Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay quá trình phát triển kinh tế củahuyện đã và đang gặp nhiều vấn đề khó khăn cần được giải quyết như tốc độ tăngtrưởng kinh tế còn chậm, cơ cấu sử dụng
Trang 1Phát huy truyền thống cùng với những lợi thế mà không phải huyện nàocũng có, Thọ Xuân ngày càng khẳng định được vị trí của mình Huyện đã đạt đượcnhiều thành tựu quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế xã hội Tốc độ tăng trưởngkinh tế cao, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, đời sống nhân dân từng bướcđược cải thiện Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay quá trình phát triển kinh tế củahuyện đã và đang gặp nhiều vấn đề khó khăn cần được giải quyết như tốc độ tăngtrưởng kinh tế còn chậm, cơ cấu sử dụng lao động trong các ngành kinh tế chưahợp lí, sự xuống cấp của cơ sở hạ tầng, ô nhiễm môi trường Chính vì vậy, việcphát triển kinh tế của huyện tương xứng với tiềm năng sẵn có trong thời kỳ côngnghiệp hóa là một vấn đề cấp thiết cần được giải quyết Từ đó tạo cơ sở để nềnkinh tế huyện hòa nhập vào quá trình phát triển kinh tế của tỉnh Thanh Hóa nóiriêng và cả nước nói chung
Là một giáo viên dạy địa lý trung học phổ thông, lại được sinh ra trên mảnhđất này, với mong muốn góp phần vào việc phát triển bền vững nền kinh tế của
Thọ Xuân trong tương lai tôi đã lựa chọn đề tài: “Phát triển kinh tế huyện Thọ Xuân trong giai đoạn 2006 - 2011 và tầm nhìn đến năm 2020” nhằm vận dụng
kiến thức lý luận về địa lí KT – XH và phương pháp nghiên cứu khoa học để phântích, kế thừa, bổ sung và cập nhật những vấn đề phát triển kinh tế huyện Ngoài ra,
đề tài còn có thể phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu địa lí địa phươngcấp huyện ở trường phổ thông
Trang 22 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu phát triển kinh tế các huyện đã thu hút được sự quan tâm củanhiều nhà khoa học, nhà kinh tế, các cơ quan chuyên ngành với mong muốn pháthuy được các nguồn lực sẵn có để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân
Bàn về phát triển kinh tế, lí luận và thực tiễn, có nhiều công trình nghiêncứu, trong đó tiêu biểu là:
Báo cáo quy hoạch phát triển công nghiệp – vùng Bắc Trung Bộ do việnQuy hoạch và thiết kế công nghiệp (Bộ công thương) thực hiện
Địa lí các vùng kinh tế Việt Nam của PGS TS Nguyễn Minh Tuệ (Chủ
biên), GS TS Nguyễn Viết Thịnh; (NXB Giáo dục Việt Nam – 2009)
Địa lí kinh tế Việt Nam của GS TS Nguyễn Viết Thịnh, GS TS Đỗ Thị
Minh Đức; (NXB Giáo Dục – Hà Nội 2001)
Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam của GS TS Lê Thông, PGS TS Nguyễn
Minh Tuệ và PGS TS Nguyễn Văn Phú (NXB Giáo dục Hà Nội – 2001)
Trong chương trình đào tạo thạc sĩ của khoa Địa lý, trường Đại học Sưphạm Hà Nội, nội dung tổ chức lãnh thổ kinh tế nói chung và kinh tế huyện nóiriêng là những vấn đề rất quan trọng và đã có nhiều luận văn, luận án về vấn đềnày Một số luận văn Thạc sĩ tiêu biểunghiên cứu về kinh tế - xã hội một tỉnh như:
Ph©n tÝch tiÒm n¨ng vµ thùc tr¹ng ph¸t triÓn kinh tÕ biÓn tØnh Thanh Ho¸,
của Đào Thanh Xuân – 2009
Kinh tế Hà Nam trong thời kì công nghiệp hóa, của Đỗ Văn Dũng Hà Nội – 2009.
Nghiên cứu về kinh tế - xã hội một huyện có các luận văn:
Kinh tế huyện Kỳ Anh trong thời kì đổi mới, luận văn thạc sĩ của Trương
Thị Nguyệt – 2009
Phát triển kinh tế huyện Gia lâm trong thời kì công nghiệp hóa, luận văn
thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu Hà– 2010
Nghiên cứu về địa bàn huyện Thọ Xuân đã có một số công trình đi sâu vàocác khía cạnh, lĩnh vực nhất định như:
Địa chí huyện Thọ Xuân do Huyện ủy - Hội đồng nhân dân, UBND huyện Thọ
Xuân, tỉnh Thanh Hóa thực hiện, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2005
Trang 3Lịch sử Đảng bộ huyện Thọ Xuân Tập 1, năm 2000
Tuy nhiên, dưới góc độ địa lí KT – XH, hiện nay chưa có một công trìnhnào nghiên cứu về kinh tế huyện Thọ Xuân trong thời kì công nghiệp hóa
3 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ
3.1 Mục tiêu
Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu đã có về phát triển kinh tế cấp huyện,mục tiêu chủ yếu của đề tài là phân tích tiềm năng, thực trạng phát triển kinh tếcấp huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hoá để từ đó đề xuất định hướng và giải phátphát triển cho đến năm 2020
- Đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm phát triển ổn định, hiệu quả
và bền vững nền kinh tế của huyện
4 GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Phạm vi nghiên cứu: Toàn huyện Thọ Xuân, có độ sâu tới cấp xã
- Nội dung: Tập trung đánh giá các nguồn lực phát triển kinh tế và hoạtđộng kinh tế theo ngành và theo không gian
- Thời gian nghiên cứu: Số liệu phân tích được lấy trong khoảng thời gian từ
2006 – 2011, tầm nhìn đến năm 2020
5 CÁC QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Các quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm hệ thống
Khi nghiên cứu đề tài phải đảm bảo được tính hệ thống Tính hệ thống làmcho đề tài trở nên lôgic, thông suốt và sâu sắc Lãnh thổ Thọ Xuân được coi là một
Trang 4hệ thống hoàn chỉnh và thống nhất, trong đó bao gồm các hệ thống con (như các thịtrấn, các xã) Các hệ thống có mối quan hệ tương tác, mật thiết với nhau Vì vậy cầnphải tìm hiểu các mối quan hệ qua lại, các tác động ảnh hưởng giữa các yếu tố trongmột hệ thống và giữa các hệ thống để đánh giá chính xác vấn đề nghiên cứu.
- Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Mọi sự vật và hiện tượng địa lý đều tồn tại và phát triển trong một khônggian lãnh thổ nhất định Khoa học địa lý tìm ra sự phân hóa của các sự vật, hiệntượng và dự kiến sự phân bố của chúng trong không gian
Cơ cấu lãnh thổ huyện Thọ Xuân được coi như một thể tổng hợp tương đốihoàn chỉnh, trong đó các yếu tố tự nhiên, KT – XH có mối quan hệ chặt chẽ, tácđộng ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau Do đó phải có cái nhìn tổng hợp lãnh thổ đểphân tích các khía cạnh có ảnh hưởng đến lãnh thổ trên địa bàn nghiên cứu, tìm racác quy luật phát triển, từ đó định hướng phát triển có tính tổng hợp nhằm khaithác tốt nhất những tiềm năng của huyện
- Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Mọi sự vật, hiện tượng địa lý dù lớn hay nhỏ đều phát sinh, phát triển theoquy luật riêng của nó Vận dụng quan điểm lịch sử vào việc nghiên cứu đề tài đểthấy được những biến đổi của các yếu tố kinh tế trong từng giai đoạn phát triểncủa các ngành kinh tế trong huyện Vận dụng quan điểm lịch sử và viễn cảnh còncho ta thấy được sự hình thành và phát triển của các ngành kinh tế trong quá khứ,hiện tại và tương lai
- Quan điểm phát triển bền vững
Những giải pháp cho sự phát triển KT – XH phải dựa trên quan điểm bềnvững Phát triển KT – XH phải gắn liền với bảo vệ và tái tạo tài nguyên thiênnhiên, chống ô nhiễm môi trường, kết hợp hài hòa phát triển kinh tế với tiến bộ vàcông bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu dựa trên phương pháp luận khoa học (Phép biện
chứng duy vật và duy vật lịch sử) và bám sát đường lối đổi mới của Đảng – Nhànước ta trong thời kì CNH – HĐH đất nước
Trang 5Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau đây:
- Phương pháp thu thập tài liệu
Phân tích, đánh giá thực trạng nền kinh tế theo khía cạnh ngành và lãnh thổ
là những công việc phức tạp, đa dạng, các tiêu chí đánh giá có liên quan đến nhiềulĩnh vực Để thực hiện đề tài này, tác giả đã thu thập dữ liệu bằng cả số (thống kê),bằng văn bản và dữ liệu không gian (bản đồ) từ nhiều nguồn khác nhau, có thốngnhất về thời gian (2006 – 2011) Sau đó tiến hành tổng hợp, phân tích chọn lọc để
có những tài liệu thực sự cần thiết, đáp ứng được những yêu cầu của đề tài
- Phương pháp phân tích hệ thống, tổng hợp, so sánh.
Trên cơ sở số liệu bằng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh các mốiquan hệ về không gian, thời gian giữa các ngành, các lĩnh vực kinh tế, đặc biệt làcác mối liên hệ về tự nhiên và nhân văn, các mối quan hệ hình thức và bản chất.Qua đó xây dựng mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, đề tài vận dụng cácphản ứng tích cực và tiêu cực khi có ngoại cảnh tương tác, từ đó lựa chọn phươngpháp tối ưu Quá trình phân tích, đánh giá, đề xuất được tiến hành trên cơ sở sosánh, tổng hợp để rút ra các bản chất của hiện tượng kinh tế, hiện tượng địa lýphục vụ cho đề tài
- Phương pháp thống kê toán học
Trên cơ sở thống kê số liệu đã thu thập được từ Chi Cục Thống kê tỉnhThanh Hóa và các Phòng Thống kê, Phòng NN, Phòng Công thương, Phòng Tàichính kế hoạch, Phòng Văn hóa thể thao, Phòng Tài nguyên môi trường của huyệnThọ Xuân Từ đó tác giả sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các sốliệu thu thập được theo mục đích, tính toán, so sánh, đánh giá… nhằm tìm ranhững thông số cần thiết phục vụ cho nội dung đề tài
- Phương pháp bản đồ, biểu đồ và sử dụng công nghệ GIS.
+ Bản đồ dùng để mô tả hiện trạng kinh tế, sự phân bố các hiện tượng địa lýkinh tế, các mối liên hệ lãnh thổ trong không gian, các mối quan hệ giữa chúng vànhững dự kiến phát triển kinh tế
+ Biểu đồ được sử dụng để phản ánh quy mô các hiện tượng kinh tế như:ngành, lĩnh vực…
Trang 6+ Sử dụng công nghệ GIS để số hóa và vẽ các bản đồ, biểu đồ một cáchchính xác mang tính khoa học cao và đáp ứng yêu cầu của đề tài.
- Phương pháp thực địa
Được thực hiện trên cơ sở khảo sát, tìm hiểu trực tiếp các xã, thị trấn, một
số nơi SX NN, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và các lễ hội trên địa bànhuyện Từ đó xin ý kiến đánh giá của các nhà quản lý, các chuyên gia, phỏng vấnmột số cán bộ địa phương và hộ nông dân, hộ kinh doanh thương mại dịch vụ vềlĩnh vực liên quan đến đề tài Sau đó thu thập thêm thông tin, bổ sung những hiểubiết của tác giả về quê hương, cũng là địa bàn nghiên cứu và kiểm chứng các phântích, tổng hợp, nhận định của tác giả
7 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục, cácbiểu đồ, bảng biểu, hệ thống các bản đồ, luận văn được trình bày theo 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển kinh tế huyện
Chương 2: Các nguồn lực phát triển kinh tế huyện Thọ Xuân
Chương 3: Hiện trạng phát triển kinh tế huyện Thọ Xuân
Chương 4: Định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế huyện Thọ Xuânđến năm 2020
Trang 7Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Các khái niệm
Ngày nay, phát triển là khái niệm thường xuyên được sử dụng Mục tiêu của
sự phát triển là không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống về vật chất, văn hóa,tinh thần cho từng cá nhân lẫn cho cả cộng đồng Trong sự phát triển nói chung thìtăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi Việc hiểu rõ về khái niệm
và các lý luận về nó cũng góp phần vào việc định hướng xây dựng các chính sáchphát triển KT - XH đảm bảo các đặc trưng cơ bản của nền kinh tế
1.1.1.1 Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là việc mở rộng tiềm lực kinh tế của một quốc gia, là sựtăng lên về số lượng, chất lượng, tốc độ và quy mô sản lượng của nền kinh tế trongmột thời kỳ nhất định Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm gốc sẽphản ánh tốc độ tăng trưởng Đó là sự gia tăng quy mô sản lượng kinh tế nhanhhay chậm so với thời điểm gốc Quy mô và tốc độ tăng trưởng là "cặp đôi" trongnội dung khái niệm tăng trưởng kinh tế
Trên thế giới hiện nay người ta thường tính mức gia tăng về tổng giá trị của cảicủa xã hội bằng các đại lượng tổng thu nhập quốc gia hoặc tổng sản phẩm quốc nội
Tuy nhiên, khái niệm tăng trưởng kinh tế chỉ thuần tuý nói đến số lượng.Bởi những con số thể hiện sự tăng trưởng GDP, GNI, hay GDP/người không phảnánh sự vận động đi lên của xã hội, không cho phép biết được tình hình phân phốithu nhập quốc dân, cơ cấu kinh tế xã hội, tính năng động của nền kinh tế và tìnhhình phúc lợi của nhân dân
Ngày nay, tăng trưởng kinh tế được gắn với chất lượng tăng trưởng Nếunhư số lượng của tăng trưởng kinh tế được thể hiện ở qui mô, tốc độ của tăngtrưởng, thì chất lượng của tăng trưởng kinh tế là tính qui định vốn có của nó, là sựthống nhất hữu cơ làm cho hiện tượng tăng trưởng kinh tế khác với các hiện tượngkhác Chất lượng tăng trưởng được qui định bởi các yếu tố cấu thành và phươngthức liên kết giữa các yếu tố cấu thành nên tăng trưởng kinh tế
Trang 8Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng tăng trưởng kinh tế.Theo quan điểm của Chương trình phát triển của Liên hợp quốc, Ngân hàng thếgiới, và một số nhà kinh tế học nổi tiếng được giải thưởng Nobel gần đây nhưAmrtya Sen, G.Becker, R.Lucas, J.Stiglitz thì cùng với quá trình tăng trưởng, chấtlượng tăng trưởng biểu hiện tập trung ở các tiêu chuẩn chính sau đây:
- Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định trong dài hạn và tránh đượcnhững biến động từ bên ngoài
- Thứ hai, tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, được thể hiện ở sự đóng gópcủa yếu tố năng suất nhân tố tổng hợp TFP cao và không ngừng gia tăng
- Thứ ba, tăng trưởng phải đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế và nâng caonăng lực cạnh tranh của nền kinh tế
- Thứ tư, tăng trưởng đi kèm theo với phát triển môi trường bền vững
- Thứ năm, tăng trưởng hỗ trợ cho thể chế dân chủ luôn đổi mới, đến lượt nóthúc đẩy tăng trưởng ở tỷ lệ cao hơn
- Thứ sáu, tăng trưởng phải đạt được mục tiêu cải thiện phúc lợi xã hội vàgiảm được đói nghèo
Nhìn chung, khi nghiên cứu quá trình tăng trưởng, cần phải xem xét hai mặtcủa hiện tượng tăng trưởng kinh tế là số lượng và chất lượng của tăng trưởng mộtcách đầy đủ Tăng trưởng kinh tế với tốc độ và chất lượng cao là mong muốn củamọi quốc gia và của cả nhân loại trên toàn thế giới
1.1.1.2 Phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế Phát triểnkinh tế là quá trình lớn lên, và tăng tiến về mọi mặt kinh tế trong một thời kì nhấtđịnh Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế, đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơcấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống Như vậy, phát triển kinh tế bao gồmnhững nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, sự tăng trưởng là sự tăng lên của tổng sản phẩm xã hội và thunhập bình quân đầu người
Trang 9Thứ hai, sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng thời đại, tiến bộ: Tỷ trọngngành NN ngày càng giảm, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăngtrong tổng sản phẩm quốc dân.
Thứ ba, đời sống của nhân dân ngày càng cao về phúc lợi xã hội, tiêu chuẩnsống, giáo dục, sức khỏe và sự bình đẳng về kinh tế, chính trị, xã hội
Trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia, người dân được xem làthành viên chủ yếu của quá trình thay đổi cơ cấu Khi tham gia vào quá trình pháttriển là họ đã tham gia vào việc hưởng thụ lợi ích của sự phát triển cũng như tạo racác lợi ích đó Người nước ngoài có thể tham gia nhưng họ không phải là ngườithực hiện toàn bộ quá trình phát triển Nếu như chỉ làm ra được một chút lợinhuận, hoặc làm cho một nhóm nào đó trở nên giàu có cũng không thể coi đó là sựphát triển
1.1.1.3 Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tăng trưởng kinh tế thiên về số lượng, còn tiến bộ về cơ cấu kinh tế và xãhội phản ánh về chất lượng của nền kinh tế Như vậy, tăng trưởng và phát triểnkinh tế là hai thuật ngữ khác nhau nhưng luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Tăng trưởng kinh tế chưa phải là phát triển kinh tế, nhưng tăng trưởng kinh tế làyếu tố cơ bản nhất của phát triển kinh tế Nếu không có tăng trưởng kinh tế thì sẽkhông có phát triển kinh tế Phát triển kinh tế bao hàm trong đó có tăng trưởngkinh tế nhanh và bền vững hơn Tựu chung lại, phát triển kinh tế chính bằng tăngtrưởng kinh tế cộng với tiến bộ về cơ cấu kinh tế, xã hội
1.1.1.4 Phát triển bền vững
Từ những thập niên 70, 80 của thế kỉ XX, khi tăng trưởng kinh tế của nhiềunước đã đạt được tốc độ cao, người ta bắt đầu tính đến ảnh hưởng tiêu cực của sựtăng trưởng nhanh đó đối với tương lai loài người Từ đó, vấn đề phát triển bềnvững được đặt ra Mục tiêu của các quốc gia không chỉ dừng lại ở phát triển kinh tế
mà cơ bản hơn là phát triển kinh tế bền vững Phát triển kinh tế bền vững đượchiểu là “Sự phát triển nhằm đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không làm thươngtổn đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai” (UNEP – 1987)
Trang 10Nội dung của phát triển bền vững thông qua sự phát triển hợp lý ở cả 3 mặt:kinh tế – xã hội – môi trường Phát triển kinh tế phải đảm bảo sự tăng trưởng, hiệuquả và ổn định; đồng thời phải chú ý đến vấn đề xã hội như xóa đói, giảm nghèonhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân; xây dựng thể chế dân chủ,công bằng xã hội và bảo tồn các di sản văn hóa của dân tộc Phát triển bền vữngcòn phải bảo đảm yêu cầu sử dụng có hiệu quả và bảo vệ nguồn tài nguyên, ngănchặn ô nhiễm; tái tạo lại các nguồn năng lượng, nguyên, nhiên vật liệu, chất thải;chống biến đổi khí hậu trên toàn cầu
1.1.1.5 Cơ cấu kinh tế
“Cơ cấu nền kinh tế là tổng thể những mối quan hệ về chất lượng và sốlượng giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế trong một thời gian và trong nhữngđiều kiện kinh tế - xã hội nhất định” [13]
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi về số lượng các ngành hoặc sựthay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần do sự xuất hiệnhoặc biến mất của một số ngành và tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành
cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu thành một
cơ cấu kinh tế phù hợp hơn Trong quá trình phát triển kinh tế, tỷ trọng của khuvực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ trong GDP và trong tổng người lao độngđang làm việc tăng, trong khi tỷ trọng của N – L – TS giảm; đồng thời dân cư đôthị tăng, dân cư nông thôn giảm Sự thay đổi cơ cấu kinh tế phản ánh mức độ thayđổi của phương thức SX theo hướng ngày càng hiện đại, những khu vực có năngsuất lao động cao, giá trị gia tăng lớn, có tốc độ phát triển cao hơn và thay thế dầnnhững khu vực SX, kinh doanh có năng suất lao động và giá trị gia tăng thấp
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giúp cho nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh,vững chắc và có khả năng hội nhập với khu vực, thế giới Hội nhập kinh tế mở ra cơhội phát triển mạnh mẽ lực lượng SX, tham gia ngày càng sâu vào phân công laođộng quốc tế, đặc biệt là góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, làm
cho nền kinh tế năng động và hiệu quả hơn Tóm lại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế có
ý nghĩa đặc biệt đối với việc phát triển KT – XH của mỗi quốc gia
Trang 111.1.2 Các nguồn lực ảnh hưởng tới phát triển kinh tế
Trong quá trình phát triển kinh tế việc sử dụng và phát huy các nguồn lựcđóng vai trò quan trọng Adam Smith cho rằng việc khai thác các nguồn lực từ góc
độ lợi thế so sánh là “nguồn gốc của cải của dân tộc” Theo ông nguồn lực chủ yếucủa xã hội trong thời kỳ của ông là vốn, sức lao động và đất đai Đây chính lànguồn gốc đo sự thịnh vượng của các quốc gia, là chìa khóa dẫn đến tới tự tăngtrưởng kinh tế Tất cả các trường phái và các học thuyết kinh tế cũng như chính trịsau này đều nhất trí với quan điểm của Adam Smith nhưng tiếp tục bổ sung thêmcác nguồn lực mới
Còn theo Lê Du Phong “Nguồn lực là tổng hợp các yếu tố vật thể và phi vậtthể tạo nên nền kinh tế của một đất nước và thúc đẩy nó phát triển”
Như vậy nguồn lực có những đặc điểm sau:
- Nguồn lực là một dạng vật chất và phi vật chất được sử dụng để phát triểnkinh tế
- Nguồn lực phụ thuộc vào nhận thức và quan niệm của con người và nóthay đổi vị trí, vai trò theo thời gian cũng như trình độ của người sử dụng
- Nguồn lực phụ thuộc vào trình độ phát triển của loài người, đặc biệt làtrình độ khoa học – công nghệ
1.1.2.1 Vị trí địa lý
Vị trí địa lý là một nguồn lực quan trọng cho sự phát triển KT – XH của mộtquốc gia, bao gồm vị trí tự nhiên, vị trí kinh tế, giao thông, chính trị Những nhân
tố này ngày càng có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của một quốc gia
Sự thuận lợi hay khó khăn của nguồn lực này sẽ ảnh hưởng đến chiến lược, quyhoạch, kế hoạch cũng như tốc độ phát triển của nền kinh tế, góp phần thúc đẩy quátrình xây dựng, phát triển nền kinh tế mở, tăng cường mở rộng quan hệ kinh tếquốc tế, hội nhập vào đời sống KT – XH của khu vực và thế giới Trong xu thế hộinhập của nền kinh tế thế giới, định hướng có lợi nhất trong phân công lao độngquốc tế
Đối với nước ta nói chung và Thanh Hoá cũng như Thọ Xuân nói riêng, nhữnglợi thế về vị trí địa lý mới thực sự được khai thác trong thời kỳ CNH – HĐH nền kinh
Trang 12tế Tuy nhiên những lợi thế về vị trí của nước ta cần được khai thác tốt hơn nữa đểnước ta có thể hình thành và phát triển các ngành kinh tế, đồng thời thúc đẩy việcgiao lưu kinh tế với các nước trong và ngoài khu vực
1.1.2.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là một trong các nguồn lực cơ bảncủa quá trình SX, là đối tượng lao động của con người và là nguồn vật chất vừa phục
vụ trực tiếp cho cuộc sống vừa phục vụ cho phát triển kinh tế Điều kiện tự nhiên vàtài nguyên thiên nhiên bao gồm địa hình, đất đai, khí hậu, nguồn nước, sinh vật,khoáng sản Sức lao động càng cao thì phạm vi tài nguyên càng được mở rộng Tàinguyên thiên nhiên thực sự trở thành sức mạnh kinh tế khi được con người khai thác
và sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả Nó còn là một nguồn lực quan trọng trongviệc tạo ra các mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao, đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn,đồng thời tạo ra sức hấp dẫn trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Hiện nay, đối với việc phát triển KT – XH, tài nguyên thiên nhiên là điềukiện cần nhưng chưa đủ, đặc biệt trong xu thế nền thương mại toàn cầu hiện nay,tài nguyên thiên nhiên chỉ là cơ sở ban đầu chứ không còn là điều kiện quan trọngnhất trong việc hình thành và phát triển các ngành kinh tế Các nước không có tàinguyên nhưng vẫn hình thành các ngành kinh tế và trung tâm kinh tế ngành mạnh
về loại tài nguyên đó trên cơ sở nhập khẩu nguyên liệu
Tài nguyên thiên nhiên là tài sản quốc gia, là nhân tố không thể thiếu đượccủa quá trình SX Tuy nhiên, tài nguyên thiên nhiên có giới hạn, mà nhu cầu củacon người thì vô hạn Do đó, để đảm bảo phát triển bền vững thì cần phải bảo vệtài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái
1.1.2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
a Dân cư và nguồn lao động
Dân cư và nguồn lao động có vai trò quyết định đối với việc phát triển KT –
XH Dân cư và nguồn lao động vừa là lực lượng SX trực tiếp tạo ra sản phẩm, tạo
ra sự tăng trưởng cho các ngành kinh tế; lại vừa là thị trường tiêu thụ các sảnphẩm, dịch vụ tham gia tạo cầu cho nền kinh tế
Trang 13Khi xét dân cư ở khía cạnh là lực lượng SX thì quy mô, kết cấu trình độ và
sự phân bố của dân cư là yếu tố cần quan tâm hàng đầu Quy mô dân số đông sẽ
có nguồn lao động dồi dào, dân số trẻ có khả năng lao động tốt hơn Trình độnguồn lao động có ý nghĩa lớn trong việc lựa chọn phát triển các ngành đòi hỏitrình độ khoa học, kỹ thuật, công nghệ cao Sự phân bố dân cư tác động đến việcphân bố các ngành kinh tế, đặc biệt là các ngành cần nhiều lao động, góp phầnhình thành cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ Còn nếu xét ở khía cạnh thị trường tiêuthụ hàng hóa thì quy mô, kết cấu trình độ và sự phân bố của dân cư sẽ ảnh hưởngđến cơ cấu các ngành, quy mô SX của các ngành hàng khác nhau Mặt khác, dân
cư lao động là một lợi thế thu hút đầu tư của nước ngoài Vì vậy mỗi quốc gia trênthế giới không ngừng nâng cao chất lượng dân cư và coi đây là một chiến lược lâudài nhằm tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển trong tương lai
b Khoa học và công nghệ
Trong nền kinh tế hiện nay khoa học và công nghệ trở thành lực lượng SXtrực tiếp Các ứng dụng tiến bộ khoa học tạo điều kiện mở rộng khả năng pháthiện, khai thác và nâng cao hiệu quả đưa vào sử dụng các nguồn lực Khoa học vàcông nghệ cho phép tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, số lượng lớn và giáthành thấp, do đó có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường Kết quả là biến đổi cơcấu kinh tế theo hướng xuất khẩu thay thế nhập khẩu, hội nhập KT – XH với khuvực và trên thế giới
Nhờ vào máy móc, công nghệ, của cải vật chất làm ra ngày càng nhiều, qui
mô SX ngày càng lớn đòi hỏi trình độ lao động ngày càng có chất xám, phân cônglao động trở nên sâu sắc hơn, phân chia thành nhiều ngành nhỏ, xuất hiện nhiềungành, lĩnh vực mới Từ đó, làm thay đổi cơ cấu, vị trí giữa các ngành, thúc đẩytốc độ tăng trưởng kinh tế càng cao, làm cho nền kinh tế dịch chuyển từ chiềurộng sang chiều sâu
Các nước trên thế giới hiện đang có xu hướng phát triển các công nghệ mớinhằm mục đích tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, tạo mẫu mã, chấtlượng tốt hơn, đồng thời giảm chi phí SX, tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiênnhiên, tránh ô nhiễm môi trường Từ đó hàng hóa sẽ có tính cạnh tranh cao, tạo ra
sự ổn định trong phát triển kinh tế
Trang 14c Vốn đầu tư và thị trường
* Vốn đầu tư: Là yếu tố đầu vào không thể thiếu được của bất kì quá trình SX
kinh doanh nào Vốn đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng, vừa tác động đếnchất lượng tăng trưởng kinh tế Tăng quy mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp
lý là những nhân tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng năng suất,tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH, nâng caosức cạnh tranh của nền kinh tế từ đó nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Vốnđầu tư còn có tác dụng giải quyết những vấn đề mất cân đối về phát triển giữa cácvùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, pháthuy được những lợi thế để phát triển nhanh hơn nhằm thu hẹp khoảng cách pháttriển giữa các vùng, miền, tạo nên sự tiến bộ chung cho cả đất nước
Vốn đầu tư được xét ở hai loại: vốn trong nước và vốn ngoài nước Đối vớicác nước đang phát triển và các nước kém phát triển, nguồn vốn trong nước có ýnghĩa quyết định chính trong phát triển kinh tế Sự phong phú và quy mô lớn củanguồn vốn trong nước sẽ là điều kiện để đầu tư, xây dựng, hình thành các ngànhkinh tế, nhập kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của nước ngoài phục vụ SX, ngoài racòn có thể tham gia vào thị trường đầu tư quốc tế nhằm tạo ra lợi nhuận cho đấtnước từ bên ngoài lãnh thổ Còn với nguồn vốn từ nước ngoài (như vốn FDI,ODA ) được sử dụng để đầu tư cho phát triển, tạo điều kiện để khai thác hiệu quảtiềm năng của đất nước, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế trong nước ViệtNam đang trong giai đoạn CNH – HĐH nên nhu cầu về vốn cho quá trình pháttriển KT – XH rất lớn Nguồn vốn tác động rất lớn đến tăng trưởng, tạo nhiều việclàm, tăng tích lũy vốn cho nền kinh tế Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là phải phân bố và
sử dụng chúng một cách có hiệu quả
* Thị trường: Là cầu nối giữa SX và tiêu dùng, là yếu tố đảm bảo khâu tiêu
dùng, xuất nhập, giá cả và tạo ra nhu cầu mới, giúp cho quá trình tái SX diễn rakhông ngừng Trong nền thương mại toàn cầu hóa ngày nay, cùng với các yếu tốkhác, thị trường có vai trò quyết định đến quy mô, cơ cấu loại hình hàng hóa SXcủa các quốc gia, khu vực trên thế giới Thị trường là yếu tố hướng dẫn và điều tiết
SX cho các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế Thị trường được xem xét ở haidạng: thị trường cung cấp nguồn nguyên, nhiên liệu, vật tư phục vụ SX và thị
Trang 15trường tiêu thụ sản phẩm Thực tế cho thấy, nước nào có quan hệ kinh tế rộng,hàng hoá phong phú và được tiêu thụ ở nhiều quốc gia thì quy mô SX có điều kiện
mở rộng, tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động, giá trị lợi nhuận tăng,thông qua đó các giá trị văn hoá tinh thần của quốc gia này cũng có điều kiện phổbiến ra thế giới Quốc gia nào có quy mô thị trường lớn, nhu cầu hàng hoá nhiều làmột lợi thế trong việc mở rộng hợp tác, thu hút đầu tư, khoa học công nghệ củacác nước trên thế giới
d Kết cấu hạ tầng
“Kết cấu hạ tầng là tổng thể các cơ sở vật chất kỹ thuật và kiến trúc đóng vai trò nền tảng cơ bản cho các hoạt động kinh tế, xã hội được diễn ra một cách bình thường” [5].
Kết cấu hạ tầng là nền tảng vật chất có vai trò đặc biệt quan trọng trong quátrình phát triển KT – XH của mỗi quốc gia cũng như mỗi vùng lãnh thổ, tạo độnglực cho sự phát triển Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hiện đại sẽ thúcđẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh, ổn định và bền vững, nâng cao năng suất, hiệuquả của nền kinh tế, đồng thời giải quyết các vấn đề xã hội, ngược lại một hệ thốngkết cấu hạ tầng kém phát triển là một trở lực lớn đối với sự phát triển
Việt Nam và nhiều nước đang phát triển hiện nay, kết cấu hạ tầng thiếu vàyếu đã gây ứ đọng trong luân chuyển các nguồn lực, khó thu hút vốn đầu tư, ảnhhưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế Do đó để phù hợp với quá trình phát triển
và hội nhập kinh tế hiện nay, nhu cầu đối với các dịch vụ hạ tầng trở nên cấp báchhơn bao giờ hết Kết cấu hạ tầng là điều kiện cần thiết để đảm bảo mục tiêu xóađói giảm nghèo, tăng trưởng ảnh hưởng rộng, hội nhập khu vực trên cơ sở bềnvững về cả phương diện kinh tế, xã hội và môi trường Phát triển hạ tầng là mộttrong những động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Một số hệ thống hạ tầngtạo nên xương sống của nền kinh tế, như cung cấp nước sạch, vệ sinh, xử lý rácthải rắn, điện, và đường xá giao thông… Chúng là những điều kiện cơ bản manglại lợi ích kinh tế và xã hội cho người dân
e Đường lối chính sách, ổn định chính trị
Đường lối chính sách là yếu tố mang tính quyết định đến sự thành công hay
Trang 16đó, đường lối chính sách thể hiện là một yếu tố độc lập tương đối, đồng thời làmột yếu tố tác động đến các yếu tố khác Chính sách có tác dụng giải phóng vàthúc đẩy sự phát triển của lực lượng SX Nó tác động đến việc khai thác và pháthuy có hiệu quả các nguồn lực của đất nước Các chiến lược, chính sách hay quyhoạch phát triển KT – XH là sự định hướng phát triển cho các ngành, lĩnh vực vàvùng lãnh thổ Mỗi giai đoạn, trên cơ sở các điều kiện tác động, chính sách sẽ đề
ra những ưu tiên phát triển kinh tế cho một số ngành, lĩnh vực và vùng lãnh thổtheo hướng tạo ra sự bứt phá, tạo động lực phát triển cho các vùng và cả nước.Chính sách là một công cụ có hiệu quả trong việc điều chỉnh sự phát triển nền kinh
tế, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý và hiệu quả
Trên thế giới ở mỗi quốc gia, mỗi thời điểm đều có đường lối chính sáchphát triển KT - XH riêng, không giống nhau do hoàn cảnh lịch sử, kinh tế xã hộikhác nhau Quốc gia nào có đường lối, chính sách đúng đắn sẽ tập hợp được mọinguồn lực (trong và ngoài nước) phục vụ cho mục tiêu phát triển; có chính trị ổnđịnh, đường lối đối ngoại rõ ràng và rộng mở sẽ tạo thuận lợi cho đất nước pháttriển kinh tế Ở nước ta bước đầu có sự thành công về đường lối chính sách pháttriển kinh tế và hiện nay đang đẩy mạnh thực hiện quá trình CNH – HĐH để đưaViệt Nam cơ bản thành một nước công nghiệp vào năm 2020
1.1.3 Các tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế
1.1.3.1 Các tiêu chí chung
- Tổng sản phẩm trong nước: (GDP - Gross Domestic Product) là tổng sảnphẩm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng mà một nền kinh tế tạo ra bêntrong phạm vi lãnh thổ một quốc gia, không phân biệt do người trong nước hayngười nước ngoài làm ra trong một thời gian nhất định (thường là một năm tàichính)
GDP thường được sử dụng để phân tích cơ cấu kinh tế, mối quan hệ tỷ lệgiữa các ngành trong SX, mối quan hệ giữa kết quả SX với phần huy động vàongân sách Chỉ tiêu này còn dùng để tính tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế,
Trang 17nghiên cứu sự thay đổi về khối lượng hàng hóa, dịch vụ SX Ngoài ra còn dùng đểđánh giá trình độ phát triển và mức sống của con người.
GDP được tính theo ba phương pháp chủ yếu là:
- Phương pháp SX: GDP = tổng GTSX - tổng chi phí trung gian + thuế nhậpkhẩu
- Phương pháp thu nhập: GDP = tổng thu nhập của người lao động từ SX +tổng thặng dư SX + tổng khấu hao tài sản cố định + tổng thuế gián thu và thuế SXkhác + thuế nhập khẩu - trợ cấp cho SX
- Phương pháp sử dụng cuối cùng: GDP = tiêu dùng cuối cùng của hộ giađình + tiêu dùng cuối cùng của nhà nước + tích lũy tài sản + xuất khẩu - nhập khẩu
- Tổng sản phẩm quốc dân (GNP - Gross National Products) là giá trị tính
bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân mộtnước trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Tổng sản phẩm quốc dânbằng tổng sản phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng
- Tổng thu nhập quốc dân: (GNI - Gross National Income) là tổng thu nhập
từ sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do công dân của một quốc gia tạo ratrong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm tài chính) GNI = GDP+ thu nhập nhân tố lợi tức từ nước ngoài – chi trả lợi tức nhân tố cho nước ngoài
GNI lớn hay nhỏ hơn GDP tùy thuộc mối quan hệ kinh tế (đầu tư vốn, laođộng…) giữa một nước với nhiều nước khác Những quốc gia có vốn đầu tư ranước ngoài cao thì GNI lớn hơn GDP Ngược lại, những nước đang tiếp nhận đầu
tư nhiều hơn là đầu tư ra nước ngoài sẽ có GDP lớn hơn GNI
- GNI và GDP bình quân đầu người: Để so sánh mức sống của dân cư ở các
nước khác nhau, người ta thường dùng các chỉ số GDP và GNI bình quân đầungười GNI/ đầu người và GDP/ đầu người được tính bằng GNI và GDP chia chotổng số dân ở một thời điểm nhất định Chỉ số GNI/ người và GDP/ người phảnánh trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia và được coi là một trong nhữngtiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng cuộc sống
- Tốc độ tăng GDP hằng năm (%): phản ánh năng lực cạnh tranh và phát
triển của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế Duy trì tốc độ tăng trưởng
Trang 18cao trong thời gian dài (5 – 15 năm) được coi là chỉ số phản ánh sự thành công củachính sách kinh tế và sự bền vững của nền kinh tế.
- Cơ cấu kinh tế: Cơ cấu nền kinh tế được xem xét ở 3 góc độ:
+ Cơ cấu kinh tế theo ngành: Ở góc độ ngành được chia thành các nhóm
ngành: Nhóm ngành N – L – NN (khu vực I), công nghiệp - xây dựng (khu vực II)
và nhóm ngành dịch vụ (khu vực III) Đối với nhóm ngành này phản ánh số lượng,
vị trí, tỷ trọng các ngành, lĩnh vực, bộ phận cấu thành nền kinh tế
+ Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ: Góc độ lãnh thổ cho thấy cơ cấu kinh tế
theo vùng lãnh thổ, phản ánh khả năng kết hợp, khai thác tài nguyên, tiềm lực KT
- XH của các vùng phục vụ cho mục đích phát triển nền kinh tế Mỗi cấp lãnh thổđều có cơ cấu kinh tế lãnh thổ của nó Nếu được tổ chức, các mối quan hệ giữa cáccấp phân vị lãnh thổ sẽ tạo nên mối quan hệ ngang rất chặt chẽ đảm bảo cho toàn
bộ các hoạt động trong mỗi lãnh thổ và giữa các lãnh thổ thống nhất, cân đối hàihoà để phát triển một cách nhịp nhàng, có hiệu quả
+ Cơ cấu thành phần kinh tế (góc độ sở hữu): Là tương quan tỉ lệ giữa các
thành phần kinh tế tham gia vào các ngành, lĩnh vực hay các bộ phận hợp thànhnền kinh tế Chỉ tiêu này phản ánh khả năng khai thác năng lực tổ chức SX kinhdoanh của mọi thành viên xã hội Một nền kinh tế thường có nhiều hình thức sởhữu khác nhau, ở đó có loại hình kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với nền kinh tế
và từ đó thể hiện rõ quan điểm, xu hướng phát triển kinh tế Trong điều kiện toàncầu hóa việc phân định các loại hình kinh tế là rất quan trọng, có tác dụng thúcđẩy, mở rộng sự phát triển kinh tế chung
Đối với nước ta, trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, haithành phần kinh tế chủ đạo là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể trên cơ sở chế
độ sở hữu toàn dân và tập thể Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, Đảng ta chủtrương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân,tập thể, sở hữu tư nhân Do đó, trong cơ cấu thành phần kinh tế, nước ta đã hìnhthành các thành phần kinh tế gồm: Kinh tế Nhà nước; kinh tế ngoài Nhà nước (kinh
tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
1.1.3.2 Các tiêu chí cho cấp huyện
Trang 19- Tổng giá trị sản xuất (GO - Gross output): Là tổng giá trị sản phẩm vật
chất và dịch vụ được tạo ra trên phạm vi lãnh thổ quốc gia trong một thời kì nhấtđịnh (thường là một năm) GO được tính bằng giá trị tăng thêm (VA) cộng với chiphí trung gian Đây chính là tổng doanh thu bán hàng thu được từ các đơn vị, cácngành trong toàn bộ nền kinh tế quốc gia
- Tốc độ tăng giá trị sản xuất: Là giá trị đo lường, thể hiện ở mặt định lượng
tăng trưởng kinh tế của lãnh thổ ở quy mô nhỏ như cấp huyện, thị Chỉ tiêu tốc độtăng trưởng GTSX được tính bằng giá so sánh theo một năm cố định, gọi là nămgốc (ở Việt Nam thường là năm 1994)
- Cơ cấu giá trị sản xuất:
+ GTSX theo ngành kinh tế bao gồm giá trị của SX N – L – TS, côngnghiệp – xây dựng, dịch vụ GTSX theo các ngành kinh tế là một trong các chỉtiêu để đánh giá sự phát triển của một nền kinh tế
+ GTSX theo lãnh thổ (tiểu vùng) biểu thị tương quan tỷ lệ giữa các tiểuvùng trong huyện, thị được sắp xếp một cách tự phát hay tự giác có chủ định Chỉtiêu này cho phép đánh giá, so sánh sự phát triển kinh tế giữa các tiểu vùng, từ đóxác định được các sản phẩm đặc trưng, hướng chuyên môn hóa của từng khu vực.Mặt khác, cơ cấu lãnh thổ theo từng ngành kinh tế: NN, công nghiệp còn cho phépkhai thác tối đa những lợi thế so sánh của các nguồn lực trong lãnh thổ
- Giá trị sản xuất/người: Là chỉ số phản ánh sự phát triển kinh tế nói chung
và việc nâng cao mức sống của người dân nói riêng Nếu quy mô, tốc độ tăngtrưởng của GTSX/ người ngày càng cao thì lãnh thổ đó càng thể hiện sự phát triểnnền kinh tế ngày càng ổn định và bền vững theo hướng công nghiệp hóa Ngoài ra,GTSX/người còn là chỉ tiêu để so sánh mức sống dân cư giữa các địa phương vớinhau
GTSX/người được tính bằng GTSX chia cho tổng số dân của địa phươngtrong cùng 1 thời gian (1 năm)
- Thu nhập bình quân đầu người: Là mức trả công lao động mà người lao
động nhận được trong một thời gian nhất định (tháng hoặc năm)
- Năng suất lao động: Để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, chủ yếu
phải nâng cao năng suất lao động
Trang 20Năng suất lao động thể hiện kết quả hoạt động sản xuất có ích của conngười trong một đơn vị thời gian nhất định Năng suất lao động phản ánh hiệu quả
sử dụng lao động sống trong quá trình sản xuất và được biểu hiện bằng số lượngsản phẩm sản xuất trong một đơn vị thời gian lao động hoặc bằng lượng thời gianhao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Quan niệm truyền thống về năng suấtchủ yếu là hướng vào đầu vào, tập trung hướng vào các yếu tố đầu vào như laođộng, vốn trong đó lao động sống là yếu tố trung tâm Vì vậy, ở nhiều nước, nhiềukhi người ta đồng nhất năng suất với năng suất lao động Năng suất được hiểurộng hơn, như là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả KT – XH Tăng năngsuất lao động là sự thay đổi trong cách thức lao động, một sự thay đổi làm rút ngắnthời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá, sao cho số lượnglao động ít hơn mà lại có được sức sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn
có diện tích tương đối lớn, tập trung chủ yếu ở phía Tây biên giới Việt - Lào.Khoáng sản gồm: sắt Thạch Khê, crôm Cổ Định, thiếc Quỳ Hợp, đá vôi ThanhHóa… có giá trị lớn về mặt công nghiệp
Trang 21Nhiều năm qua, vùng ven biển Trung Bộ nói chung và Bắc Trung Bộ nóiriêng đang được sự quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước về mọi mặt Do vậy, nềnkinh tế Bắc Trung Bộ đã đạt được những tiến bộ vượt bậc, nền kinh tế của vùngtăng trưởng khá nhanh về lượng và chất Quy mô GDP toàn vùng có sự tăngtrưởng khá nhanh, từ 17.844,9 tỉ đồng (giá thực tế) năm 1995 lên 28.658,0 tỉ đồngnăm 2000 và 125.737 tỉ đồng năm 2009; đóng góp hàng năm 6,9% GDP cả nước.
Biểu đồ 1.1: Quy mô và tốc độ tăng trưởng GDP Bắc Trung Bộ
14
%
GDP ( tỉ đổng) ( giá thực tế) Tốc độ tăng trưởng GDP
Tốc độ tăng trưởng của vùng trong những năm gần đây đạt ở mức khá cao,trung bình 10%/năm Trong đó, mức tăng trung bình của N – L – NN là 5,1%, củacông nghiệp – xây dựng là 14%, và của dịch vụ là 10% Tuy nhiên, tốc độ này có sựkhác nhau giữa các giai đoạn Giai đoạn 1995 – 2000, tốc độ tăng trưởng đạt ở mứcmột con số Giai đoạn 2001 đến nay, tốc độ tăng trưởng luôn ở mức hai con số.Nhìn chung, quy mô nền kinh tế của vùng vẫn còn nhỏ, chưa có tích luỹ, so với cảnước cũng chỉ ở mức khiêm tốn
Nền kinh tế tăng trưởng khá, tốc độ tăng dân số đã tương đối ổn định nênGDP bình quân đầu người theo từng tỉnh cũng như toàn vùng không ngừng đượctăng lên, từ 1,9 triệu đồng năm 1995 lên 12,5 triệu đồng năm 2009 và 17,8 triệu
Trang 22đồng năm 2011 Tuy nhiên, GDP bình quân đầu người của vùng chỉ bằng 65,9%mức trung bình cả nước Cho đến nay Bắc Trung Bộ vẫn là vùng kinh tế cònnhiều khó khăn
1.2.1.3 Cơ cấu kinh tế
* Cơ cấu kinh tế theo ngành
Cơ cấu kinh tế theo ngành vùng Bắc Trung Bộ đang có sự chuyển dịch cơcấu kinh tế tích cực theo hướng CNH - HĐH Tỉ trọng khu vực N – L – NN giảmtương đối nhanh, từ 40,5% năm 2000 xuống còn 19,7% năm 2011 Tỉ trọngngành công nghiệp – xây dựng tăng lên mạnh, năm 2000, khu vực này mớichiếm 22,5% thì đến năm 2011 đã tăng lên đến 36%, và khu vực dịch vụ tươngứng là 37,0% và 44,3%
Biểu đồ 1.2: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Bắc Trung Bộ
Nông - lâm- ngư nghiệp Công nghiệp - Xây dựng Dịch vụ
Khu vực kinh tế có vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của vùng BắcTrung Bộ là N – L – NN GTSX của ngành năm 2000 đạt 10.140,3 tỷ đồng chiếm9,0% GTSX N – L – NN của cả nước, đến năm năm 2010 tăng lên 17.359,3,chiếm 8,3% Trong nội bộ cơ cấu ngành NN cũng có sự chuyển dịch khá rõ nét:
Tỷ trọng ngành trồng trọt có xu hướng giảm từ 72,3% năm 2000 xuống còn 60,6%năm 2010 Tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng từ 25,2% lên 36,4% năm 2010, khu vực
Trang 23dịch vụ NN tăng tương ứng là 2,5% và 3,0% Nhìn chung, sản xuất nông nghiệp
đã phát huy được tính đa dạng; cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã chuyển dịch theohướng khai thác lợi thế kinh tế biển; nhiều mặt hàng nông, lâm, thủy sản đã pháthuy hiệu quả
Là khu vực có nhiều tiềm năng để phát triển công nghiệp, nên trong nhữngnăm qua, ngành công nghiệp của vùng Bắc Trung Bộ cũng có những bước pháttriển mạnh mẽ GTSX công nghiệp toàn vùng đạt 50.526,1 tỷ đồng (giá thực tế);tăng gấp 6,0 lần so với năm 2000 và chiếm 2,2% cả nước; trong đó, riêng ThanhHóa chiếm 0,94%, đứng đầu toàn vùng Tính đến 9/2011, toàn vùng Bắc Trung Bộ
đã có 18 khu công nghiệp và 243 dự án FDI với số vốn lên tới 19,9 tỷ USD, bằng10% tổng số vốn của hơn 13.000 dự án FDI trong cả nước Nhiều tập đoàn kinh tếlớn đầu tư vào Bắc Trung Bộ như: Hồng Hà (Trung Quốc), Posco (Hàn Quốc),Formosa (Đài Loan).
Ngành dịch vụ đang là ngành được ưu tiên phát triển ở Bắc Trung Bộ Năm
2010, ngành tăng bình quân là 10% và đóng góp 36% GDP Các ngành dịch vụquan trọng nhất là giao thông vận tải, thông tin liên lạc, thương mại và du lịch.Trong đó, đáng chú ý nhất là ngành du lịch với tốc độ phát triển rất nhanh Lượngkhách du lịch của vùng năm 2000 mới chỉ có 1,8 triệu lượt người, đến năm 2011
đã tăng lên 10,4 triệu lượt người (trong đó khách quốc tế đạt 8,6%); chiếm 25%tổng lượng khách du lịch của cả nước Trong giai đoạn 2001 - 2010, lượng kháchquốc tế đến vùng tăng 4 lần, khách nội địa tăng 5 lần; số lượng cơ sở lưu trú vàbuồng lưu trú tăng 3 lần Du lịch đã tạo việc làm cho 3 vạn lao động và thu nhập
du lịch tăng lên 9 lần Năm 2010 doanh thu từ ngành du lịch trong toàn vùng đạt
3864 tỷ đồng (chiếm 3,8% doanh thu du lịch của cả nước) Ngành thương mại mặc
dù còn gặp nhiều khó khăn những đã có những chuyển biến rõ nét về cán cân, thịtrường, các mặt hàng xuất nhập khẩu Giao thông vận tải và thông tin liên lạc đượcquan tâm đứng mức nhằm đáp ứng nhu cầu của SX và đời sống
Nhìn chung, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành của Bắc Trung
Bộ so với tình hình chung cả nước còn chậm và khá kiêm tốn Tuy nhiên, sự
Trang 24chuyển dịch này là đúng hướng, phù hợp với xu hướng chung của cả nước, phùhợp với lợi thế trong từng ngành, với quá trình cơ cấu lại SX và sản phẩm
* Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ
Bắc Trung Bộ đã và đang tích cực khai thác thế mạnh của từng tiểu vùng,từng tỉnh Xét theo tiểu vùng thì các tỉnh bắc Hoành Sơn chiếm hơn 70% GDP củavùng, các tỉnh nam Hoành Sơn chỉ chiếm chưa đến 30% trong cơ cấu kinh tế Cáctỉnh có nhiều điều kiện thuận lợi, có tiềm lực kinh tế thì chiếm tỉ trọng cao như:Thanh Hoá, Nghệ An, Thừa Thiên - Huế Ngược lại, các tỉnh do không có, hoặcchưa phát huy được các tiềm năng, lợi thế của mình như Quảng Bình, Quảng Trịthì chiếm tỉ trọng thấp trong GDP toàn vùng Vùng hiện có 6 khu kinh tế biển và 3khu kinh tế cửa khẩu Đây sẽ là động lực thúc đẩy kinh tế của vùng phát triểnmạnh mẽ trong tương lai
* Cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế
Trong những năm qua, các thành phần kinh tế trong vùng đều đạt tốc độtăng trưởng cao Cơ cấu theo thành phần kinh tế của vùng Bắc Trung Bộ hiện nayđang chuyển dịch theo xu hướng chung của cả nước Tuy nhiên, sự chuyển dịchcác thành phần kinh tế trong vùng là không rõ nét Khu vực kinh tế trong nước vẫnchiếm tỉ trọng chủ yếu, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tỉ trọng còn khiêm tốn.Khu vực kinh tế nhà nước, tuy có giảm về tỉ trọng nhưng vẫn giữ vai trò chủ đạotrong toàn bộ nền kinh tế của vùng Các ngành và các lĩnh vực kinh tế then chốttrong vùng vẫn do nhà nước quản lí Trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước đángchú ý là khu vực kinh tế tập thể, năm 2011 đóng góp 3000 tỷ đồng vào GDP toànvùng, tạo việc làm cho 10 vạn lao động với thu nhập bình quân 25-27 triệuđồng/người/năm
1.2.2 Phát triển kinh tế của tỉnh Thanh Hoá
1.2.2.1 Khái quát
Thanh Hoá là một tỉnh nằm phía cực Bắc của Bắc Trung Bộ Với diện tích
11.131,94 km2, chiếm 3,37% diện tích toàn quốc, dân số năm 2011 là 3.412.566người, chiếm 3,9% dân số cả nước, đứng thứ 3 cả nước (sau Hồ Chí Minh, Hà
Trang 25Nôi), mật độ dân số 306,6 người/km2.Về mặt tổ chức hành chính, tỉnh Thanh hóagồm 1 thành phố, 2 thị xã và 24 huyện.
Địa hình Thanh Hoá có cấu trúc chung của địa hình miền Tây Bắc và TrườngSơn Bắc nên nghiêng, dốc và kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, tạo nên sựphân dị địa hình theo quy luật: núi, trung du, đồng bằng và biển Thanh Hóa có 14nhóm đất chính với 28 loại đất khác nhau; có năm hệ thống sông chính là sôngHoạt, sông Mã, sông Yên, sông Lạch Bạng và sông Chàng Khí hậu Thanh Hóa làkhí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm với mùa đông lạnh ít mưa, có sương giá, sươngmuối; mùa hè nóng, mưa nhiều có gió Tây khô nóng; mùa đông có gió mùa ĐôngBắc theo xu hướng giảm dần từ biển vào đất liền, từ Bắc xuống Nam Tài nguyên
khoáng sản tương đối giàu có, các hệ động thực vật phong phú, đa dạng.
1.2.2.2 Quy mô và tốc độ tăng trưởng
Trong những năm gần đây, kinh tế của tỉnh Thanh Hoá luôn duy trì đượctốc độ tăng trưởng khá, năm sau cao hơn năm trước, năng lực SX và qui mô nềnkinh tế được tăng cường, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt
Biểu đồ 1.3: Quy mô và tốc độ tăng trưởng GDP của Thanh Hoá
GDP ( tỉ đổng) ( giá thực tế) Tốc độ tăng trưởng GDP
Quy mô GDP có sự tăng trưởng khá nhanh, từ 11.944,3 tỷ đồng (giá thực tế)
Trang 262006-2010 đạt 11,3% cao hơn giai đoạn 2001-2005 đạt 9,1% Tăng trưởng GDPbình quân giai đoạn 2006-2010 cao hơn 1,7 lần so với giai đoạn 2001-2005 Mặc
dù vậy, tăng trưởng kinh tế Thanh Hoá còn chậm, thiếu vững chắc Giai đoạntrước năm 2002 là giai đoạn Thanh Hoá huy động các nguồn lực cho sự phát triển.Giai đoạn 2002 – 2006 là giai đoạn tăng trưởng còn chậm do khai thác các nguồnlực theo chiều rộng: năm 2002 là 9,4% đến năm 2006 chỉ đạt 10,2%, tăng 0,8%.Giai đoạn từ 2006 – 2011 do tỉnh đã kịp thời chỉ đạo phát triển đi vào chiều sâutrên cơ sở nâng cao chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế nên tốc độ tăng trưởngphục hồi và luôn ở mức hai con số Năm 2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng lên13,7%, gấp hơn 2 lần so với bình quân chung của cả nước và là năm có tốc độ tăngtrưởng cao nhất từ trước đến nay Năm 2011 tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 12,3%(cả nước 5,89%), tuy thấp hơn kế hoạch (14,5%), nhưng là mức tăng trưởng khátrong điều kiện có nhiều khó khăn GDP bình quân đầu người đạt 910 USD caohơn so với năm 2010 là 810 USD
1.2.2.3 Cơ cấu kinh tế
* Cơ cấu kinh tế theo ngành
Trong những năm qua, cơ cấu ngành kinh tế Thanh Hoá cũng chuyển dịchnhanh theo hướng công nghiệp hóa nhưng tốc độ chuyển dịch chưa nhanh và chưa
ổn định Tỷ trọng ngành N – L – TS trong GDP đã giảm từ 36,8% năm 2002xuống còn 23,8% năm 2011; công nghiệp - xây dựng tăng từ 29,8% lên 41,8%;dịch vụ tăng từ 33,4% lên 34,4%
Biểu đồ 1.4: Cơ cấu GDP phân theo ngành k inh tế của Thanh Hoá
giai đoạn 2002 - 2011
Trang 27NN của tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế SX NNđảm bảo an ninh lương thực, cung cấp nguyên liệu chế biến cho công nghiệp chếbiến và xuất khẩu, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu lao động GTSX NN tăng từ7.771,2 tỷ đồng năm 2006 lên 23.227,9 tỷ đồng năm 2011 Ngành này thu hút tới90% nhân khẩu, gần 70% lao động và tạo ra khoảng 1/3 GDP của tỉnh Trong nội
bộ cơ cấu ngành NN cũng có sự chuyển dịch khá rõ nét: Tỷ trọng ngành trồng trọtgiảm từ 70,8% năm 2006 xuống còn 68,6% năm 2011; tỷ trọng ngành chăn nuôităng từ 27,1% năm 2006 lên 28,9% năm 2011, dịch vụ NN tăng tương ứng là 2,1%
và 2,5%
Công nghiệp là ngành có năng suất lao động cao, có tốc độ tăng trưởng lớn,
đã và đang khẳng định vai trò “đầu tàu” trong tăng trưởng kinh tế Năm 2011,GTSX công nghiệp đạt 42.149 tỷ đồng (giá hiện hành); gấp 3,5 lần so với năm
2006 Hầu hết các sản phẩm chủ lực đều tăng Năm 2011, bên cạnh các dự án côngnghiệp lớn đang được triển khai thực hiện như: lọc hóa dầu, nhiệt điện, thép , đãhoàn thành đưa vào SX một số cơ sở công nghiệp mới như: các nhà máy may ởHậu Lộc, Cẩm Thủy, Nga Sơn; Nhà máy chíp điện tử Thạch Anh , góp phầnnâng cao năng lực SX của ngành công nghiệp Hoạt động đầu tư xây dựng tuy gặpnhiều khó khăn do Chính phủ cắt giảm đầu tư công, thị trường bất động sản trầm
Trang 28lắng nhưng vẫn tăng trưởng khỏ tăng 15,9% so với năm 2010; huy động vốn đầu
tư phỏt triển ước đạt 36.000 tỷ đồng
Bờn cạnh đú một số ngành nghề truyền thống, nghề mới được khụi phục vàphỏt triển Những định hướng đỳng đắn trong việc qui hoạch xõy dựng cỏc khucụng nghiệp tập trung đó tạo đà đẩy mạnh quỏ trỡnh cụng nghiệp hoỏ Đến năm
2011, trờn địa bàn tỉnh đó được hoàn thành quy hoạch 5 khu cụng nghiệp tập trungvới tổng diện tớch là 3.256 ha Dự kiến đến năm 2020 sẽ cú 55 cụm cụng nghiệpđưa vào khai thỏc vận hành Cụng nghiệp phỏt triển gúp phần đẩy mạnh kinh tếphỏt triển, tạo ra một cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tiến dần đưa Thanh Hoỏtrở thành tỉnh cụng nghiệp sau năm 2020 với tỷ trọng cụng nghiệp là 35,7% v giáà giátrị sản xuất công nghiệp đạt 125.000 tỷ đồng
Ngành dịch vụ đang được ưu tiờn phỏt triển và ngày càng cú vai trũ quantrọng trong nền kinh tế của tỉnh Thanh Húa, đúng gúp 34,4% GDP toàn tỉnh năm
2011 Cỏc ngành dịch vụ ngày càng phỏt triển đa dạng, cú chuyển biến tớch cực cả
về quy mụ, cơ cấu và chất lượng Giỏ trị tăng thờm bỡnh quõn hằng năm tăng12,3% Tổng mức lưu chuyển hàng hoỏ bỏn lẻ và doanh thu dịch vụ bỡnh quõnhằng năm tăng 60,0%, năm 2011 đạt 31.875 tỷ đồng, vượt 9% kế hoạch Tỡnhhỡnh thị trường và hoạt động thương mại những năm qua cú nhiều điểm khởi sắc,hàng hoỏ dồi dào, thị trường hoạt động sụi nổi, chỉ số giỏ tiờu dựng tương đối ổnđịnh Giỏ trị xuất khẩu hàng hoỏ của tỉnh khụng ngừng tăng, đạt 394,34 triệu USDnăm 2011,vượt kế hoạch đề ra, trong đú: xuất khẩu chớnh ngạch chiếm 70% (năm
2010 là 60%) Nhập khẩu đạt 222,38 triệu USD Cỏc mặt hàng xuất khẩu ngàycàng đa dạng Dịch vụ vận tải cơ bản đỏp ứng nhu cầu SX và đi lại của nhõn dõn,ngành đường bộ, đường sắt và đường biển ngày càng được hoàn thiện và nõngcấp Vận tải cụng cộng bằng xe buýt phỏt triển khỏ nhanh, đến nay, mạng lưới xebuýt tại Thanh Húa đó tăng lờn 17 tuyến, với 199 đầu xe, chiều dài hoạt động là730km, phục vụ khu vực TP Thanh Húa và 18 huyện, thị xó lõn cận, hàng ngày
cú khoảng 30.000 - 35.000 lượt HK Vận tải đạt 30 triệu tấn hàng húa và 15,6triệu lượt khỏch (năm 2011) Bưu chớnh viễn thụng phỏt triển nhanh, mật độ điệnthoại đạt 62,7 mỏy/100 dõn Hoạt động của cỏc tổ chức tớn dụng cơ bản giữ được
Trang 29ổn định trong điều kiện lạm phát tăng cao, các chính sách hỗ trợ lãi suất đượctriển khai thực hiện kịp thời Du lịch là tiềm năng lớn của tỉnh Lượng khách dulịch đến tỉnh ngày một tăng, năm 2011 đón 3,3 triệu lượt khách Doanh thu dulịch đạt 1.530 tỷ đồng Để trở thành địa bàn trọng điểm du lịch quốc gia vào năm
2015 và hướng tới việc tổ chức thành công “Năm Du lịch quốc gia - Thanh Hoá2015”, trong 5 năm từ 2011-2015, tỉnh Thanh Hóa sẽ dành 7.146 tỷ đồng để đầu
tư phát triển du lịch
* Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ
Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ của tỉnh Thanh Hóa đang có sự chuyển dịch,thể hiện ở việc hình thành các vùng động lực tăng trưởng, các khu công nghiệp,khu kinh tế, các vùng chuyên canh SX hàng hoá trên cơ sở phát huy lợi thế sosánh của từng vùng Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ của Thanh Hóa nhìn chung có
sự tăng trưởng nhanh, nhưng đang có xu hướng tập trung cao ở vùng đồng bằng
và ven biển
Đứng đầu về tốc độ tăng trưởng là vùng ven biển Là vùng có nhiều tiềmnăng và được tỉnh đang triển khai nhanh việc phát triển SX, kinh doanh trên tất cảcác lĩnh vực; trong đó tập trung phát triển và đưa kinh tế ven biển trở thành "đầutàu kinh tế" Tỉnh lựa chọn những ngành nghề trọng tâm là phát triển công nghiệplọc hóa dầu, nhiệt điện, luyện kim, cơ khí chế tạo, đồng thời quan tâm phát triểncác ngành tổng hợp khác như dịch vụ, thủy sản Vì vậy có tốc độ tăng trưởng củavùng cao và liên tục tăng, trên 12% giai đoạn 2006 – 2011 Trong tương lai tốc độnày sẽ còn cao và nhanh hơn nữa Vùng đồng bằng tốc độ phát triển duy trì ở mức
8 – 10%/năm Vùng có nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng nênkinh tế khá phát triển Tỷ trọng trong GDP toàn tỉnh giữ mức khá cao, trên 50%.Trung du - miền núi là vùng có nhiều khó khăn so với các vùng khác cả về điềukiện tự nhiên lẫn KT - XH Tốc độ tăng trưởng bình quân của khu vực chỉ đạt 5 –6%/năm, thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng chung của nền kinh tế cả tỉnh.Việc triển khai các chương trình 134, 135 và Nghị quyết 30A của chính phủ trongnhững năm gần đây đã đẩy nhanh tốc độ phát triển kết cấu hạ tầng khu vực miềnnúi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tạo ra nhiều cơ hội giúp đồng bào dân tộc
Trang 30vươn lên, vượt qua đói nghèo và lạc hậu Một số huyện miền núi đã có mức tăngtrưởng trên 10%/năm như: Ngọc Lặc, Thạch Thành, Như Thanh
Để thúc đẩy sự phát triển của cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ hơn nữa, ThanhHóa đã đề ra nhiều giải pháp mục tiêu Mục tiêu của tỉnh đến năm 2015, tốc độtăng trưởng kinh tế bình quân vùng ven biển khoảng 29%/năm, trong đó cơ cấukinh tế ngành công nghiệp - xây dựng đạt 63,4%, dịch vụ đạt 28,3% Thanh Hóacũng xác định đây là vùng phát triển kinh tế nhanh và chiếm tỷ trọng ngày càngcao trong GDP của tỉnh, thu nhập bình quân đầu người cao hơn mức trung bìnhcủa cả tỉnh, đạt 2.700 USD/người/năm (cả tỉnh đạt 2.100 USD/người/năm) Tỉnhphấn đấu xây dựng Khu kinh tế Nghi Sơn trở thành Khu kinh tế ven biển lớn nhấtBắc miền Trung Đối với trung du miền núi, Thanh Hóa xác định tiếp tục coiChương trình phát triển KT - XH miền Tây Thanh Hóa là một trong 5 chươngtrình trọng tâm của tỉnh trong trong thời gian tới
* Cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế
Bảng 1.1: Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế của Thanh Hóa
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thanh Hóa
Với chính sách phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN vàchuyển đổi mô hình quản lý các DN quốc doanh, cơ cấu thành phần kinh tế củatỉnh đã chuyển dịch phù hợp dần với cơ chế thị trường.Từ năm 2006 đến 2011, tỉtrọng khu vực kinh tế quốc doanh trong GDP giảm 1,1%; khu vực kinh tế ngoàiquốc doanh giảm 1,4% nhưng vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế do thích
Trang 31hình thành và phát triển nên còn chiếm tỉ trọng thấp nhưng đang có xu hướng tănglên trong nền kinh tế, năm 2011 chiếm 6,3% GDP toàn tỉnh (tăng 2,5%) Tuynhiên, số lượng các DN dân doanh, DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài pháttriển mạnh do môi trường đầu tư được cải thiện Năm 2011, toàn tỉnh có 5.714 DNđang hoạt động, gấp 2,5 lần so với năm 2006, đạt tỷ lệ 597 người dân/01 DN Đặcbiệt, do môi trường đầu tư được cải thiện nhanh, năm 2011 Thanh Hóa đứng thứ 24trong số 64 tỉnh thành, hiện đứng thứ tư trong số các tỉnh thành thu hút nhiều vốnFDI nước ngoài với tổng vốn FDI nước ngoài vào 42 dự án trị giá trên 7,2 tỷ USD,trong đó đầu tư của Nhật Bản chiếm 96,7% Đây sẽ là nguồn lực to lớn đối với sựphát triển kinh tế của tỉnh trong tương lai.
Nhìn chung, trong thời gian qua cơ cấu kinh tế của Thanh Hoá có sự chuyểndịch tích cực, phù hợp với tiềm năng, lợi thế của tỉnh và nhu cầu thị trường, gópphần đẩy mạnh tiến trình CNH – HĐH của tỉnh Tuy nhiên, để nền kinh tế pháttriển ổn định, vững chắc và tương xứng với tiềm năng, Thanh Hóa cần phải cónhững chính sách và giải pháp tích cực nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, nângcao tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, đồng thời giảm dần mức chênh lệch các vùngmiền trong tỉnh
Thanh Hóa đã đề ra các chỉ tiêu cụ thể về phát triển KT – XH giai đoạn
2011 – 2020 Về mục tiêu kinh tế: chuyển dịch cơ cấu kinh tế NN, công nghiệp xây dựng, dịch vụ là 10,1% - 51,9% - 38%; kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2 tỷUSD với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đạt 19-20%/năm Phấn đấu tốc độ tăngtrưởng kinh tế bình quân hằng năm đạt trên 19%; GDP bình quân đầu người vượttrung bình cả nước; tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách từ 8% năm trở lên Về mụctiêu xã hội: đến năm 2020, Thanh Hóa phấn đấu hoàn thành phổ cập trung học phổthông; nâng tỷ lệ lao động được đào tạo tăng lên 55%-60%; giảm tỷ lệ thất nghiệp
-ở thành thị xuống dưới 3%, tỷ lệ thiếu việc làm -ở nông thôn dưới 3,5%; giảm tỷ lệ
hộ nghèo (theo chuẩn hiện nay) mỗi năm từ 3-5% Năm 2020, nâng tỷ lệ che phủrừng lên trên 60%; số cơ sở SX đạt tiêu chuẩn môi trường đạt trên 90%
Tiểu kết chương 1
Trang 32Cơ sở cho việc phân tích, đánh giá và đề ra các định hướng, giải pháp pháttriển kinh tế cho huyện Thọ Xuân là những vấn đề cơ sở lý luận về tăng trưởng,phát triển kinh tế đất nước được nêu ra trong đề tài.
Mặt khác, để thấy mục đích của sự phát triển kinh tế là hướng tới một nềnkinh tế phát triển với cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp với trình độ phát triển củatừng giai đoạn kinh tế của vùng Bắc Trung Bộ và tỉnh Thanh Hoá đề tài cũng đãđưa ra thực tiễn phát triển kinh tế cụ thể Quá trình phát triển đó chịu tác động củacác nhân tố chủ quan lẫn khách quan, có nhân tố thúc đẩy nhưng cũng có nhân tốkìm hãm sự phát triển Do đó, để vận dụng lý luận vào thực tiễn một cách linhhoạt, khi tìm hiểu quá trình phát triển kinh tế Thọ Xuân cần phải đánh giá đượccác thế mạnh và hạn chế của nguồn lực cho sự phát triển từng ngành, từng lĩnhvực trước những tác động từ bên ngoài đến kinh tế huyện
Trang 33Chương 2: CÁC NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ HUYỆN THỌ XUÂN 2.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ LÃNH THỔ
Huyện Thọ Xuân nằm ở phía Tây Bắc thành phố Thanh Hóa với tổng diệntích tự nhiên của toàn huyện là 293,18 km2, dân số năm 2011 là 216.105 người.Huyện có hệ thống tọa độ địa lý là: 19050’ – 20000’ vĩ độ Bắc và 105025’ –
105030’ kinh độ Đông Phía Bắc – Tây Bắc giáp huyện Ngọc Lặc và một phần nhỏhuyện Cẩm Thủy, phía Nam giáp huyện Triệu Sơn, phía Tây giáp huyện ThườngXuân, phía Đông - Đông Bắc giáp huyện Yên Định, phía Đông – Đông Nam giáphuyện Thiệu Hóa
Huyện có 3 thị trấn là thị trấn huyện lỵ Thọ Xuân, thị trấn Sao Vàng, thịtrấn Lam Sơn, cùng với 38 xã trong đó có 5 xã miền núi Thọ Xuân là một tronghai huyện lớn của khu vực đồng bằng Thanh Hóa
Ở vào vị trí cửa ngõ nối liền đồng bằng với trung du miền núi, lại có dòngsông Chu – con sông lớn thứ hai của tỉnh đi qua từ đầu huyện đến cuối huyện, rồisân bay quân sự Sao Vàng, đường Hồ Chí Minh và Quốc lộ 47 chạy qua Từ ThọXuân cũng có đường đi tắt qua Triệu Sơn – Như Xuân để vào Nghệ An rồi từ ThọXuân có thể qua đất bạn Lào theo tuyến đường đi Thường Xuân – Bát Mọt hoặc điNgọc Lặc – Lang Chánh – Bá Thước – Quan Hóa để sang sang tỉnh Hủa Phăn TừThọ Xuân còn có thể đi được đến tỉnh Hòa Bình theo con đường qua Ngọc Lặc –Cẩm Thủy và đến tỉnh Ninh Bình theo con đường Yên Định – Vĩnh Lộc đi phốCát (Thạch Thành) Nếu theo đường sông Chu, gặp sông Mã ở Ngã Ba Giàng(Thiệu Hóa) chúng ta có thể đi được hầu hết các vùng trong và ngoài tỉnh
Từ thành phố Thanh Hóa, theo trục đường 47 đến huyện lỵ Thọ Xuân là 36
km Từ Thọ Xuân đến biên giới Na Mèo gần 150 km và ra thủ đô Hà Nội theo conđường Hồ Chí Minh chỉ hơn 120 km
Tóm lại, vị trí địa lý đã tạo điều kiện cho huyện thuận lợi trong việc liên kếttrao đổi hàng hóa, lao động, kỹ thuật cũng như thu hút vốn đầu tư để thúc đẩy pháttriển kinh tế nhằm khai thác triệt để những tiềm năng hiện có, tạo ra động lựcmạnh mẽ làm thay đổi toàn bộ diện mạo kinh tế huyện, phục vụ mục tiêu nâng caođời sống và chất lượng cuộc sống nhân dân
Trang 34* Khu vực trung du: Gồm 11 xã và 2 thị trấn được trải rộng từ Tây Bắc
xuống Đông Nam của huyện Đây là vùng đồi thoải có độ cao từ +15m đến +150m, thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, lâmnghiệp Toàn vùng có 149,804km2, chiếm 50,8% diện tích tự nhiên toàn huyện.Vùng này được chia thành hai tiểu vùng:
- Tiểu vùng đồi núi thấp bao quanh phía Tây Bắc của huyện gồm 6 xã:Xuân Lam, Thọ Lập, Xuân Thiên, Xuân Châu, Quảng Phú, Thọ Minh và 1 phầndiện tích nông trường Thống Nhất; địa hình có độ cao từ 15m - 150m
- Tiểu vùng đồi bao quanh phía Tây Nam của huyện có 5 xã và 2 thị trấn:Thọ Lâm, Thọ Xương, Xuân Phú, Xuân Thắng, Xuân Bái, thị trấn Sao Vàng và thịtrấn Lam Sơn; địa hình có độ cao từ 20m đến 150m
Địa hình phức tạp, có nhiều đồi thấp nhấp nhô như bát úp, nhiều chỗ lại bằngphẳng nên rất thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và lâm nghiệp
* Khu vực đồng bằng: Gồm 27 xã, 1 Thị trấn nằm hai phía tả và hữu ngạn
sông Chu, có độ cao từ +6m đến +17m Diện tích tự nhiên 145,183 km2, chiếm49,2% diện tích tự nhiên toàn huyện Vùng này được chia thành 2 tiểu vùng
- Tiểu vùng hữu ngạn sông Chu gồm 17 xã và 1 thị trấn: Thị trấn Thọ Xuân,Xuân Khánh, Thọ Nguyên, Xuân Thành, Hạnh Phúc, Tây Hồ, Bắc Lương, NamGiang, Xuân Phong, Thọ Lộc, Xuân Quang, Xuân Trường, Xuân Giang, XuânHoà, Thọ Hải, Thọ Diên, Xuân Sơn, Xuân Hưng địa hình có độ cao từ 6m - 17m,nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam
Trong đó: Các khu vực như Tứ Trụ xã Thọ Diên có độ cao từ 15m - 17m;Đồng Ngâu xã Thọ Lộc, Bích Phượng, Ngọc Lạp xã Xuân Sơn, Đồng Nẩn xãXuân Phong có độ cao từ 6m - 7m
Trang 35Tiểu vùng hữu ngạn sông Chu, nhất là phía Đông Nam của huyện phần lớn
là bình địa, có nhiều cánh đồng rộng lớn xen kẽ với làng xóm, được tưới tiêu chủđộng bằng hệ thống thuỷ nông sông Chu, nên rất phì nhiêu, trù phú
- Tiểu vùng tả ngạn sông Chu gồm 10 xã: Phú Yên, Xuân Yên, Xuân Tín,Xuân Minh, Xuân Lập, Xuân Tân, Xuân Vinh, Thọ Trường, Thọ Thắng, XuânLai; độ cao địa hình từ 6m - 15m
Trong đó: Các khu vực như Đông Sơn địa hình có độ cao từ 6m - 9m, HónQuan Hoa có độ cao từ 6m - 10m, Nỗ Đào có độ cao từ 7m - 10m
Tiểu vùng tả ngạn sông Chu, địa hình phức tạp hơn: Các cánh đồng thường
là lòng chảo nên tưới cho đất canh tác bằng bơm điện, tát, tiêu rất khó khăn
Nhìn chung địa hình Thọ Xuân ở vị trí chuyển tiếp giữa đồng bằng và trung
du Thanh Hoá, địa hình thấp hơn vùng trung du từ 50m - 100m và cao hơn vùngđồng bằng khác từ 4m - 6m Địa hình đa dạng có tác động lớn đến việc bố trí khudân cư, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, bố trí vùng chuyên canh và thâm canh lớn,phát triển công nghiệp, NN, tạo tiền đề cho phát huy lợi thế, phát triển nền kinh tếphong phú, đa dạng
2.2.2 Đất
Theo kết quả điều tra bổ sung xây dựng bản đồ đất của Đoàn đo đạc bản đồ
và quy hoạch sở địa chính Thanh Hoá, đất của Thọ Xuân được chia thành 4 nhómchính sau:
- Đất xám Feralit kết vón nông 2048,4 ha chiếm 7,0% diện tích tự nhiên;phân bố chủ yếu ở các xã Xuân Phú, Xuân Thắng, Xuân Tín, Xuân Thiên, Xuân
Trang 36Lam, Thọ Lâm, Quảng Phú Sử dụng trồng cây công nghiệp ngắn ngày ở độ dốc
<150 khoảng 1.452 ha; ở độ dốc > 150 trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả,nông lâm kết hợp, lâm nghiệp khoảng 590 ha
- Đất xám Feralit kết vón sâu: Diện tích 469,3 ha chiếm 1,6% diện tích tựnhiên, phân bố ở một số xã Xuân Phú, Xuân Thắng, Thọ Lâm, nông trường SaoVàng, Xuân Tín Sử dụng trồng cây công nghiệp ngắn ngày ở độ dốc <150 (diện tíchkhoảng 335 ha), độ dốc > 150 trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, nông lâmkết hợp và lâm nghiệp (diện tích khoảng 134 ha)
- Đất xám Feralit có lẫn đá, nông, diện tích 1132,4 ha chiếm 3,9% diện tích
tự nhiên, phân bố ở xã Xuân Châu, Xuân Thiên, Thọ Lập, Thọ Minh, Thọ Lâm.Đất với độ dốc từ 80 trở lên, có tầng lớp dày trên 100cm, hiện tại đang sử dụngtrồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, nông lâm kết hợp và lâm nghiệp, códiện tích khoảng 406 ha
- Đất xám Feralit điển hình, diện tích 4.911,6 ha, chiếm 16,8% diện tích tựnhiên, phân bố ở xã Quảng Phú, Xuân Châu, Thọ Minh, Thọ Xương, Xuân Thắng,Thị Trấn Lam Sơn, Nông trường Sao Vàng, Xuân Sơn Đất ở độ dốc từ dốc 80 – 150trở lên tầng đất dày > 100cm, đang trồng cây công nghiệp (khoảng 3.150 ha) Ở độdốc > 150 thì trồng cây lâm nghiệp ở (diện tích khoảng 1.760 ha)
* Nhóm đất phù sa bao gồm:
Đất phù sa biến đổi kết vón nông, diện tích 73,8 ha chiếm 0,3% diện tích tựnhiên, phân bố ở xã Xuân Hưng, Xuân Quang, Bắc Lương, Thọ Nguyên, NamGiang, tại các chân ruộng cao tầng đất dày >100cm, hiện trạng sử dụng trồng lúa,màu Loại đất này có thể sử dụng phát triển vùng cây công nghiệp ngắn ngày
- Đất phù sa biến đổi glây nông, diện tích 189,8 ha chiếm 0,6% diện tích tựnhiên Phân bố ở ruộng trũng tại xã Xuân Vinh, Xuân Tân hiện đang sử dụngtrồng lúa Đất này thích hợp cho phát triển cây lúa nước hai vụ
- Đất phù xa biến đổi Limon, diện tích 31,9 ha chiếm 0,1% diện tích tự nhiên,phân bố ở chân ruộng cao thuộc các xã Xuân Trường, Thọ Hải, Thọ Diên, Phú Yên,hiện đang trồng rau, màu các loại Đất này thích hợp cho việc trồng cây lấy củ
Trang 37- Đất phù sa biến đổi chua do không có điều kiện thoát nước, diện tích 167,2
ha chiếm 0,6% diện tích tự nhiên, phân bố dọc theo sông Cầu Chày không có điềukiện thoát nước như Xuân Vinh, Xuân Tân hiện đang trồng lúa
- Đất phù sa glây nông, diện tích 703,4 ha chiếm 2,4% diện tích tự nhiênphân bố ở Xuân Minh, Xuân Thắng, Xuân Tân, đây là những chân ruộng thấp khóthoát nước, hiện tại trồng lúa Hướng sử dụng vào trồng 2 vụ lúa
- Đất phù sa bảo hoà Bazơ điển hình, diện tích 6445,1 ha chiếm 22,0% diệntích tự nhiên, phân bố hầu hết các xã vùng đồng bằng, hiện đang sử dụng trồnglúa, lúa màu Nên sử dụng đất này thâm canh 2 vụ lúa, 1 vụ màu (khoảng 5.920ha), còn khoảng 525 ha phát triển cây công nghiệp ngắn ngày
- Đất phù sa glây chua, diện tích 3368,8 ha chiếm 11,5% diện tích tự nhiên,
phân bố các vùng thấp thoát nước kém như Thọ Thắng, Xuân Lập, Xuân Tân,Xuân Minh, Xuân Quang, Xuân Châu, Thọ Lộc, Thọ Hải, hiện trạng trồng lúa.Hướng sử dụng phát triển 2 vụ lúa
- Đất phù sa glây bảo hoà Bazơ, diện tích 6762,6 ha chiếm 23,1% diện tích
tự nhiên, phân bố ở các xã có địa hình thấp như xã Xuân Minh, Xuân Lập, XuânLai, Xuân Vinh, Hạnh Phúc, Xuân Thành, Bắc Lương, Thọ Nguyên, Nam Giang,Xuân Phong hiện tại đang trồng lúa và được sử dụng trồng 2 vụ lúa là 3.750 ha,còn 3012 ha có thể thâm canh 3 vụ ở trong điều kiện thoát nước tốt
* Nhóm đất nâu đỏ:
Diện tích 1099 ha chiếm 3,7% diện tích tự nhiên phân bố ở độ dốc 80 - 150
ở các xã: Xuân Châu, Thọ Lập, tầng đất dày >100cm Hiện tại đang trồng cao su,mía Hướng sử dụng trồng cây công nghiệp ngắn ngày trên toàn bộ diện tích
* Nhóm đất tầng mỏng:
Diện tích 900,1 ha chiếm 3,1% diện tích tự nhiên, phân bố ở vùng núi phíaTây Nam của xã Xuân Phú Hiện tại vùng đất này trồng mía và phát triển lâmnghiệp Có thể phát triển cây công nghiệp ngắn ngày ở độ dốc 80 – 150 (616 ha),phát triển cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, lâm nghiệp, nông lâm kết hợp ở
độ dốc > 150(284 ha)
Trang 38Tài nguyên đất phong phú tạo thuận lợi cho Thọ Xuân có thể đa dạng hóacác loại cây trồng, vật nuôi, góp phần đa dạng hóa cơ cấu kinh tế của huyện Quađiều tra tài nguyên đất trên địa bàn huyện kết hợp với việc nghiên cứu hiện trạng
sử dụng đất cho thấy việc sử dụng đất, bố trí cây trồng trên đất ở Thọ Xuân kháhợp lý Tuy nhiên trong thời gian tới cần nghiên cứu kỹ đặc tính của từng loại đất
để khai thác tiềm năng đất đai hợp lý hơn, nâng cao hiệu quả kinh tế, bảo vệ đất vàmôi trường
Về tình hình sử dụng đất: Theo báo cáo của phòng thống kê Thọ Xuân, hiện
nay, đất đang sử dụng của huyện (gồm cả sông suối, mặt nước chuyên dùng) là28.428,34 ha; chiếm 97,0% diện tích tự nhiên Trong đó, đất NN là 19.440 ha,chiếm 66,3% (tăng 6,0% so với năm 2006) và đất phi NN là 8988,34 ha, chiếm30,7% diện tích tự nhiên toàn huyện (tăng 1,9% so với năm 2006) Trong số đất
NN, đất sử dụng vào SX NN là 16.056,85 ha, chiếm 82,6%; đất sử dụng vào SXlâm nghiệp là 2.799,62 ha, chiếm 14,4% và mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 583,5
ha, chiếm 3,0% diện tích tự nhiên của huyện Trong đất phi NN chiếm lớn nhất làđất chuyên dùng (4508,37 ha) và đất ở (2900,06 ha) Đất chưa sử dụng còn 889,87
ha, chiếm 3,0% diện tích tự nhiên, trong đó chủ yếu là đất bằng (712,2 ha) Thờigian tới cần có kế hoạch khai thác quỹ đất này vào phát triển NN, lâm nghiệp
Trang 39Nhìn chung hầu hết diện tích đất bằng ở Thọ Xuân đã được khai thác sử dụngvào các mục đích khác nhau Huyện đã hoàn chỉnh việc qui hoạch phân vùng kinh
tế, vùng chuyên canh, thâm canh và hiệu quả kinh tế được khai thác từ nguồn lựcđất đai ở tất cả các vùng trong huyện đều đạt hiệu quả cao Để tiếp tục đẩy mạnhphát triển kinh tế, huyện cần cố gắng hơn nữa trong việc khai thác triệt để diện tíchđất còn hoang hóa và chưa sử dụng (nhất là các xã bán sơn địa) vào việc phát triển
NN, lâm nghiệp, công nghiệp ở tầm vóc qui mô ngày một lớn hơn
2.2.3 Khí hậu
Là vùng tiếp giáp giữa hai nền khí hậu của đồng bằng Bắc Bộ và khu Bốn
cũ và sự nối tiếp giữa đồng bằng với trung du miền núi, nền khí hậu của huyệnThọ Xuân vẫn là nền khí hậu của khu vực nhiệt đới gió mùa Nhưng ngoài nhữngyếu tố chung, khí hậu ở đây vẫn có những yếu tố khác biệt, đặc thù riêng
Chế độ nhiệt: Thọ Xuân có nhiệt độ tương đối cao, nhiệt độ không khí bình
quân năm 23,40C; Trung bình năm cao 26,70C; Trung bình năm thấp 20,30C; Nhiệt
độ cao tuyệt đối 39,30C; Thấp tuyệt đối 4,40C Biên độ nhiệt ngày và đêm 6,40C.Tổng số giờ nắng trung bình trong năm 1.680 giờ; Số giờ nắng nhiều nhất trongtháng là tháng 7 tổng số 219 giờ; Số giờ nắng ít nhất trong tháng là tháng 2 tổng số
48 giờ
Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí bình quân năm 86%; trung bình năm cao
97%, trung bình năm thấp 60% Độ ẩm không khí thấp tuyệt đối 18% (tháng 1)
Lượng mưa: Lượng mưa bình quân năm 1.911,2 mm; Năm cao nhất
2.929,3mm; Năm thấp nhất 1.459mm Tuy nhiên, lượng mưa phân bố không đồngđều giữa các tháng Tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 9: 760mm; Tháng cólượng mưa nhỏ nhất là tháng 1: 3mm; Số ngày mưa trung bình trong năm 137ngày; Tháng có ngày mưa nhiều nhất tháng 8: 16 ngày; Tháng có ngày mưa ít nhấttháng 12: 4 ngày Thọ Xuân có thể chia mưa thành 2 thời kỳ: mưa tiểu mãn vàmưa lũ chính
- Từ tháng 5 đến 6 do hội tụ các loại gió, thường xuất hiện lũ tiểu mãn Lúc này,nước mưa cục bộ và từ sông cầu Chày đổ về gây ảnh hưởng đến phía Đông Bắc huyện
Trang 40- Mùa mưa chính: Từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa chiếm 85% lượngmưa cả năm, tập trung chủ yếu ở các tháng 8, 9, 10 Lượng mưa 3 tháng nàychiếm 50% - 60% lượng mưa cả năm và thường gây ra lũ lụt Từ tháng 12 đếntháng 4 năm sau là mùa khô, tổng lượng mưa các tháng này khoảng 105mm -180mm Chiếm 10% - 15% lượng mưa cả năm.
Bốc hơi: Lượng bốc hơi bình quân năm 788,0mm; Tháng có lượng bốc hơi
cao nhất là tháng 7: 86,4mm; Tháng có lượng bốc hơi thấp nhất tháng 2: 41,8mm
Sương: Chủ yếu có 2 loại:
Sương mù: Thường xuất hiện trong mùa đông và mùa xuân Số ngày cósương mù trong năm tập trung vào các tháng 11 và 12, từ 21 - 26 ngày, sương mùxuất hiện làm tăng độ ẩm không khí và đất
Sương muối: Những năm rét nhiều, sương muối xuất hiện vào tháng 1 vàtháng 2 gây ảnh hưởng tới SX, tuy nhiên mức độ gây hại không lớn
Chế độ gió
Hàng năm ở Thọ Xuân vẫn chịu ảnh hưởng của hai loại gió mùa:
- Mùa đông: Gió mùa Đông Bắc thường rét, khô và hanh, xuất hiện từ tháng
Hướng gió thịnh hành nhất vẫn là Đông và Đông Nam, tốc độ trung bình1,3 m/s, lớn nhất là 20 m/s
Thiên tai: Từ tháng 7 đến tháng 10, bão thường đổ bộ từ biển vào, tốc độ
gió cấp 8 - 9 cá biệt có thể tới cấp 11 - 12 kèm theo mưa to, gây thiệt hại về tàisản, tác hại đến cây trồng, vật nuôi
Nhìn chung, khí hậu của Thọ Xuân có sự phân mùa rõ rệt, mùa đông lạnh,khô và mùa hè mưa nhiều có bão lụt kèm theo