Qua các kỳ Đại hội, chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng ngày càng sáng tỏ, được xác định là yêu cầu khách quan, cần phải chủ động, có lộ trình với bước đi tích cực, vững chắc, k
Trang 1MỞ ĐẦU
Năm 1986, Đại hội Đảng lần thứ VI họp và Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới đất nước Việc đổi mới tư duy của Đảng có những bước tiến quan trọng, đặc biệt là tư duy kinh tế Đại hội VI của Đảng đưa ra quan điểm rất quan trọng,
đó là muốn phát triển kinh tế phải tham gia vào phân công lao động quốc tế Qua các kỳ Đại hội, chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng ngày càng sáng tỏ, được xác định là yêu cầu khách quan, cần phải chủ động, có lộ trình với bước đi tích cực, vững chắc, không do dự chần chừ, nhưng cũng không nóng vội, giản đơn
Thực tiễn cho thấy, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng, từng bước tranh thủ được môi trường quốc tế thuận lợi để tập trung phát triển kinh tế - xã hội và thu được nhiều thành tựu hết sức quan trọng Bên cạnh thiết lập quan hệ ngoại giao với 185 nước, Việt Nam thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với 224 thị trường tại tất cả châu lục; đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực, thu hút một lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Ngay sau khi thực hiện công cuộc đổi mới, năm 1987, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài Đây là một dấu mốc rất quan trọng, đã mở đường cho dòng vốn đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam Từ chỗ dường như chưa có đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đến nay, đã có tới 26.500 dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng số vốn đăng ký lên tới gần 335 tỷ USD Con số FDI đó là nguồn vốn quan trọng cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam, đồng thời mang lại nhiều sự thay đổi về
xã hội
Thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng, số lượng đối tác thương mại gia tăng, tranh thủ được tri thức, công nghệ mới và các nguồn lực quan trọng khác, đóng góp tích cực vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại Hội nhập kinh tế quốc tế cũng đã tạo cơ hội và động lực cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận, áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới nhất, từng bước đưa doanh nghiệp và nền kinh tế bước vào môi trường cạnh tranh mới
Trang 2Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, làm tăng sức mạnh quốc gia Năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập quốc tế từ Trung ương đến địa phương từng bước được nâng cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam có bước trưởng thành đáng
kể Hội nhập kinh tế quốc tế đã đóng góp quan trọng vào việc mở rộng và đưa quan hệ nước ta với các đối tác đi vào chiều sâu, tạo thế đan xen lợi ích, góp phần giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước
Tuy đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng hội nhập kinh tế quốc tế cũng còn một số hạn chế nhất định Chủ trương, đường lối của Đảng, cuộc sống, pháp luật của Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế có nơi, có lúc chưa được các cấp, các ngành quán triệt đầy đủ, và thực hiện nghiêm túc
Hội nhập kinh tế quốc tế chưa gắn kết chặt chẽ với yêu cầu nâng cao hiệu quả, phát triển bền vững của sự phát triển kinh tế, bảo vệ an ninh chính trị và trật
tự an toàn xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Chưa được tiến hành đồng bộ với quá trình gia tăng liên kết giữa các vùng, miền trong cả nước
Cơ chế chỉ đạo, điều hành, giám sát và phối hợp quá trình hội nhập, từ Trung ương đến địa phương, giữa các ban, ngành còn nhiều bất cập
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và quá trình đổi mới ở trong nước, nhất
là đổi mới, hoàn thiện thể chế chưa được thực hiện một cách đồng bộ, chưa gắn kết chặt chẽ với quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh Hội nhập quốc tế của các lĩnh vực khác chưa đi vào chiều sâu, chưa gắn kết và tạo tác động tích cực đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; trong nhiều trường hợp còn bị động…
Để tìm hiểu rõ hơn quan điểm hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế; học viên xin
được chọn nội dung “Hội nhập kinh tế quốc tế và một số vấn đề đặt ra” làm chủ
đề thu hoạch môn học Quan hệ Quốc tế thuộc chương trình hoàn chỉnh kiến thức Cao cấp lý luận chính trị K69-C08
Trang 3NỘI DUNG
1 Một số khái niệm chung
* Hội nhập quốc tế
Những năm gần đây, hội nhập quốc tế đã trở thành ngôn từ khá quen thuộc Tuy vậy, dường như chưa có một định nghĩa chính thức về hội nhập quốc
tế Trong bối cảnh nước ta đang tích cực, chủ động hội nhập quốc tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, việc xác định đúng nội hàm của hội nhập quốc tế là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chiến lược, chính sách và các biện pháp cụ thể của nước ta trong quá trình hội nhập
Theo TS Phạm Quốc Trụ, Học viện Ngoại giao, thuật ngữ “hội nhập quốc” tế trong tiếng Việt có nguồn gốc dịch từ tiếng nước ngoài Đây là một khái niệm được sử dụng chủ yếu trong các lĩnh vực chính trị học quốc tế và kinh
tế quốc tế, ra đời từ khoảng giữa thế kỷ trước ở châu Âu, trong bối cảnh những người theo trường phái thể chế chủ trương thúc đẩy sự hợp tác và liên kết giữa các cựu thù (Đức - Pháp) nhằm tránh nguy cơ tái diễn chiến tranh thế giới thông qua việc xây dựng Cộng đồng châu Âu Trên thực tế hiện nay, có thể xem hội nhập trước hết là sự liên kết các quốc gia thông qua phát triển các luồng giao lưu như thương mại, đầu tư, thư tín, thông tin, du lịch, di trú, văn hóa… từ đó hình thành dần các cộng đồng an ninh
Theo TS Phạm Thanh Hà, Học viện Chính trị khu vực I, hội nhập quốc tế thường được hiểu là một quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăng cường
sự gắn bó giữa các nước với nhau, qua việc tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực, dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, nguồn lực, quyền lực, giá trị… Tuy nhiên, phải tuân thủ các nguyên tắc, luật chơi chung trong khuôn khổ của tổ chức khu vực và quốc tế đó Hội nhập quốc tế có thể diễn ra trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội (chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh - quốc phòng, giáo dục ), hoặc diễn ra trên cùng nhiều lĩnh vực với tính chất, phạm vi, hình thức khác nhau
* Hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 4Ở Việt Nam, thuật ngữ hội nhập kinh tế quốc tế bắt đầu được sử dụng từ khoảng giữa thập niên 1990 cùng với quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN, tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và các thể chế kinh tế quốc
tế khác
Cho đến nay, vẫn đang tồn tại cách hiểu khác nhau về hội nhập kinh tế quốc tế Có ý kiến cho rằng hội nhập kinh tế quốc tế là sự phản ánh quá trình các thể chế quốc gia tiến hành xây dựng, thương lượng, ký kết và tuân thủ các cam kết song phương, đa phương và toàn cầu ngày càng đa dạng hơn, cao hơn và đồng bộ hơn trong các lĩnh vực đời sống kinh tế quốc gia và quốc tế Có ý kiến khác cho rằng, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình loại bỏ dần các hàng rào thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế và di chuyển các nhân tố sản xuất giữa các nước
Mặc dù còn có những quan niệm khác nhau, nhưng hiện nay khái niệm tương đối phổ biến được nhiều nước chấp nhận về hội nhập như sau: hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế của mỗi quốc gia vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa các nước thành viên
có sự ràng buộc theo những quy định chung của khối Nói một cách khái quát nhất, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các quốc gia thực hiện mô hình kinh
tế mở, tự nguyện tham gia vào các định chế kinh tế và tài chính quốc tế, thực hiện thuận lợi hoá và tự do hoá thương mại, đầu tư và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác
* Nhận thức mới trong hoạt động đối ngoại
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã thông qua đường lối đổi mới toàn diện, trong đó có đổi mới lĩnh vực hoạt động đối ngoại Những Đại hội sau đó xác định nhiệm vụ cơ bản, lâu dài là sớm đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu sớm đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Kế thừa chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Đại hội
XI, Đại hội XII khẳng định hội nhập quốc tế là quyết sách chính trị quan trọng,
là định hướng mới trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta khi đất
Trang 5nước bước sang thời kỳ mới, phản ánh bước phát triển mới trong tư duy đối ngoại của Đảng trên cơ sở nhận thức sâu sắc về các xu thế lớn của thời đại và thực tiễn cách mạng Việt Nam
Hội nhập quốc tế có nội hàm rất rộng, trong đó có chủ trương hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội
Do đó, trong phạm vi bài thu hoạch này, học viên xin được tìm hiểu về hội nhập kinh tế quốc tế
2 Quan điểm của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế
Trong thời kỳ đổi mới, chủ trương của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng được bổ sung, hoàn thiện Đại hội VI của Đảng đưa ra quan điểm muốn phát triển kinh tế phải tham gia vào phân công lao động quốc tế Đến Đại hội VII, Đảng khẳng định: Mở rộng, đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệ kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc giữ vững độc lập chủ quyền, bình đẳng, cùng
có lợi Trung ương Đảng khóa VII đã cụ thể hóa quan điểm mở rộng quan hệ và tham gia các tổ chức, định chế tài chính, tiền tệ, kinh tế, thương mại khu vực và quốc tế Tiếp đó, Đại hội VIII xác định đường lối xây dựng nền kinh tế mở, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Đại hội IX đánh dấu mốc phát triển mới về hội nhập kinh tế quốc tế với chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế được cụ thể hóa bởi Nghị quyết 07-NQ/TW (27-11-2001) của Bộ Chính trị
Trong tình hình mới, Đảng ta đặc biệt quan tâm việc bổ sung, làm rõ thêm quan điểm, chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế Tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội X đã nêu 5 bài học lớn, trong đó bài học thứ 3 là bài học về hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ Hội nhập kinh tế quốc tế được xác định là yêu cầu khách quan, do đó phải chủ động, có lộ trình với bước đi tích cực, vững chắc, không do dự chần chừ, nhưng cũng không nóng vội, giản đơn
Trang 6Đến Đại hội XI, Đảng chủ trương chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất Nhìn chung, hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh nước ta hiện nay phải dựa trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường
Đại hội XII của Đảng khẳng định: Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đối ngoại đa phương, chủ động và tích cực đóng góp xây dựng, định hình các thể chế đa phương Đặc biệt, Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 5/11/2016 về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
Có thể thấy, quan điểm của Đảng ta về hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sáng tỏ, và cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả khi thực hiện hội nhập kinh
tế quốc tế
3 Những thành tựu cơ bản và hạn chế của hội nhập kinh tế quốc tế
3.1 Những thành tựu
Từ khi trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đến nay, tiến trinh chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng hơn, đạt được nhiều kết quả tích cực, khá toàn diện
Một là, thị trường quốc tế ngày càng được mở rộng, tranh thủ được khối
lượng lớn đầu tư, tri thức, công nghệ tiên tiến và các nguồn lực quan trọng khác, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt nhiều kết quả tích cực Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận không tách rời của nền kinh tế Việt Nam Đến nay, đã có hơn 26.500 dự án FDI
Trang 7đến từ 129 quốc gia và vùng lãnh thổ, cam kết đầu tư trên 334 tỷ USD vào Việt Nam Đến năm 2017, khu vực FDI chiếm gần 20% GDP; đóng góp 23,7% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội; trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp; 70% kim ngạch xuất khẩu; sử dụng gần 4 triệu việc làm trực tiếp và từ 5 - 6 triệu việc làm gián tiếp
Nhờ kinh tế đối ngoại được mở rộng và phát triển, khả năng hội nhập khu vực và thế giới được tăng cường, nên hoạt động xuất khẩu có bước phát triển vượt bậc
Trị giá xuất khẩu 10 nhóm hàng lớn nhất trong 10 tháng đầu năm 2018 (Nguồn: Tổng cục Hải quan)
Theo số liệu của Tổng cục Thống kế, nếu kim ngạch xuất khẩu hàng hoá năm 1992 chỉ có 2,58 tỷ USD, thì đến năm 2017 đã đạt tới 213,77 tỷ USD; 10 tháng năm 2018, tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam đã đạt 202,03 tỷ USD, tăng 15,2% tương ứng tăng 26,67 tỷ USD so với cùng thời gian năm 2017 Trước đà tăng trưởng đó, theo dự báo của Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của năm 2018 có thể đạt từ 237 239 tỷ USD, tăng khoảng 10 -12% so với cùng kỳ năm trước; xuất siêu đạt khoảng 2 tỷ USD
Hai là, góp phần xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng XHCN Nhiều luật liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế được sửa đổi,
bổ sung, ban hành mới Đến nay, đã hình thành hệ thống pháp luật tương đối
Trang 8đầy đủ, ngày càng minh bạch, tương thích và đáp ứng yêu cầu thực hiện các cam kết WTO
Nhiều thủ tục hành chính đã được cải cách một bước theo hướng công khai, minh bạch, tạo thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp, đạt mức ASEAN 5 vào cuối năm 2015 Hiệu quả đầu tư công từng bước được cải thiện,
tỷ trọng đầu tư công trong tổng đầu tư xã hội giảm dần, tỷ trọng đầu tư ngoài nhà nước tăng lên Kết quả là tỷ trọng đầu tư so với GDP giảm dần, hiệu quả đầu tư bước đầu được cải thiện thể hiện qua hệ số ICOR giảm dần, từ 6,96 giai đoạn 2006 - 2010 xuống còn 6,92 giai đoạn 2011 - 2015 Hệ số ICOR năm 2017 tiếp tục giảm, chỉ còn 4,93, thấp hơn so với năm 2016 là 5,15
Đã xây dựng và áp dụng một số biện pháp thương mại, hàng rào kỹ thuật, chủ động tiến hành một số vụ điều tra tự vệ, chống bán phá giá với hàng nhập khẩu phù hợp với quy định của WTO để bảo vệ thị trường, doanh nghiệp và người tiêu dùng
Ba là, tiềm lực kinh tế quốc gia được tăng cường, là cơ sở để tăng cường
tiềm lực quốc phòng an ninh Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần nâng cao vị thế kinh tế của đất nước, giúp nước ta chủ động tham gia các thoả thuận thương mại mới, tích cực đóng góp vào giải quyết các vấn đề chung của khu vực và thế giới cũng như tham gia xây dựng, định hình “luật chơi chung” tại các diễn đàn
đa phương
Bốn là, thông qua cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, mở rộng thương
mại, hợp tác lao động, thu hút đầu tư, du lịch, hội nhập kinh tế quốc tế góp phần nâng cao đời sống của nhân dân Nỗ lực giảm nghèo đạt nhiều thành tựu quan trọng, được quốc tế đánh giá cao Tại Hội nghị Liên hợp quốc ngày 11/11/2006, Việt Nam tuyên bố hoàn thành mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGS) về xóa nghèo, về đích trước 10 năm so với thời hạn (năm 2015) Tính theo chuẩn mới, đến năm 2017, tỷ lệ người nghèo giảm xuống còn 7%, giảm 1,3% so với năm
2016
3.2 Một số hạn chế
Trang 9Đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế chưa được các cấp, các ngành quán triệt đầy đủ, chậm cụ thể hóa và thế chế hóa; các đơn vị chưa nhận thức rõ, chủ động tận dụng các cơ hội, cũng như chưa thấy được thách thức mới nảy sinh để chủ động ứng phó
Chưa xác lập được một cách thật sự bền vững môi trường thuận lợi cho phát triển đất nước Quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng chưa
ổn định, còn tồn tại nhiều trở ngại trong phát triển quan hệ giữa nước ta với các nước đối tác lớn
Hiệu quả hoạt động đối ngoại trong một số trường hợp chưa được như mong muốn; việc triển khai thực hiện các kết quả, các thỏa thuận chưa kịp thời;
sự phối hợp giữa các cấp, các ngành còn chưa nhịp nhàng và đồng bộ
Hội nhập kinh tế quốc tế chưa gắn kết chặt chẽ với yêu cầu nâng cao hiệu quả, phát triển bền vững, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; chưa được tiến hành đồng bộ với quá trình gia tăng liên kết giữa các vùng, miền trong cả nước Cơ chế chỉ đạo, điều hành, giám sát và phối hợp quá trình hội nhập, từ Trung ương đến địa phương, giữa các ban, ngành còn nhiều bất cập
Hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội và một số lĩnh vực khác chưa đi vào chiều sâu, chưa gắn kết và tạo tác động tích cực đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; trong nhiều trường hợp còn bị động, lúng túng
4 Một số vấn đề đặt ra đối với hội nhập kinh tế quốc tế trong tình hình mới
Hội nhập quốc tế của nước ta, nhất là hội nhập kinh tế quốc tế đang chuyển sang một giai đoạn mới với cấp độ cao hơn và sâu rộng hơn khi tham gia những hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, đặt ra cho chúng ta nhiều vấn đề mới
Một là, sức ép cạnh tranh sẽ gay gắt hơn trên cả ba cấp độ quốc gia, doanh
nghiệp và sản phẩm do phải thực hiện những cam kết sâu rộng, tiêu chuẩn cao chưa từng có với thời gian chuyển đổi ngắn hơn so với WTO Dự báo những
Trang 10ngành, lĩnh vực đang được bảo hộ cao hoặc có sức cạnh tranh hạn chế như khu vực doanh nghiệp nhà nước, nông nghiệp, thép, ô tô, dược phẩm,… sẽ gặp bất lợi, thậm chí có thể thua lỗ, phá sản, ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập và đời sống của một bộ phận người lao động, nhất là nông dân và lao động giản đơn
Ví dụ, sau khi giảm thuế theo các thoả thuận kinh tế, thương mại mới, các mặt hàng hiện có thuế suất tương đối cao sẽ chịu áp lực cạnh tranh lớn từ hàng nhập khẩu của các nước như Úc, Niu Dilân (thịt bò, sữa), Canada, Tây Ban Nha, Đan Mạch (thịt lợn), Thái Lan (thịt gà, ô tô, hàng gia dụng…), Inđônêxia (ô tô)
…
Mặt khác, nhiều nước chủ động vận dụng các quy định của các FTA thế
hệ mới để xây dựng, tăng cường áp dụng những hàng rào kỹ thuật hết sức tinh vi nhằm hạn chế tác động bất lợi từ cam kết mở cửa thị trường sâu rộng, nổi bật là quy tắc xuất xứ (ROO), các biện pháp kiểm dịch và vệ sinh an toàn động thực vật (SPS),… Việc đáp ứng các quy định này hiện đang là vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, nhất là mặt hàng nông sản
Ví dụ, theo số liệu của Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông thôn, trong giai đoạn 2010 - 2015, thuỷ sản Việt Nam có 323 lô hàng không đảm bảo
an toàn thực phẩm tại thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc
Bên cạnh đó, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các hàng hoá có công đoạn sản xuất sử dụng lao động giản đơn và giá trị gia tăng thấp hiện đang là các lĩnh vực xuất khẩu chủ lực của Việt Nam (gia công, lắp ráp, dệt may,…) sẽ giảm dần lợi thế Do đó, cơ hội từ các FTA thế hệ mới đối với nhóm hàng có công đoạn này sẽ không kéo dài
Hai là, việc triển khai Cộng đồng kinh tế ASEAN theo hướng hình thành
một thị trường - một công xưởng chung và đặc biệt là thực thi các cam kết có tiêu chuẩn cao trong các FTA thế hệ mới là vấn đề đặt ra rất lớn đối với nước ta
về đổi mới, cải cách thể chế, pháp luật Những nội dung cam kết mới đối với nước ta như lao động, môi trường, mua sắm chính phủ, thương mại điện tử, quy định về mẫu mã, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đối với sản phẩm… có thể tạo ra những hệ luỵ phức tạp, nếu không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng