1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) bài THẢO LUẬN CHƯƠNG II VIỆC làm và đào tạo NGHỀ chị đỗ thị có phải hoàn trả toàn bộ chi phí đào tạo nghề theo yêu cầu của công ty h không

16 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Thảo Luận Chương II Việc Làm Và Đào Tạo Nghề Chị Đỗ Thị Có Phải Hoàn Trả Toàn Bộ Chi Phí Đào Tạo Nghề Theo Yêu Cầu Của Công Ty H Không
Người hướng dẫn ThS. Lê Ngọc Anh
Trường học Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Lao Động
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 96,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Nhìn chung các thành viên làm việc khá tích cực, chủ động tìm hiểu những vấn đề liên quan để đưa ra câu trả lời hoàn chỉnh và chính xác nhất; + Đã biết phân công công việc sao cho phù

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÀI THẢO LUẬN CHƯƠNG II VIỆC LÀM VÀ ĐÀO TẠO NGHỀ

Giảng viên: ThS Lê Ngọc Anh

Bộ môn: Luật Lao động

Khoa Các Chương trình đào tạo đặc biệt

Lớp: CLCQTL45(B) Nhóm: 4

Trang 2

Danh sách thành viên nhóm 4

1 Nguyễn Ngân Hà 2053401020045

2 Nguyễn Việt Hà 2053401020049

3 Phạm Trần Nguyên Khiêm 2053401020078

4 Nguyễn Huỳnh Khánh Linh 2053401020096

5 Nguyễn Uyên Phương 2053401020169

6 Đặng Thị Ngọc Tài 2053401020184

7 Ngô Minh Thùy 2053401020212

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ĐỘC LẬP- TỰ DO- HẠNH PHÚC

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 03 năm 2022

BÁO CÁO KẾT QUẢ CÔNG VIỆC

Về buổi thảo luận thứ nhất: Khái quát về quan hệ lao động Kính gửi: ThS Lê Ngọc Anh, giảng viên môn Luật Lao động lớp CLCQTL45(B) Nhóm chúng em là: Nhóm thảo luận số 4

Sau đây là báo cáo công việc của nhóm

1 Nội dung công việc thực hiện: - Bao gồm 2 tình huống chính

2 Thái độ và trách nhiệm của các thành viên:

- Về thái độ làm việc:

Trang 3

+ Nhìn chung các thành viên làm việc khá tích cực, chủ động tìm hiểu những vấn

đề liên quan để đưa ra câu trả lời hoàn chỉnh và chính xác nhất;

+ Đã biết phân công công việc sao cho phù hợp với từng người về thời gian và năng lực

+ Hòa đồng và thể hiện được sự tranh luận, đưa ra ý kiến để mọi người có thể tìm được câu trả lời phù hợp nhất;

- Về trách nhiệm:

+ Tất cả các thành viên đều nộp bài đúng thời hạn, đầy đủ về mặt nội dung và cách thức trình bày tốt;

+ Tham gia đầy đủ các buổi thảo luận nhóm, chưa ghi nhận trường hợp vắng thảo luận

3 Kết quả đạt được:

- Trả lời tất cả câu hỏi mà buổi thảo luận đưa ra;

- Hoàn thành bài thảo luận được giao và nộp bài cho lớp trưởng đúng hạn

1 Nguyễn Ngân Hà Vấn đề 2.1 A

2 Nguyễn Việt Hà Vấn đề 1 A

3 Phạm Trần Nguyên Khiêm Vấn đề 2.3 A

4 Nguyễn Huỳnh Khánh Linh Vấn đề 2.2 A

5 Nguyễn Uyên Phương Vấn đề 1 A

6 Đặng Thị Ngọc Tài Vấn đề 2.3 A

Trang 4

Danh mục từ ngữ viết tắt

BLLĐ: Bộ luật Lao động

BLDS: Bộ luật Dân sự

UBND: Uỷ ban nhân dân

CHƯƠNG II VIỆC LÀM VÀ ĐÀO TẠO NGHỀ MỤC LỤ

C

1 Tình huống 1: 5

Chị Đỗ Thị có phải hoàn trả toàn bộ chi phí đào tạo nghề theo yêu cầu của Công ty H không? Vì sao? 5

2 Tình huống 2: 8

1 Thỏa thuận bảo lãnh và phạt vi phạm trong vụ việc trên đây là đúng hay trái pháp luật? Vì sao? 10

2.1 Xác định các trường hợp người học nghề, người lao động phải chịu trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo? 12

2.2 Giả sử anh Văn hoàn thành khóa đào tạo và sau khi đã làm việc được 35% tổng thời gian cam kết làm việc theo hợp đồng đào tạo thì anh Văn chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật Vậy, anh Văn phải chịu trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo như thế nào? 13

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 5

II BÀI TẬP TÌNH HUỐNG:

1 Tình huống 1 1 :

Ngày 04/11/2013, chị Đỗ Thị vào làm việc tại Công ty H theo hợp đồng lao động

có thời hạn 01 năm Từ ngày 10/5/2014 đến 02/8/2014, chị Đỗ Thị được Công ty H đưa

đi đào tạo nghề tại Trung tâm kiểm nghiệm chất lượng gang thép Vũ Hán, Trung Quốc Trước khi đi đào tạo, ngày 31/3/2014, chị Đỗ Thị đã ký “Bản cam kết” với nội dung sau khi kết thúc khóa đào tạo chị Đỗ Thị sẽ làm việc cho Công ty H trong thời hạn 03 năm

kể từ ngày 31/3/2014, nếu không làm việc đủ thời hạn này thì chị Đỗ Thị phải hoàn trả toàn bộ chi phí đào tạo cho Công ty Sau khi được đào tạo nghề, chị Đỗ Thị tiếp tục làm việc tại Công ty H đến ngày 11/8/2015 thì chị Đỗ Thị xin nghỉ việc và được Công ty đồng ý Trước khi nghỉ việc, chị Đỗ Thị và Công ty H đã ký kết “Giấy cam kết phân kỳ hoàn trả chi phí đào tạo do vi phạm cam kết đào tạo”, theo đó chị Đỗ Thị phải hoàn trả cho Công ty H chi phí đào tạo (sau khi đã khấu trừ thời gian chị Đỗ Thị làm việc cho Công ty) với số tiền là 209.997.076 đồng, trong đó có khoản học phí là 117.137.885 đồng Sau khi hoàn trả cho Công ty H được 3 đợt, chị Đỗ Thị

dừng việc hoàn trả với lý do không chấp nhận khoản học phí như Công ty H đã yêu cầu Công ty H khởi kiện yêu cầu chị Đỗ Thị phải hoàn trả cho Công ty toàn bộ số tiền chi phí đào tạo nghề

Hỏi:

Chị Đỗ Thị có phải hoàn trả toàn bộ chi phí đào tạo nghề theo yêu cầu của Công ty

H không? Vì sao?

Từ Bản án đang nghiên cứu, chúng ta có thể thấy hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ của chị Đỗ Thị là hành vi thuộc về phía của người lao động, Bộ Luật lao động

2019 đã có quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động Song quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của người lao động chỉ được xem là hợp pháp khi thỏa mãn những điều kiện, thuộc một trong những trường hợp được Bộ luật Lao động năm 2019 quy định tại Điều 35, tuy nhiên có thể thấy, trường hợp của chị

1 Bản án số 01/2017/LĐ-ST ngày 07/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

Trang 6

Đỗ Thị không nằm trong những trường hợp này “Nghiên cứu quy định luật thực định về chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật cho thấy, hầu hết các trường hợp chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật được đặt ra trong trường hợp chấm dứt HĐLĐ theo ý chí của một bên trong QHLĐ này Về mặt logic, hai bên đã cam kết với nhau những quyền và nghĩa vụ trong QHLĐ thì họ có nghĩa vụ phải thực hiện cam kết đó, việc từ bỏ cam kết chỉ được thực hiện trong phạm vi giới hạn pháp luật cho phép.”2

Trong bản án này, chị Đỗ Thị đã đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật vì vào ngày 31-3-2014 chị đã kí với công ty H “Bản cam kết” với nội dung rằng sau khi kết thúc khóa đào tạo chị Đỗ Thị sẽ làm việc cho Công ty H trong thời hạn 03 năm kể từ ngày 31/3/2014, nếu không làm việc đủ thời hạn này thì chị Đỗ Thị phải hoàn trả toàn

bộ chi phí đào tạo cho Công ty H Tuy nhiên, sau khi đã được Công ty H đưa đi đào tạo nghề tại Trung tâm kiểm nghiệm gang thép Vũ Hán, Trung Quốc và về nước tiếp tục làm việc cho Công ty H, vì hoàn cảnh gia đình nên chị đã làm thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động Chị là NLĐ đã đơn phương chấm dứt HĐLĐ nên căn cứ theo khoản 3 Điều 40 BLLĐ năm 2019: “Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này” Về vấn đề chi phí đào tạo, khoản 3 Điều 62 quy định như sau: “Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người học trong thời gian đi học Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian đào tạo” Từ đó, chúng ta có thể thấy, chị Đỗ Thị phải có nghĩa vụ hoàn trả toàn bộ chi phí đào tạo cho công ty H nếu Công ty đưa ra đầy đủ giấy tờ, thủ tục chứng minh rằng bên phía Công ty đã chi trả với số tiền là 209.997.076 đồng (sau khi đã khấu trừ thời gian chị Đỗ Thị đã làm cho công ty) và trong đó có số tiền 117.137.885 đồng

Công ty H đã xuất trình những giấy tờ bao gồm: Hợp đồng mang tên “Thư hợp đồng công trình” có quy định Công ty TNHH kỹ thuật công trình Phương Nam Trung Quốc; văn bản “Về việc xác nhận học phí của chị Đỗ Thị”; bản “Phụ lục – Danh sách đi đào tạo tại Công ty gang thép Vũ Hán”; bản “Chi tiết báo giá dịch vụ tư vấn kỹ thuật và

2 Bounpasith Khamphila; TS Vũ Thị Thu Hiền hướng dẫn, Chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định của Luật Lao động Lào năm 2013 và Bộ luật Lao động Việt Nam năm 2019 dưới góc độ so sánh, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.15.

6

Trang 7

thiết kế công trình đơn vị kiểm hóa nghiệm” và “Giấy cam kết phân kỳ hoàn trả chi phí đào tạo do vi phạm cam kết đào tạo” Sau khi xem xét những tài liệu và chứng cứ do Công ty H xuất trình, và cũng xem xét các nhận định của Toà án, chúng tôi thấy rằng: Trong 08 khoản chi phí đào tạo nghề mà công ty H nêu ra, chỉ có 7 khoản chi có hợp đồng với bên nhận đào tạo hoặc có hóa đơn chứng từ đầy đủ, trong khi khoản chi học phí nhiều hơn 07 khoản kia cộng lại Số tiền học phí là rất lớn nhưng phía Công ty lại không xuất trình minh bạch được đầy đủ hợp đồng hay hóa đơn chứng từ về việc đã chi trả số tiền trên thế nên căn cứ theo khoản 3 Điều 62 đã nêu trên, chúng ta có thể thấy, nếu đánh giá khoản học phí này nằm trong chi phí đào tạo mà chị Đỗ Thị phải hoàn trả thì vẫn chưa thực sự thuyết phục do chưa đáp ứng đủ điều kiện về “chứng từ hợp lệ” để được xem là một khoản chi phí đào tạo theo quy định của pháp luật Khi cung cấp thêm chứng cứ là tại phần “Phạm vi công việc” của “Thư hợp đồng công trình” giữa Công ty

H và Công ty Phương Nam Trung Quốc thì nội dung đó chỉ nêu chung chung, không chỉ

rõ được chi phí đào tạo nghề cụ thể là bao nhiêu, bên nào phải chịu, nơi đào tạo nghề, cũng như là thời gian đào tạo… Bên cạnh đó, khi xem xét “Thư hợp đồng công trình” thì tổng giá trị của hợp đồng là 101.611.811.685 đồng, tỷ giá hối đoái 1USD = 20.833 VND, nhưng trong văn bản “Về việc xác nhận học phí của chị Đỗ Thị” của Công ty Phương Nam Trung Quốc thì Công ty H đã thanh toán tổng số tiền học phí là 177.408.000 đồng trong vòng 60 ngày, theo tỷ giá hối đoái ngày 9/4/2014 của ngân hàng Vietcombank thì 1USD=21.120 VND Có thể thấy rằng, mặc dù đã xuất trình nhiều giấy

tờ chứng minh về chi phí đào tạo nghề cũng như khoản học phí của chị Đỗ Thị nhưng những chứng cứ mà Công ty H đưa ra vẫn còn rất nhiều mâu thuẫn và chưa thực sự thuyết phục để đòi chị Đỗ Thị hoàn trả toàn bộ số tiền về chi phí đào tạo nghề với khoản học phí là 117.137.885 đồng Chính vì vậy, chị Đỗ Thị chỉ hoàn trả chi phí đã thống nhất giữa chị và Công ty H bao gồm: Phí bảo hiểm tai nạn con người; phí công tác; phí visa; phí vé máy bay; phí ăn; phí ở và phí giao thông trong thời gian đào tạo với tổng số tiền chi sau khi đã khấu trừ thời gian chị Đỗ Thị đã làm việc tại công ty là 92.859.191 đồng Trong đó, chị đã hoàn trả được 35.000.000 đồng, chỉ còn phải hoàn trả số tiền là 57.859.191 đồng

Trang 8

2 Tình huống 23:

Ngày 08/02/2017, Công ty L đã ký với anh Văn hợp đồng lao động số VH000315/2017 xác định thời hạn 01 năm (kể từ ngày 08/02/2017 đến ngày 07/02/2018), với vị trí kỹ thuật viên sản xuất Cell tại L.Display

Để anh Văn nắm bắt được chuyên môn và gắn bó với lâu dài với L Display; ngày 25/02/2017, Công ty L đã ký với anh Văn hợp đồng đào tạo số VH000315/2017- ĐT, với nội dung: Công ty L tổ chức để anh Văn sang thành phố Gumi Hàn Quốc học khóa đào tạo kỹ thuật trong thời hạn 47 ngày Công ty L lo thủ tục và chịu trách nhiệm chi trả mọi chi phí cho anh Văn tham gia khóa học (bao gồm: Chi phí tổ chức khóa học; vé máy bay; phụ cấp lưu trú, công tác phí; chi phí đi lại; lệ phí visa, hộ chiếu ; tiền thuê khách sạn, nhà nghỉ; tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong thời gian đào tạo) Anh Văn có nghĩa vụ phải tham gia đầy đủ và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của khóa đào tạo; tự thanh toán mọi chi tiêu cá nhân ngoài các khoản mà Công

ty L đã hỗ trợ như trên Anh Văn có trách nhiệm hoàn trả cho Công ty L chi phí đào tạo khi không hoàn thành khóa đào tạo vì bất kỳ lý do nào hoặc đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động trong thời gian đào tạo, không đảm bảo thời gian làm việc cho Công

ty L như cam kết…

Để đảm bảo cho các Hợp đồng lao động và Hợp đồng đào tạo nêu trên; ngày 01/3/2017, ông Hoàng là bố đẻ của anh Văn đã ký với Công ty L cam kết bảo lãnh của gia đình cho anh Văn Trong đó, ông Hoàng cam kết:

- Anh Văn sẽ thực hiện đầy đủ nội dung của hợp đồng đào tạo và chính sách của Công ty L liên quan đến đào tạo; cam kết hoàn trả chi phí đào tạo và chi phí bồi thường cho Công ty L thay cho anh Văn trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Công ty L về việc anh Văn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ hoàn trả chi phí đào tạo

và chi phí bồi thường liên quan theo hợp đồng đào tạo

- Trả một khoản tiền phạt tương đương 195.144.999đ cho Công ty L trong trường hợp anh Văn trốn ở lại nước ngoài trong và sau thời gian đào tạo; số tiền phạt nêu trên

3 Bản án số 01/2017/TLST-LĐ ngày 21 tháng 6 năm 2017 về tranh chấp học nghề theo Quyết định đưa vụ án

ra xét xử số 698/2017/QĐXXST-LĐ ngày 22 tháng 8 năm 2017.

8

Trang 9

sẽ trả cho Công ty L trong thời hạn 10 ngày, kể từ khi nhận được thông báo về việc anh Văn trốn ở lại nước ngoài

Thực hiện Hợp đồng Đào tạo số VH000315/2017-ĐT nói trên, Công ty L đã lo mọi thủ tục để anh Văn được cấp thị thực nhập cảnh vào Hàn Quốc trong thời hạn 02 tháng Ngày 13/3/2017, Công ty L đã tổ chức đưa đoàn người lao động Việt nam sang Hàn Quốc để theo học khóa đào tạo Anh Văn đã nhập cảnh vào Hàn Quốc qua cửa khẩu sân bay quốc tế Incheon Vào hồi 19h30 ngày 13/3/2017, khi tới sân bay Incheon, anh Văn đã tách khỏi đoàn và không trở lại Hiện tại, anh Văn đang cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc Mặc dù đã được nhiều đồng nghiệp công tác tại Công ty L khuyên nhủ nhưng anh Văn đã trao đổi và nhắn tin cho họ cũng như gia đình là không trở lại theo học khóa đào tạo do Công ty L tổ chức

Dự trù chi phí cho anh Văn theo khóa học bao gồm: Chi phí làm hộ chiếu 200.000đ, chi phí cấp thị thực là 450.000đ, vé máy bay là 12.375.000đ, tiền ký túc xá là 16.638.783đ, chi phí đi lại bằng xe bus là 1.691.924đ, chi phí ăn uống là 11.253.868đ, chi phí giảng viên là 105.486.852đ, phòng đào tạo là 489.694đ, tiền tài liệu là 772.400đ, tiền công tác phí là 35.392.500đ, tiền lương là 8.519.645đ, tiền đóng bảo hiểm là 1.874.324đ; tổng cộng là 195.144.999đ

Thực tế, Công ty L đã chi để anh Văn theo học khóa học nghiệp vụ tại Hàn Quốc gồm các khoản: Chi phí tại Việt Nam gồm: Chi phí cấp visa là 450.000đ, tiền vé máy bay là 14.440.932đ, tiền tạm ứng công tác phí mà anh K đã nhận là 17.707.500đ; tổng cộng là 32.598.432đ

Chi tại Hàn Quốc cho 21 người theo khóa học là 2.787.829.113đ; bình quân chi phí cho mỗi người là 132.753.767đ (trong đó chi phí cho 21 người tiền ký túc xá là 349.414.450đ, tiền thuê xe bus để đi lại là 35.530.400đ, chi phí giảng viên là 2.378.026.500đ, tiền phòng đào tạo là 8.637.363đ, tiền tài liệu là 16.220.400đ)

Tổng cộng các khoản mà Công ty L đã chi để anh Văn theo học các khóa học chuyên môn tại Hàn Quốc là 165.352.199đ

Công ty L yêu cầu anh Văn phải trả 100% chi phí đào tạo là 165.352.199đ; trong trường hợp anh Văn không trả được thì ông Hoàng và bà Phạm phải trả thay số tiền

Trang 10

trên Ông Hoàng và bà Phạm phải trả khoản tiền phạt là 195.144.999đ Kể từ ngày 28/4/2017 đến ngày xét xử sơ thẩm, anh Văn phải trả lãi của số tiền chi phí đào tạo theo mức lãi suất 20%/năm

Ông Hoàng và bà Phạm đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, nhiều lần tống đạt giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng

cứ, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; nhưng ông Hoàng và bà Phạm đều không giao nộp chứng cứ và đều không có mặt theo triệu tập của Tòa án

Hỏi:

1 Thỏa thuận bảo lãnh và phạt vi phạm trong vụ việc trên đây là đúng hay trái pháp luật? Vì sao?

Về vấn đề thỏa thuận bảo lãnh

Trên phương diện thực tế, theo Điều 335 Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định như sau: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ” Thuật ngữ “sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ” trong quy định này có thể hiểu bên bảo lãnh có trách nhiệm thực hiện một công việc nhất định vốn là nghĩa vụ của bên được bảo lãnh trước bên nhận bảo lãnh nếu đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng Công việc mà bên bảo lãnh phải thực hiện trước bên nhận bảo lãnh bao gồm: việc trả tiền, giấy tờ có giá; chuyển giao vật, chuyển giao quyền (gọi chung là chuyển giao tài sản); hoặc có thể là thực hiện một công việc cụ thể nào đó tuỳ thuộc vào nội dung của nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp bảo lãnh đó cũng có thể dựa trên sự thỏa thuận giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh

Khoản 2 Điều 335 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau: “Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh” khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định: “Nghĩa vụ có thể được

10

Ngày đăng: 30/11/2022, 14:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ luật Lao động 10/2012/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 18 tháng 06 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Lao động 10/2012/QH13
Năm: 2012
2. Luật Giáo dục nghề nghiệp 74/2014/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục nghề nghiệp 74/2014/QH13
Năm: 2014
3. Bộ Luật Dân sự 91/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật Dân sự 91/2015/QH13
Năm: 2015
4. Bộ luật Lao động 45/2019/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2019.Danh mục tài liệu tham khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Lao động 45/2019/QH14
Năm: 2019
1. Bounpasith Khamphila; TS. Vũ Thị Thu Hiền hướng dẫn, Chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định của Luật Lao động Lào năm 2013 và Bộ luật Lao động Việt Nam năm 2019 dưới góc độ so sánh, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.13, 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định của Luật Lao động Lào năm 2013 và Bộ luật Lao động Việt Nam năm 2019 dưới góc độ so sánh
Tác giả: Bounpasith Khamphila
Nhà XB: Trường Đại học Luật Hà Nội
2. Nguyễn Hữu Chí, Trần Thị Thuý Lâm; Đỗ Ngân Bình, Giáo trình Luật Lao động Việt Nam. Trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2020, Chương I và II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Lao động Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Chí, Trần Thị Thuý Lâm, Đỗ Ngân Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 2020
3. Trần Hoàng Hải, Lê Thị Thuý Hương, Bùi Thị Kim Ngân, Giáo trình Luật Lao động, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Hồng Đức năm 2013, Chương I và II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Lao động
Tác giả: Trần Hoàng Hải, Lê Thị Thuý Hương, Bùi Thị Kim Ngân
Nhà XB: nhà xuất bản Hồng Đức
Năm: 2013
4. Nguyễn Văn Khánh; PGS. TS. Phạm Văn Tuyết hướng dẫn, Bảo lãnh theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo lãnh theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015
Tác giả: Nguyễn Văn Khánh
Nhà XB: Trường Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2015
5. Nguyễn Duy Lãm, Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng, Nhà xuất bản Giáo dục năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng
Tác giả: Nguyễn Duy Lãm
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2001

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w