông sản chưa chế biến, xăng dầu do vai trò quan trọng của những hàng hóa này đối với nền kinh tế hay an ninh quốc gia cũng như khả năng cạnh tranh trước những hàng hóa cùng loại của những nước phát triển hơn trong ASEAN Theo đó, hàng hóa thuộc phạm vi cắt giảm thuế quan theo ATIGA được chia thành 8 danh mục với lịch trình và thời hạn cắt giảm khác nhau Hai là, về xóa bỏ hạn ngạch thuế quan Theo quy định tại Điều 20

ATIGA, “trừ khi có quy định khác trong Hiệp định này, từng quốc gia thành viên cam kết không áp dụng hạn ngạch thuế quan (TRQs) đối với nhập khẩu bất kì loại hàng hóa nào

có xuất xứ từ các quốc gia thành viên khác hoặc đối với xuất khẩu bất kì hàng hóa nào tới lãnh thổ của các quốc gia thành viên khác”

3.3.1.2 Các biện pháp phi thuế quan

Hàng rào phi thuế quan bao gồm hai loại là các hạn chế về số lượng và các rào cản

phi thuế quan khác Đối với mỗi loại biện pháp sẽ có phương thức xóa bỏ khác nhau Thứ nhất, đối với các hạn chế về số lượng, cả CEPT và ATIGA đều quy định việc dỡ bỏ

chung, đó là các quốc gia thành viên có nghĩa vụ phải xóa bỏ ngay loại rào cản này và

không được phép đưa ra nhưng quy định mới Thứ hai, đối với các rào cản phi thuế quan

khác, việc xác định đâu là một “rào cản phi thuế quan khác” là khó khăn hơn nhiều vì những rào cản này đôi khi không rõ ràng, khó nhận diện, rất phong phú và tinh vi dưới các hình thức hàng rào kĩ thuật, biện pháp vệ sinh dịch tễ, biện pháp an toàn… trong chính sách thương mại quốc tế của các quốc gia Do đó, phương thức thực hiện là xóa bỏ dần dần và sẽ được tiến hành theo hai bước Trước khi tiến hành xóa bỏ, phải thực hiện giai đoạn rà soát để nhận diện và xác định các rào cản này rồi mới tiến hành xóa bỏ theo

lộ trình được quy định cho từng nhóm nước căn cứ vào trình độ phát triển kinh tế của những nước này

3.3.1.3 Thiết lập quy tắc xuất xứ

Trang 9

6

Quy tắc xuất xứ được hiểu là “tập hợp những quy định pháp luật và quyết định hành chính để xác định quốc gia xuất xứ của hàng hóa” Những quy định này nhằm xác định quốc gia nơi mà hàng hóa “thực sự” được thu hoạch hoặc sản xuất, chế biến, gia công; qua đó, xác định hàng hóa thuộc diện được hưởng ưu đãi thương mại mà AFTA dành cho các thành viên” Để xác định hàng hóa được hưởng ưu đãi thương mại trong AFTA đồng thời hạn chế hiện tượng “chệch hướng thương mại”, các nước thành viên phải có khả năng phân biệt hiệu quả giữa hàng hóa có nguồn gốc từ khu vực với hàng hóa bên ngoài trên cơ sở những quy tắc nhất định để xác định xuất xứ của các loại hàng hóa

Theo quy tắc xuất xứ của AFTA, hàng hóa có xuất xứ ASEAN bao gồm hai loại Một là, hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ phải hoàn toàn được sinh trưởng và thu hoạch ở quốc gia xuất xứ hoặc được gia công hoàn toàn bằng các nguyên liệu của quốc gia xuất xứ Hai là, hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ được coi là có xuất xứ ASEAN khi đáp ứng được một trong

ba tiêu chí: hàm lượng giá trị khu vực (RVC>40%), tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa ở cấp 4 số (CTC) và tiêu chí cụ thể mặt hàng (PSR)

3.3.2 Thuận lợi hóa thương mại hàng hóa

Thuận lợi hóa thương mại là việc xây dựng và thực hiện các hoạt động, biện pháp, chính sách và chương trình nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi, nhất quán, minh bạch

và có thể dự đoán được đối với hoạt động thương mại hàng hóa giữa các quốc gia thành viên Theo quy định tại Điều 46 Hiệp định ATIGA, thuận lợi hóa thương mại trong ASEAN hiện nay bao gồm ba vấn đề chính sau:

Thứ nhất, về thủ tục hải quan, theo quy định tại Chương 6 ATIGA, mỗi quốc gia

thành viên phải đảm bảo rằng những thủ tục và thông lệ hải quan của mình có thể dự đoán được, nhất quán, minh bạch và tạo thuận lợi cho thương mại hàng hóa thông quan việc nhanh chóng thông quan hàng hóa Để thực hiện được những nội dung trên, các quốc gia thành viên phải thực hiện minh bạch hóa các luật lệ, quy định, quyết định và quy tắc về hải quan Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết, các quốc gia thành viên sẽ tiến hàng hỗ trợ

và tham vấn lẫn nhau về các vấn đề hải quan ảnh hưởng đến việc trao đổi hàng hóa giữa các thành viên

Thứ hai, về tiêu chuẩn, quy định kĩ thuật và thủ tục đánh giá sự phù hợp Nhằm

giảm thiếu hoặc xóa bỏ hoàn toàn các hàng rào kỹ thuật không cần thiết trong thương mại,

Trang 10

7

các quốc gia thành viên có thể thực hiện một hoặc kết hợp nhiều biện pháp như hài hòa các tiêu chuẩn quốc gia với các tiêu chuẩn quốc tế liên quan với thực tế; xúc tiến việc công nhận kết quả đánh giá hợp chuẩn trong các quốc gia thành viên; xây dựng và thực hiện các thỏa thuận chuyên ngành về công nhận lẫn nhau trong ASEAN và xây dựng hệ thống quy định các tiêu chuẩn trong các lĩnh vực quản lí và hợp tác giữa các cơ quan chứng nhận quốc gia và các Viện đo lường quốc gia ( Điều 73 Hiệp định ATIGA)

Thứ ba, đối với các biện pháp vệ sinh dịch tễ Nhằm bảo vệ con người, động thực

vật đồng thời đảm bảo cho những quy định này không trở thành những rào cản gây trở ngại cho hoạt động thương mại giữa các bên, ATIGA quy định cho quốc gia thành viên nghĩa vụ tuân thủ các nguyên tắc của Hiệp định SPS về áp dụng các biện pháp kiểm dịch động thực vật, trong việc xây dựng, áp dụng hoặc công nhận bất kỳ biện pháp vệ sinh dịch tễ nào, đồng thời có thể áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế liên quan, hướng dẫn và đề xuất từ các tổ chức quốc tế trong việc thực hiện các biện pháp vệ sinh dịch tễ…

3.4 Đánh giá những tác động của đại dịch Covid 19 tới hiệu quả hợp tác của các quốc gia thành viên trong yếu tố “tự do di chuyển hàng hóa”

Đại dịch Covid 19 tác động đến hoạt động sản xuất vật chất của các ngành kinh tế công nghiệp của Việt Nam và các nước ASEAN Điều này đã dẫn đến sự đình trệ trong các ngành công nghiệp và kinh tế, nhất là cộng đồng kinh tế ASEAN Sự đứt gãy chuỗi cung ứng, đóng cửa biên giới, tạm dừng nhập khẩu, nguồn nhân lực không thể di chuyển

là những thách thức lớn nhất mà ASEAN phải đối mặt, buộc nước chủ nhà phải chủ động

và linh hoạt điều chỉnh lại nội dung làm việc, tập trung ứng phó dịch bệnh, đẩy mạnh hợp tác nội khối và phục hồi kinh tế Tuy nhiên việc đóng cửa biên giới lại khiến các nước thành viên ASEAN và các đối tác bên ngoài tăng cường dựng hàng rào thương mại thông qua các biện pháp phi thuế quan Mặc dù tâm lý tự bảo vệ mình của mỗi nước là điều có thể hiểu được, nhưng sẽ là khôn ngoan hơn nếu các quốc gia trong khu vực có thể hỗ trợ lẫn nhau Đây chính là kim chỉ nam hành động của 10 nước ASEAN khi dịch bệnh diễn

ra.4

Các Bộ trưởng Kinh tế các nước Đông Nam Á (ASEAN) và ba nước đối tác gồm Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc (ASEAN+3) đã thông qua Tuyên bố chung nhằm

4

VTV, Liên kết nội khối ASEAN và "phép thử" COVID-19: Cơ hội và thách thức!,

https://vtv.vn/kinh-te/lien-ket-noi-khoi-asean-va-phep-thu-covid-19-co-hoi-va-thach-thuc-20201031123936722.htm, ngày truy cập: 10/7/2021

Ngày đăng: 30/11/2022, 16:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w