ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT BÀI TẬP NHÓM 01 MÔN LUẬT NGÂN HÀNG Đề bài Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại Điểm khác biệt trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng nhà nước với hoạ.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
BÀI TẬP NHÓM 01 MÔN LUẬT NGÂN HÀNG
Đề bài: Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại Điểm khác biệt trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng nhà nước với
hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
Giảng viên: TS Trương Thị Kim Dung
Hà Nội - 11/2022
Trang 2MỤC LỤC
1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại 4
1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 4
1.2 Đặc điểm của ngân hàng thương mại 4
1.3 Phân loại các loại hình ngân hàng thương mại 6
2 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại 8
2.1 Khái niệm của hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại 8
2.2 Đặc điểm của hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại 8
2.3 Nguyên tắc của hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại 9
2.4 Các hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại 10
3 Sự khác biệt trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng nhà nước với hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
2
Trang 31 Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Theo khoản 3 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi 2017: Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng
và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm
2010, sửa đổi 2017 nhằm mục tiêu lợi nhuận
Như vậy, Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ được điều chỉnh bởi pháp luật về ngân hàng Điểm đặc biệt của Ngân hàng thương mại
là ngoài việc được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng (bao gồm nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản) thì còn được thực hiện các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận
1.2 Đặc điểm của ngân hàng thương mại
Thứ nhất, ngân hàng thương mại cũng như các tổ chức tín dụng khác là một doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng có đối tượng kinh doanh là tiền tệ
và các dịch vụ ngân hàng, ngân hàng thương mại theo như quy định thì được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng mà không bị giới hạn như các tổ chức tín dụng phi ngân hàng Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn được thực hiện các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật đây là điểm riêng biệt của ngân hàng thương mại
Thứ hai, các hoạt động của ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh Vì tính chất và mục tiêu hoạt động là vì lợi nhuận nên các hoạt động của ngân hàng thương mại đều là các hoạt động kinh doanh Việc tìm kiếm lợi nhuận là phải chính đáng và trên cơ sở chấp hành luật pháp Đây là đặc trưng để phân biệt ngân hàng thương mại với ngân hàng chính sách và ngân hàng hợp tác
Thứ ba, nguồn vốn thực hiện hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại chủ yếu là từ nguồn vốn huy động Vốn huy động của Ngân hàng thương mại chủ yếu
từ các nguồn cơ bản như: nguồn vốn tiền gửi (thực hiện nhận tiền gửi dưới các dạng tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, và tiền gửi tiết kiệm, nguồn vốn đi vay (ngân hàng thương mại thực hiện đi vay từ hai chủ thể là ngân hàng nhà nước và tổ
Trang 4chức tín dụng khác để bù đắp khoản thiếu hụt về vốn của mình) và nguồn vốn khác (từ thực hiện hoạt động phát hành chứng khoán, các giấy tờ có giá)
Thứ tư, hoạt động của ngân hàng thương mại luôn chứa đựng nhiều rủi ro và chịu
sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của hệ thống luật pháp luật Hoạt động ngân hàng thương mại ở Việt Nam theo định hướng đa năng và được thực hiện các hoạt động kinh doanh khác cộng với việc hoạt động trong lĩnh vực đặc thù là kinh doanh tiền tệ
Do vậy, ngân hàng thương mại thuộc loại hình doanh nghiệp có nhiều rủi ro.1 Rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng thương mại đa dạng, ở mức độ cao, tích lũy nhanh và
dễ lây lan Đây là lĩnh vực “đặc biệt” vì trước hết nó liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành, liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội Mặt khác, lĩnh vực tiền tệ -ngân hàng là lĩnh vực rất “nhạy cảm”, nó đòi hỏi một sự thận trọng trong điều hành hoạt động ngân hàng để tránh những thiệt hại cho nền kinh tế - xã hội Đối tượng kinh doanh là tiền tệ, mà tiền tệ là công cụ được Nhà Nước sử dụng để quản lý vĩ mô nền kinh tế, nó quyết định đến sự phát triển hoặc suy thoái của cả một nền kinh tế, vì vậy đây là lĩnh vực mà Nhà nước kiểm soát vô cùng chặt chẽ
Thứ năm, ngân hàng thương mại mang tính liên kết và ổn định của hệ thống Ngân hàng Hệ thống ngân hàng có tính phụ thuộc lẫn nhau rất lớn Hơn bất cứ ngành kinh doanh nào trong nền kinh tế, rủi ro trong hoạt động Ngân hàng có sự ảnh hưởng rất nhanh Hoạt động như một hệ thống các mắt xích liên kết chặt chẽ, chỉ cần một ngân hàng thương mại, dù yếu và nhỏ nhất, gặp khó khăn trong hoạt động, đặc biệt là khó khăn về thanh khoản, là có thể dẫn đến nguy cơ phá sập hệ thống.2
Như vậy, có thể thấy ngân hàng thương mại là loại hình định chế tài chính trung gian hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng Đây là loại định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường, góp phần tạo lập và cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện và thúc đẩy nền kinh
tế -xã hội phát triển
1 Nguyễn Trung Thành, Luận văn Thạc sĩ luật học, Áp dụng pháp luật của Ngân hàng
Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam hiện nay, Trường Đại Học Luật Hà Nội,
2016
2 Nguyễn Trung Thành, Luận văn Thạc sĩ luật học, Áp dụng pháp luật của Ngân hàng
Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam hiện nay, Trường Đại Học Luật Hà Nội,
2016
Trang 51.3 Phân loại các loại hình Ngân hàng thương mại
Về bản chất, Ngân hàng thương mại là loại doanh nghiệp đặc thù mà tính đặc thù
đó thể hiện ở chỗ đối tượng tác nghiệp là tiền tệ Song đối với mỗi loại ngân hàng thương mại sẽ có những sự khác biệt về cơ cấu, tổ chức, hoạt động,… khác nhau nên việc xác định các loại Ngân hàng thương mại cũng mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng,
nó là cơ sở để cơ quan quản lý, giám sát ngân hàng áp dụng các quy chế một các hợp
lý đối với từng chủ thể ngân hàng bởi mỗi một loại hình ngân hàng luôn có những cơ chế pháp lý riêng quy định; cùng với đó nó cũng tạo thuận lợi cho khách hàng trong lựa chọn theo mục đích của mình của mình Theo đó, về cơ bản, ngân hàng thương mại ở Việt Nam thường được phân loại trên cơ sở hình thức sở hữu vốn điều lệ Ngoài
ra, ngân hàng thương mại còn được phân loại theo chiến lược kinh doanh và tính chất hoạt động
Thứ nhất, căn cứ vào các hình thức sở hữu, Ngân hàng thương mại chỉ được
thành lập dưới các hình thức và với các điều kiện hoạt động sau đây:
i) Ngân hàng thương mại Nhà nước: là ngân hàng được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn (CTTNHH) một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ;
ii)Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP): là ngân hàng thương mại được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần Từ năm 2001, ngân hàng TMCP đô thị phải có ít nhất 35 cổ đông, ngân hàng TMCP nông thôn phải có ít nhất 25 cổ đông; trong đó, cổ đông là doanh nghiệp nhà nước hoặc công ty cổ phần (có vốn góp của doanh nghiệp nhà nước trên 30% vốn điều lệ) tham gia Vì là các công ty đại chúng nên từ năm
2010, theo hướng dẫn của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng TMCP bắt buộc phải đưa chứng khoán vào giao dịch trên thị trường giao dịch chứng khoán tổ chức, bao gồm Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường đăng ký giao dịch (UPCoM); iii) Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài: là ngân hàng được thành lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu của tổ chức tín dụng nước ngoài; là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính ở Việt Nam Ngân hàng 100% vốn nước ngoài được thành lập, tổ chức dưới hình thức CT TNHH một thành viên có chủ sở hữu là một ngân hàng nước ngoài hoặc CT TNHH hai thành viên trở lên trong đó phải có một ngân hàng nước ngoài sở hữu 50% vốn điều lệ;
Trang 6iv) Ngân hàng liên doanh là ngân hàng được thành lập tại Việt Nam bằng vốn của một hoặc nhiều ngân hàng Việt Nam và một hoặc nhiều nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh; là pháp nhân Việt Nam, được tổ chức dưới hình thức CT TNHH hai thành viên nhưng không quá 05 thành viên, trong đó một thành viên và người có liên quan không được sở hữu vượt quá 50% vốn điều lệ Một trong các điều kiện đối với thành viên sáng lập ngân hàng liên doanh và chủ sở hữu là tổ chức tín dụng nước ngoài của ngân hàng 100% vốn nước ngoài phải có tổng tài sản ít nhất 10 tỷ đô la Mỹ.3
Từ năm 2012, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các tổ chức tín dụng phải niêm yết
cổ phiếu trên thị trường chứng khoán trong giai đoạn 2011 - 2015 Đến đầu năm 2015, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các ngân hàng thương mại cổ phần hoàn thiện kế hoạch niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Các công ty đại chúng chậm nhất là ngày 01/01/2017 phải hoàn thành thủ tục đăng ký giao dịch
Thứ hai, căn cứ vào chiến lược kinh doanh, ngân hàng thương mại có thể phân
loại thành:
i) Ngân hàng bán bán buôn, là loại ngân hàng chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách hàng doanh nghiệp chứ không giao dịch với khách hàng cá nhân;
ii) Ngân hàng bán lẻ: là loại ngân hàng giao dịch cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách hàng cá nhân;
iii) Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ là ngân hàng giao dịch và cung ứng dịch
vụ cho cả khách hàng doanh nghiệp lẫn khách hàng cá nhân
Thứ ba, căn cứ vào tính chất hoạt động thì ngân hàng thương mại gồm:
i) Ngân hàng chuyên doanh, là loại ngân hàng chỉ hoạt động chuyên môn trong một lĩnh vực như nông nghiệp, xuất khẩu, đầu tư, …;
ii)Ngân hàng kinh doanh tổng hợp, là loại ngân hàng hoạt động ở mọi lĩnh vực kinh tế và thực hiện hầu như tất cả các nghiệp vụ mà một ngân hàng có thể được phép thực hiện
3 Trương Thanh Đức, Cẩm nang pháp luật ngân hàng, Nhà xuất bản chính trị quốc gia
sự thật, Hà Nội, Tr 99
Trang 72 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
2.1 Khái niệm của hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
Hoạt động tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng, nó là hoạt động sinh lợi chủ yếu và luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng tài sản có của các Ngân hàng thương mại, do đó nó có vị trí rất quan trọng trong hoạt động của ngân hàng, theo đó, hoạt động tín dụng của Ngân hàng thực hiện thông qua các hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại mà được pháp luật cho phép
Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác (khoản 14, Điều 14 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi 2017)
2.2 Đặc điểm của hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại
Thứ nhất, hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại là hoạt động mang
tính nghề nghiệp của ngân hàng thương mại Tức đây là hoạt động có tính chất thường xuyên, là một trong những hoạt động chính của ngân hàng và là nguồn thu chính của ngân hàng
Thứ hai, cấp tín dụng là một giao dịch song vụ dựa trên cơ sở sự tín nhiệm, và
nguyên tắc hoàn trả, trong đó cả hai nhóm chủ thể (bên cấp tín dụng và bên nhận) đều gắn với những quyền và nghĩa vụ vật chất nhất định, được xác định trước;
Thứ ba, ngân hàng thương mại luôn là một bên cấp tín dụng cho khách hàng Thứ tư, cấp tín dụng là hoạt động kinh doanh của ngân hàng vì vậy luôn mang
tính sinh lời và rủi ro cho ngân hàng Cấp tín dụng là hoạt động kinh doanh ngân hàng
cơ bản trong quá trình sử dụng vốn của chủ sở hữu và đặc biệt là sử dụng vốn của chủ thể gửi tiền, đi cùng với nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn thì yêu cầu sinh lời cho mỗi giao dịch tín dụng Bên cạnh đó, việc chuyển giao tín dụng cho khách hàng cũng đồng nghĩa với nguy cơ không nhận lại hoặc không nhận lại đầy đủ giá trị tín dụng theo cam kết ban đầu
Thứ năm, trong quan hệ cấp tín dụng, vốn vay được cấp trên cơ sở hoàn trả vô
điều kiện Ngân hàng thương mại cấp vốn cho khách hàng cần vốn, trong bất kỳ
Trang 8trường hợp nào khi đến hạn, chủ thể được cấp tín dụng phải hoàn trả đầy đủ cho khách hàng toàn bộ số vốn và cam kết khác được ghi rõ trong hợp đồng tín dụng.4
2.3 Nguyên tắc của hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại
Mỗi một doanh nghiệp sẽ có nguyên tắc hoạt động nhất định sao cho phù hợp với tình hình thực tế và nhu cầu của khách hàng Đối với ngân hàng thương mại sẽ cần tuân theo một số nguyên tắc dưới đây để đảm bảo lợi ích của mình và khách hàng như sau:
Nguyên tắc thứ nhất, hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại là một
giao dịch dân sự, trong đó đối tượng chuyển giao có thể được giao dịch thông qua các nghiệp vụ của hoạt động cấp tín dụng Các bên trong quan hệ thực hiện trên nguyên tắc thoả thuận và tự do ý chí nhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội
Thứ hai, việc cấp tín dụng dựa trên nguyên tắc có hoàn trả Theo đó, khách
hàng được cấp tín dụng có nghĩa vụ cam kết và hoàn trả cho ngân hàng khoản vốn tín dụng đã được cấp cùng với một khoản lãi sau một khoảng thời gian nhất định theo hợp đồng tín dụng
Thứ ba, hoạt động cấp tín dụng vì mục tiêu lợi nhuận Nguyên tắc này chính là
cơ sở đảm bảo sự bảo toàn về vốn kinh doanh và phát triển hệ thống ngân hàng thương mại Trong quá trình cấp tín dụng nếu các khoản tín dụng không được hoàn trả hoặc hoàn trả không đúng hạn sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản và tình hình hoạt động của ngân hàng thương mại
Thứ tư, nguyên tắc vốn tín dụng được cấp phải được sử dụng đúng mục đích.
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo khả năng hoàn trả vốn tín dụng đã được cấp của khách hàng Theo đó, khách hàng phải đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích theo như cam kết
Thứ năm, nguyên tắc bảo đảm an toàn trong hoạt động cấp tín dụng: việc cấp
tín dụng cần đảm bảo sự thu hồi vốn cả gốc và lãi cho các ngân hàng thương mại Để thực hiện được điều này, ngân hàng thương mại phải tuân thủ những giới hạn và tỷ lệ
an toàn trong hoạt động tín dụng ngân hàng.5
4 Nguyễn Ngọc Lương, Luận án Tiến sĩ, Pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng
của ngân hàng thương mại ở Việt Nam, Trường Đại Học Luật Hà Nội, 2017.
5 Nguyễn Ngọc Lương, Luận án Tiến sĩ, Pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng
của ngân hàng thương mại ở Việt Nam, Trường Đại Học Luật Hà Nội, 2017.
Trang 9Ngân hàng thương mại là một loại doanh nghiệp hoạt động với những đặc thù riêng và luôn phải tuân thủ các nguyên tắc hoạt động để làm sao ngân hàng có thể hoạt động ổn định nhất Chính vì sự đặc thù của ngân hàng thương mại nên đa số các ngân hàng sẽ hoạt động với các nét tương đồng sẽ giúp khách hàng dễ lựa chọn hơn
2.4 Các hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại
Hoạt động cấp tín dụng là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại Thông qua cấp tín dụng, Ngân hàng thương mại thực hiện thỏa thuận hoặc cam kết với khách hàng để khách hàng được quyền sử dụng một lượng tiền nhất định trong một thời hạn nhất định, gắn liền với nguyên tắc hoàn trả Theo quy định tại khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi 2017, hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại được phản ánh qua các hình thức:
“3 Cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây:
a) Cho vay;
b) Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác;
c) Bảo lãnh ngân hàng;
d) Phát hành thẻ tín dụng;
đ) Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế;
e) Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.”
Thứ nhất, Cho vay là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng thương mại, trong đó
Ngân hàng thương mại giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Ngân hàng thương mại cho vay thời hạn dựa trên thỏa thuận của các bên trong quan hệ tín dụng này, thường được chia thành cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Nhằm thực hiện nhiều loại mục đích khác nhau
Thứ hai, Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá
khác là: Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán
Trang 10Thứ ba, Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng
cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận
Thứ tư, Phát hành thẻ tín dụng
Theo khoản 3 Điều 3 Thông tư 19/2016/TT-NHNN, sửa đổi bởi Thông tư 26/2017/TT-NHNN, Thông tư 28/2019/TT-NHNN Quy định về hoạt động thẻ ngân hàng, Thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ Có thể hiểu đơn giản, thẻ tín dụng là loại thẻ cho phép khách hàng thanh toán mà không cần có tiền trong thẻ Nói cách khác thì đây chính là một hình thức vay tiền của ngân hàng để thanh toán trước và tới kỳ hạn thanh toán chủ thẻ có nhiệm vụ phải trả tiền lại đầy đủ cho ngân hàng
Theo khoản 1 Điều 9 Thông tư 19/2016/TT-NHNN, sửa đổi bởi Thông tư 26/2017/TT-NHNN, Thông tư 28/2019/TT-NHNN Quy định về hoạt động thẻ ngân hàng, Ngân hàng thương mại được phát hành thẻ tín dụng khi hoạt động cung ứng dịch
vụ thẻ được ghi trong Giấy phép hoặc Giấy phép bổ sung, sửa đổi (nếu có) do Ngân hàng nhà nước cấp
Thứ năm, Theo khoản 17 Điều 4 Luật Các Tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi 2017,
Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ
Theo khoản 11 Điều 3 Thông tư 02/2017/TT-NHNN Quy định về hoạt động bao thanh toán của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Bao thanh toán trong nước là việc bao thanh toán dựa trên hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, trong đó bên bán hàng và bên mua hàng là người cư trú
Theo khoản 12 Điều 3 Thông tư 02/2017/TT-NHNN Quy định về hoạt động bao thanh toán của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Bao thanh toán quốc
tế là việc bao thanh toán dựa trên hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ giữa