1 BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN TƯ PHÁP QUỐC TẾ Đề 13 Bình luận về các điều luật mới được quy định tại phần 5 Bộ luật dân sự 2015 so với phần 7 Bộ luật dân sự 2.1 BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN TƯ PHÁP QUỐC TẾ Đề 13 Bình luận về các điều luật mới được quy định tại phần 5 Bộ luật dân sự 2015 so với phần 7 Bộ luật dân sự 2.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
************
BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN: TƯ PHÁP QUỐC TẾ
Đề 13: Bình luận về các điều luật mới được quy định tại phần 5
Bộ luật dân sự 2015 so với phần 7 Bộ luật dân sự 2005
Hà Nội – 2020
HỌ VÀ TÊN MSSV
LỚP
: Đinh Đắc Huy Hoàng : 420446
: N02-TL4 NHÓM : 02
Trang 2Mục lục
Trang 3I Mở bài
Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của “Toàn cầu hóa” đòi hỏi tất cả các quốc gia trên thế giới phải tự thay đổi để thích nghi, hạn chế tối đa sự xung đột pháp luật giữa các quốc gia với nhau, đặc biệt là nhánh tư pháp quốc tế - nơi có nhiều tranh chấp có yếu tố nước ngoài nhất Nhận biết rõ được điều này, chính
sự có yếu tố nước ngoài” Bộ luật dân sự 2015, đã có sự đổi mới, kế thừa, tiếp thu để có được những điểm mới, phù hợp hơn so với phần 7 “Quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài” của Bộ luật dân sự 2005 Vì vây, em xin chon đề bài
“Bình luận về các điều luật mới được quy định tại phần 5 Bộ luật dân sự
2015 so với phần 7 Bộ luật dân sự 2005” để tìm hiểu chi tiết hơn về vấn đề
này
II Thân bài
1 Khái niệm
Là quan hệ xã hội do các quan hệ pháp luật dân sự điều chỉnh, tức là quan hệ
xã hội phát sinh trong lĩnh vực dân sự, các quan hệ liên quan đến yếu tố nhân thân và tài sản trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, thương mại…Quan hệ pháp luật dân sự là những quan hệ xã hội phát sinh từ những lợi ích vật chất, lợi ích nhân thân được các quy phạm pháp luật dân sự điều chỉnh, trong đó các bên tham gia bình đẳng về mặt pháp lý, quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng những biện pháp mang tính cưỡng chế
Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là các quan hệ pháp luật dân sự có yếu
tố chủ thể là người nước ngoài, đối tượng của quan hệ là tài sản ở nước ngoài hoặc sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ xảy ra tại nước ngoài
Trang 42 Phân tích điểm mới
- Phạm vi áp dụng: Điều 663 Bộ luật dân sự 2015 quy định chi tiết
phạm vi áp dụng so với BLDS 2005:
Phần này quy định về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Trong trường hợp có quy định khác nhau giữa Phần thứ năm của BLDS 2015 và luật khác có liên quan về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngoài thì áp dụng quy định của luật khác có liên quan với điều kiện các quy định của luật đó mà không trái với các nguyên tắc xác định và áp dụng pháp luật trong quan hệ dân sự có yêu tố nước ngoài được áp dụng quy định trong Phần thứ năm của BLDS 2015
- Về xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài:
Điều 664 Bộ luật dân sự 2015 đã cụ thể hóa việc xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài:
Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo điều ước quốc tế mà CHXHCNVN là thành viên hoặc luật Việt Nam Trường hợp điều ước quốc tế mà CHXHCNVN là thành viên hoặc luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa ch n thì pháp luật áp dụng đối với quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo lựa ch n của các bên Trường hợp không xác định được pháp luật áp dụng theo quy định trên thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngoài đó Trường hợp có thể áp dụng cả điều ước có quy phạm thực chất (điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên) và quy phạm xung đột (quy định về pháp luật áp dụng) thì ưu tiên áp dụng điều ước có quy phạm thực chất
- Về áp dụng điều ước quốc tế đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài: Điều 665 Bộ luật dân sự 2015 đã bổ sung quy định so với BLDS 2005
nội dung:
Trang 5Trường hợp điều ước quốc tế mà CHXHCNVN là thành viên có quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì quy định của điều ước quốc tế đó được áp dụng
- Về áp dụng tập quán quốc tế:
Khác với BLDS 2005, Điều 666 Bộ luật dân sự 2015 quy định trong trường hợp điều ước quốc tế mà nước CHXHCNVN là thành viên có quy định các bên
có quyền lựa ch n việc áp dụng pháp luật thì có thể áp dụng tập quán quốc tế Các bên được lựa ch n tập quán quốc tế trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 664 của Bộ luật này Nếu hậu quả của việc áp dụng tập quán quốc tế đó trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam thì pháp luật Việt Nam được áp dụng
- Vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài:
Điều 667 Bộ luật dân sự 2015 quy định lại việc áp dụng pháp luật nước ngoài như sau: Trường hợp pháp luật nước ngoài được áp dụng nhưng có cách hiểu khác nhau thì việc áp dụng phải theo sự giải thích của cơ quan có thẩm quyền tại nước đó
- Về áp dụng pháp luật của nước có nhiều hệ thống pháp luật:
Trường hợp pháp luật của nước có nhiều hệ thống pháp luật được dẫn chiếu đến thì pháp luật áp dụng được xác định theo nguyên tắc do pháp luật nước đó quy định
- Trường hợp không áp dụng pháp luật nước ngoài:
Pháp luật nước ngoài được dẫn chiếu đến không được áp dụng trong trường hợp sau: Hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài trái với các nguyên tắc
cơ bản của pháp luật Việt Nam Nội dung của pháp luật nước ngoài không xác định được mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định pháp luật tố tụng
Trường hợp pháp luật nước ngoài không được áp dụng theo quy định trên thì pháp luật Việt Nam được áp dụng
- Căn c xác định pháp luật áp dụng đối với người không quốc tịch,
người có nhiều quốc tịch:
Trang 6Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân
có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người không quốc tịch thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó cư tr vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài
Nếu người đó có nhiều nơi cư tr hoặc không xác định được nơi cư tr vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có mối liên hệ gắn bó nhất
Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân
có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người có nhiều quốc tịch thì pháp luật áp dụng
là pháp luật của nước nơi người đó có quốc tịch và cư tr vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
Nếu người đó có nhiều nơi cư tr hoặc không xác định được nơi cư tr hoặc nơi cư tr và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó
có quốc tịch và có mối liên hệ gắn bó nhất
Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân
có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người có nhiều quốc tịch, trong đó có quốc tịch Việt Nam thì pháp luật áp dụng là pháp luật Việt Nam
- Năng lực hành vi dân sự của cá nhân:
- Pháp nhân:
- Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản: Điều 678 Bộ luật dân sự
2015 thêm cụm từ “quyền khác đối với tài sản” vào nội dung điều luật
- Quyền sở hữu trí tuệ: Điều 679 Bộ luật dân sự 2015 không ràng buộc
quyền sở hữu trí tuệ được xác định theo pháp luật Việt Nam hoặc theo Điều ước quốc tế như hiện nay mà xác định theo pháp luật của nước nơi đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được yêu cầu bảo hộ
- Di chúc: Điều 681 Bộ luật dân sự 2015 đã sửa đổi, bổ sung theo hướng:
Năng lực lập di ch c, thay đổi hoặc huỷ bỏ di ch c được xác định theo pháp luật của nước mà người lập di ch c có quốc tịch tại thời điểm lập, thay đổi
Trang 7hoặc hủy bỏ di ch c (thay vì theo pháp luật của nước mà người lập di ch c
là công dân như BLDS 2005)
- Giám hộ: Điều 682 Bộ luật dân sự 2015 quy định mới về vấn đề này:
Giám hộ được xác định theo pháp luật của nước nơi người được giám hộ
cư tr
- Hợp đồng: Điều 683 Bộ luật dân sự 2015 đã sửa đổi, bổ sung các quy
định chi tiết về hợp đồng theo hướng:
Không ràng buộc việc áp dụng pháp luật trong quan hệ hợp đồng như trước đây Các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa ch n pháp luật áp dụng đối với hợp đồng, trừ trường hợp đối tượng hợp đồng là bất động sản hoặc
đó là hợp đồng lao động hoặc các bên thỏa thuận thay đổi pháp luật áp dụng Trường hợp các bên không có thoả thuận về pháp luật áp dụng thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó được áp dụng
Quy định chi tiết như thế nào được xem là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng
Trường hợp chứng minh được pháp luật của nước khác với pháp luật được nêu trên có mối liên hệ gắn bó hơn với hợp đồng thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước đó
3 Bình luận
Do có yếu tố nước ngoài mà quan hệ dân sự thuộc loại này có khả năng chịu
sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, khiến cho việc giải quyết các vấn đề pháp lý trong quan hệ giữa các bên trở nên phức tạp, nhất là khi các
hệ thống pháp luật có cách tiếp cận và quy định cụ thể thường rất khác nhau Vì vậy, pháp luật các nước hầu hết đều có các quy định đặc biệt đưa ra các nguyên tắc để lựa ch n và áp dụng một hệ thống pháp luật với một quan hệ pháp luật dân sự có yếu tố nước ngoài cụ thể (quy phạm xung đột)
Trang 8Các quy định đặc biệt này không trực tiếp điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ dân sự như quy phạm tại các phần khác của Bộ luật dân sự
mà chỉ ra hệ thống pháp luật nào được áp dụng với các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Do đó, khi có một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thông thường sẽ phải xác định pháp luật áp dụng điều chỉnh quan hệ này Như vậy, Phần 5 Pháp luật áp dụng với các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài phải được áp dụng đầu tiên để xác định hệ thống pháp luật nào điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đó Hệ thống pháp luật được lựa ch n có thể là hệ thống pháp luật Việt Nam hoặc hệ thống pháp luật của nước ngoài Chỉ khi hệ thống pháp luật áp dụng là hệ thống pháp luật Việt Nam thì các quy định nội dung chỉ ra quyền và nghĩa vụ của các bên tại những phần khác của Bộ luạt dân
sự hoặc các luật khác mới được áp dụng
Cách tiếp cận của Bộ luật dân sự năm 2015 về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự như trên không chỉ có ý nghĩa về mặt h c thuật mà còn có tác dụng lớn trong thực tiễn, tạo chuẩn mực pháp lý chung, thống nhất cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự và đảm bảo tính minh bạch của pháp luật; qua đó hạn chế tối đa việc lạm dụng, lẩn tránh pháp luật, nhất là trong hợp đồng có yếu tố nước ngoài hay trong việc công nhận và cho thi hành phán quyết tr ng tài tại Việt Nam Một ví dụ cụ thể là trong thực tiễn những năm qua, nhiều phán quyết của tr ng tài nước ngoài cũng như Việt Nam không được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam vì lý do
“vi phạm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”, trong đó có các nguyên tắc cơ bản quy định tại các Bộ luật dân sự trước đây Hệ lụy của nó là, trong hầu hết các hợp đồng thương mại, đầu tư, thậm chí bảo lãnh của Chính phủ Việt Nam với nước ngoài, đối tác đều đưa ra điều kiện lấy pháp luật nước ngoài, chứ không phải pháp luật Việt Nam, làm luật áp dụng Cách tiếp cận như trên của Bộ luật dân sự năm 2015 sẽ góp phần tránh được tình trạng này
Ở phương diện có yếu tố nước ngoài, quy định của Bộ luật dân sự năm 2015
về cơ bản đã tương thích với các chuẩn mực chung của pháp luật quốc tế, tiến
Trang 9gần tới thực tiễn của các quốc gia về tư pháp quốc tế trong lĩnh vực dân sự, thương mại Đặc biệt, so với các Bộ luật dân sự năm 2005, quyền miễn trừ của Nhà nước, các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương trong tham gia quan hệ dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài đã được quy định cụ thể trong
Bộ luật dân sự năm 2015
Bộ luật dân sự năm 2015 đã ghi nhận quyền miễn trừ của Nhà nước, đồng thời quy định rõ việc từ bỏ quyền miễn trừ của Nhà nước Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương khi tham gia quan hệ dân sự, thương mại với nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài chỉ trong các trường hợp: (i) điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định về việc từ bỏ quyền miễn trừ; (ii) có thỏa thuận từ bỏ quyền miễn trừ; hay (iii) đơn phương từ bỏ quyền miễn trừ Các quy định mới nêu trên phù hợp thông lệ quốc tế, đảm bảo tính minh bạch, qua đó tạo sự tin tưởng, an toàn pháp lý cho các đối tác nước ngoài khi tham gia các quan hệ dân sự, thương mại với Nhà nước, cơ quan nhà nước của Việt Nam
Tính hội nhập của BLDS năm 2015 không chỉ được thể hiện trong quy định
về pháp luật nội dung liên quan đến chủ thể quan hệ dân sự, giao dịch, đại diện, thời hiệu, tài sản, quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, nghĩa vụ, hợp đồng,
cơ chế thực hiện, bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân và cơ chế ưu tiên thực hiện điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên mà còn được thể hiện rõ nét trong quy định về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài So với Bộ luật dân sự năm 2005, BLDS năm 2015 ghi nhận cơ chế linh hoạt trong giải quyết các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo hướng tiếp thu có ch n l c các nguyên tắc xác định pháp luật áp dụng đã được quốc tế thừa nhận rộng rãi (trong đó có cơ chế cho phép chủ thể quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được lựa ch n pháp luật áp dụng), trong các hệ thuộc quy phạm xung đột pháp luật và thứ tự ưu tiên áp dụng các hệ thuộc này, nhất là đối với
sẽ góp phần hoàn thiện khung pháp lý để thực hiện các cam kết quốc tế của Việt
Trang 10Nam, bảo đảm sự hội nhập của nền kinh tế nước ta với nền kinh tế thế giới, th c đẩy phát triển giao lưu dân sự giữa Việt Nam với các quốc gia khác và giữa các
cá nhân, pháp nhân liên quan, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã và đang là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế đa phương như Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Cộng đồng ASEAN, tham gia nhiều hiệp định thương mại, tư pháp quốc tế song phương, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh kinh tế Á Âu (VN-EAEU FTA), một số công ước của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế (HccH)
Trang 11III Kết bài
Với những cải cách tương đối toàn diện, mang tính đột phá nêu trên, BLDS năm 2015 đánh dấu một mốc quan tr ng trong lịch sử xây dựng và hoàn thiện pháp luật dân sự của Việt Nam Đây thực sự là một bước tiến lớn trong việc định hình cách ứng xử của các cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự, bảo vệ tốt hơn các quyền nhân thân và quyền tài sản không chỉ của 94 triệu người dân
và khoảng 1/2 triệu tổ chức kinh tế của Việt Nam mà còn cả của người nước ngoài, doanh nghiệp nước ngoài có quan hệ dân sự, thương mại với Việt Nam BLDS năm 2015 về cơ bản đã tương thích với thông lệ quốc tế, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia cũng như của các doanh nghiệp trong các “sân chơi” kinh tế quốc tế Các quy định mới của BLDS năm 2015 được kỳ v ng sẽ góp phần tạo đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển Qua đó, nếu được thi hành nghiêm chỉnh, BLDS năm 2015 sẽ thực sự góp phần quan tr ng vào sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước theo thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế sâu rộng như tinh thần của Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã đề ra
Trên đây là phần trình bày bài tập lớn của em Tuy đã cố gắng nhưng bản than em cũng nhận thấy bài làm của mình còn nhiều thiếu sót cả về nội dung lẫn hình thức, em mong có được sự góp ý của thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn
Em xin trân tr ng cảm hơn thầy cô!