1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

7 13 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt động môi giới thương mại theo pháp luật Việt Nam
Tác giả Lê Phạm Hoàng Phát, Phan Lê Khánh Trang, Bùi Thị Yến Nhi, Trần Nguyễn Thuận Khang, Nguyễn Đức Tài Khoa
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Xuân Bang
Trường học Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật
Thể loại Bài viết
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 451,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2425 HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM Lê Phạm Hoàng Phát, Phan Lê Khánh Trang, Bùi Thị Yến Nhi, Trần Nguyễn Thuận Khang, Nguyễn Đức Tài Khoa Luật, Trường Đại học Công nghệ Tp Hồ C.

Trang 1

HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT

VIỆT NAM

Lê Phạm Hoàng Phát, Phan Lê Khánh Trang, Bùi Thị Yến Nhi,

Trần Nguyễn Thuận Khang, Nguyễn Đức Tài

Khoa Luật, Trường Đại học Công nghệ Tp Hồ Chí Minh

GVHD: TS Nguyễn Xuân Bang

TÓM TẮT

Trong quá trình mua bán hàng hóa, để các bên gặp và trao đổi thông tin cần có hoạt động môi giới thương mại với vai trò như “con đò” để các bên đến giao kết hợp đồng Hoạt động này gần đây phát triển nhanh chóng trong nhiều lĩnh vực nhưng pháp Luật lại không theo kịp với tiến trình đó dẫn tới những bất cập trong thực tiễn khi có những vụ việc liên quan đến môi giới thương mại xảy ra Chính vì thế, bài viết phân tích cụ thể về hoạt động môi giới thương mại và đề ra các biện pháp khắc phục cho những khoảng trống của pháp Luật điều chỉnh vấn đề này

Từ khóa: bất cập, giao kết, môi giới thương mại, pháp Luật

1 Những vấn đề chung về hoạt động Môi giới thương mại

a Khái niệm

Một trong những hoạt động trung gian thương mại phổ biến hiện nay là môi giới thương mại Môi giới thương mại lần đầu tiên được quy định trong Luật Thương Mại 199724, sau đó tiếp tục được quy định và hoàn thiện

hơn trong Luật thương mại 2005: “Môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân

làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi

giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng

môi giới”.25 Như vậy, môi giới thương mại là hoạt động thương mại mà một thương nhân thực hiện việc tìm kiếm đối tác, cung cấp các thông tin cần thiết về đối tác cho bên được môi giới, sau đó giới thiệu hàng hóa, dịch vụ cần môi giới và cuối cùng đóng vai trò như một cầu nối để các bên được môi giới có thể tiến đàm phán, thỏa thuận giao kết hợp đồng

b Đặc điểm của hoạt động môi giới thương mại

24 Ngô Thúy Hoài (2010), “Những quy định của Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 về môi giới thương mại thực tiễn

áp dụng và những vấn đề đặt ra”,trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội

25 Điều 150 Luật Thương mại 2005

Trang 2

Thứ nhất, về chủ thể của môi giới thương mại Theo quy định của Luật Thương mại thì môi giới thương mại

có hai chủ thể chính là bên môi giới và bên được môi giới, trong đó bên môi giới bắt buộc phải là thương nhân nhưng không nhất thiết phải có ngành nghề kinh doanh trùng với ngành nghề kinh doanh của bên được môi giới Ngược lại, bên được môi giới không bắt buộc phải là thương nhân

Thứ hai, về hình thức pháp lý của hợp đồng môi giới thương mại Trong hoạt động môi giới thương mại không

phải lúc nào bên được môi giới cũng đều phát sinh quan hệ môi giới với bên môi giới mà chỉ khi bên được môi giới ký kết hợp đồng môi giới với bên môi giới thì khi ấy hai bên mới phát sinh quan hệ môi giới Chính vì vậy, việc quy định về hình thức pháp lý của hợp đồng môi giới thương mại cũng được xem là một trong những đặc điểm của môi giới thương mại Hiện nay, Luật Thương mại không có quy định cụ thể về hình thức pháp lý

của hợp đồng môi giới thương mại, tuy nhiên Luật có quy định về quyền hưởng thù lao môi giới: “Trừ trường

hợp có thỏa thuận khác, quyền hưởng thù lao môi giới phát sinh từ thời điểm các bên được môi giới đã ký hợp đồng với nhau” 26

Như vậy có thể hiểu để có thể phát sinh quyền hưởng thù lao môi giới thì hợp đồng môi giới

thương mại phải thành lập dưới hình thức là văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

Thứ ba, về nội dung của hoạt động môi giới thương mại Khác với các hoạt động thương mại khác thì nội dung

của hoạt động môi giới thương mại rất rộng, được hiểu là hoạt động thương mại mà trong đó một thương nhân thực hiện việc tìm kiếm đối tác, cung cấp các thông tin cần thiết về đối tác cho bên được môi giới, sau đó tiến hành các hoạt động giới thiệu hàng hóa, dịch vụ cần môi giới và cuối cùng đóng vai trò như một cầu nối để các bên được môi giới có thể tiến đàm phán, thỏa thuận giao kết hợp đồng Ngoài ra, bên môi giới còn phải giúp

đỡ các bên được môi giới soạn thảo hợp đồng khi có yêu cầu

Thứ tư, về phạm vi của hoạt môi giới thương mại Hoạt động môi giới thương mại bao gồm nhiều hoạt động

khác nhau Tuy nhiên những quy định về môi giới thương mại được quy định trong Luật thương mại 2005 chỉ dừng lại ở mức độ là những quy định mang tính nguyên tắc, đối với các quy định trong từng lĩnh vực cụ thể thì được các Luật chuyên ngành quy định Do đó, có thể hiểu một cách khái quát về phạm vi của hoạt động môi giới thương mại là bao gồm các hoạt động có mục đích kiếm lợi nhuận

Thứ năm, về mục tiêu của hoạt động môi giới thương mại Mục tiêu của môi giới thương mại là hướng đến

việc các bên được môi giới giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ với nhau Mục tiêu của bên môi giới

là được quyền hưởng thù lao môi giới hay nói cách khác là tìm kiếm được lợi nhuận từ hoạt động môi giới thương mại

2 Thực trạng về môi giới thương mại

a Quy định của pháp Luật về Môi giới thương mại:

26 Khoản 1 Điều 153 Luật Thương mại 2005

Trang 3

Luật thương mại 2005 quy định một cách tương đối cụ thể về hoạt động môi giới thương mại tại Mục 2, Chương

V, từ Điều 150 đến Điều 154 Ngoài ra, quy định về thương nhân môi giới mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa được quy định tại Điều 69, Điều 70, Điều 71 Mục 3, Chương II Đối với nghĩa vụ của bên môi giới thương mại và bên được môi giới thương mại, quyền hưởng thù lao môi giới và việc thanh toán các chi phí liên quan phát sinh trong hoạt động môi giới thương mại cũng được Luật quy định

Căn cứ theo quy định tại Điều 151 Luật thương mại 2005, “Bên môi giới thương mại có các nghĩa vụ sau đây, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác:

- Bảo quản mẫu hàng hóa, tài liệu được giao để thực hiện việc môi giới và phải hoàn trả cho bên được môi giới sau khi hoàn thành nghĩa vụ môi giới;

- Không được tiết lộ, cung cấp thông tin làm phương hại đến lợi ích của bên được môi giới;

- Chịu trách nhiệm về tư cách pháp lý của các bên được môi giới, nhưng không chịu trách nhiệm về khả năng thanh toán của họ;

- Không được tham gia thực hiện hợp đồng giữa các bên được môi giới, trừ trường hợp có ủy quyền của bên được môi giới.”

Theo đó, quy định về nghĩa vụ của bên môi giới thương mại như chỉ dừng lại ở mức độ khái quát mà chưa có tính cụ thể và rõ ràng Thực tế đã cho thấy việc kiểm soát bên môi giới có tiết lộ hoặc cung cấp thông tin gây bất lợi đến quyền và lợi ích của bên được môi giới hay không là điều rất khó kiểm soát Ví dụ, trong trường hợp bên được môi giới cho rằng bên môi giới đã cung cấp các thông tin gây bất lời đến mình cho bên được môi giới khác, vậy trong trường hợp này đâu là căn cứ để xác định thông tin mà bên môi giới cung cấp là thông tin gây bất lợi cho bên được môi được môi giới nếu như bên môi giới cho rằng đó không phải thông tin gây bất lợi cho bên được môi giới?

Bên cạnh đó, bên môi giới có nghĩa vụ chịu trách nhiệm về tư cách pháp lý của bên được môi giới mà không phải chịu trách nhiệm về khả năng thanh toán của bên được môi giới Tuy nhiên trên thực tế quá quá trình đàm phán, thỏa thuận các điều kiện giao dịch thường được tiến hành thông qua người môi giới, các bên được môi giới thường chỉ gặp gỡ nhau vào khi các điều kiện giao dịch cơ bản đã được thống nhất Điều này có thể gây bất lợi cho bên bán trong việc kiểm tra khả năng thanh toán của bên mua

Tương tự như đối với nghĩa vụ của bên môi giới thương mại, bên được môi giới cũng có nghĩa vụ cung cấp các thông tin, tài liệu, phương tiện cần thiết liên quan đến hàng hóa, dịch vụ và trả thù lao môi giới cùng các chi phí hợp lý khác cho bên môi giới.27

27 Điều 152 Luật thương mại 2005

Trang 4

Có thể thấy, bên được môi giới không chỉ có nghĩa vụ phải trả thù lao cho bên môi giới khi việc môi giới được giao kết thành công mà kể cả khi hợp đồng giữa bên được môi giới và bên thứ ba không được ký kết bên được môi giới vẫn phải thanh toán các chi phí phát sinh hợp lý liên quan đến việc môi giới, trừ trường hợp có thỏa thuận khác28 Theo đó, cho dù kết quả của việc môi giới không thành công thì bên môi giới vẫn chắc chắn thu hồi được những chi phí phát sinh hợp lý trong quá trình môi giới mà họ đã bỏ ra để thực hiện công việc môi giới Vậy thế nào là chi phí phát sinh hợp lý? Căn cứ nào để xác định đâu là chi phí phát sinh hợp lý? Những vấn đề này thì Luật thương mại 2005 hoàn toàn không quy định cụ thể dẫn đến cách hiểu thế nào là các chi phí phát sinh hợp lý sẽ phụ thuộc vào bên môi giới, bên được môi giới và người giải quyết tranh chấp nếu xảy ra tranh chấp

b Những khó khăn, vướng mắc trong áp dụng pháp Luật về môi giới thương mại

Thứ nhất, quy định về thù lao môi giới và chi phí môi giới chưa hợp lý:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 153 Luật thương mại 2005 thì quyền được hưởng thù lao của bên môi giới phát sinh kể từ thời điểm các bên được môi giới đã ký hợp đồng với nhau, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

Bên cạnh đó, kể cả khi bên được môi giới và bên thứ ba không ký được hợp đồng với nhau thì bên được môi

giới vẫn phải thanh toán các chi phí phát sinh hợp lý liên quan đến việc môi giới theo quy định tại Điều 154 Luật Thương mại 2005

Như đã nêu ở trên thì quy định về “chi phí phát sinh hợp lý” là một quy định không mang tính cụ thể và rõ ràng, việc xác định như thế nào là chi phí phát sinh hợp lý cũng cũng không dễ để xác định Trong thực tế việc bên môi giới tiến hành thực hiện các hoạt động môi giới thì phải chịu một số chi phí nhất định Do đó, rất khó

để xác định đâu là chi phí đã được bên môi giới bỏ ra để phục vụ một khách hàng cụ thể, điều này càng khó xác định hơn khi việc môi giới không mang lại kết quả, cụ thể là trong trường hợp này bên được môi giới không

có lợi thế như bên môi giới trong việc xác định “chi phí hợp lý”, bởi lẽ bên môi giới mới là bên trực tiếp tiền hành các hoạt động để tạo ra các chi phí đó

Mặc khác, việc quy định bên được môi giới phải thanh toán các chi phí phát sinh hợp lý cho bên môi giới dù

kết quả của việc môi giới có thành công hay không đã giúp bảo vệ quyền lợi cho bên môi giới một cách khách quan nhất tuy nhiên lại có thể tạo ra kẽ hở cho bên môi giới thực hiện hoạt động môi giới thương mại một cách thiếu trách nhiệm

Thứ hai, quy định về hình thức của hợp đồng môi giới chưa rõ ràng:

Luật thương mại 2005 không có quy định cụ thể về hợp đồng môi giới thương mại phải được xác lập dưới hình thức bằng văn bản hay các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương Như vậy có thể hiểu, hợp đồng môi

28 Điều 154 Luật thương mại 2005

Trang 5

giới thương mại có thể được thể hiện dưới hình thức bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể Tuy nhiên đối với các hoạt động môi giới trong các lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm, bất động sản,…sẽ có Luật chuyên ngành điều chỉnh như Luật chứng khoán năm 2019 (khoản 4, Điều 89), Luật kinh doanh bất động sản năm 2014 (khoản 2, Điều 17) và hoạt động này yêu cầu hợp động môi giới phải được thành lập bằng văn bản

Bên cạnh đó, Thương mại điện tử đang ngày càng phát triển kéo theo đó làm gia tăng tính đa dạng trong các hình thức môi giới thương mại vì khi các bên sử dụng thương mại điện tử để giao tiếp thì trong quá trình trao đổi thông tin, hay việc đồng ý hay không đồng ý việc môi giới đều thông qua phương tiện điện tử mà không có bất kì văn bản có giá trị pháp lý nào, điều này dẫn đến xuất hiện những rủi ro cho các bên khi hợp đồng môi giới được lập bằng hình thức phi văn bản.29

Theo quy định của Luật Thương mại 2005 so với thời điểm hiện tại mặc dù còn phù hợp nhưng lại quá chung chung vì ngoài những lĩnh vực có Luật chuyên ngành giải thích, quy định cụ thể về hình thức hợp đồng bằng văn bản, còn lại đối với các vấn đề khác thì có thể là phi văn bản; Trong khi hợp đồng là một trong những cơ

sở quan trọng để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động môi giới thương mại Vì thế khi xảy ra tranh chấp sẽ rất khó tìm được cơ sở vững chắc để giải quyết gây khó khăn và lúng túng cho cơ quan có thẩm quyền khi áp dụng các điều khoản Luật Đặc biệt, tình huống sẽ càng phức tạp hơn nếu một bên trong quan hệ môi giới thương mại không phải là thương nhân sẽ gây bất lợi cho họ

3 Kiến nghị hoàn thiện áp dụng quy định pháp Luật về môi giới thương mại

Hoạt động môi giới thương mại ở thị trường Việt Nam vẫn chưa thật sự chuyên nghiệp và vẫn đang còn tồn tại khá nhiều bất cập, vướng mắc khi áp dụng các quy định của pháp Luật về môi giới thương mại vào thực tiễn

xã hội Chính vì vậy, việc xây dựng một quy định pháp Luật về việc hợp đồng môi giới thương mại phải được xác lập dưới hình thức bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương vừa để tạo cơ sở vững chắc cho việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động môi giới thương mại, vừa đảm bảo được quyền lợi của các bên tham gia một cách triệt để nhất

Khi tham gia vào hoạt động môi giới thương mại, các bên cần phải chuẩn bị cho bản thân những kiến thức pháp

lý cần thiết bằng việc tìm hiểu kĩ các văn bản pháp lý chung và các văn bản chuyên ngành có liên quan để tránh dẫn tới tình trạng trong quá trình tham gia có sự mập mờ làm xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của các bên Pháp Luật đặt ra để điều chỉnh những vấn đề mang tính chung và phổ biến nên việc không thể theo kịp với tiến

độ phát triển của xã hội là việc hoàn toàn bình thường; Chính vì thế, đối với các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức hoạt động theo loại hình môi giới thương mại cần xây dựng cho mình những quy định, quy chế quản lý nội bộ trong quá trình hoạt động của mình để phòng ngừa những rủi ro dẫn tới xung đột giữa các bên

29 https://nld.com.vn/kinh-te/diem-mo-trong-moi-gioi-kinh-doanh-tren-mang-20211121204225954.htm, tham khảo ngày 17/04/2022

Trang 6

Ngoài ra, Luật thương mại 2005 cần phải làm rõ thế nào là chi phí phát sinh hợp lý trong quá trình thực hiện hoạt động môi giới thương mại, cũng như cách xác định chi phí phát sinh hợp lý Để hạn chế tình trạng bên môi giới không có trách nhiệm khi thực hiện các hoạt động môi giới thương mại thì Luật nên xem xét lại quy định bên môi giới được quyền nhận thù lao môi giới và chi phí phát sinh hợp lý trong hoạt động môi giới khi việc môi giới không thành công Có thể kể đến các chi phí cho nhân sự khi tham gia, thời gian, các nguyên, nhiên vật liệu của bên mô giới Bên cạnh đó, Luật cần nên bổ sung các quy định về trường hợp loại trừ quyền hưởng thù lao của bên môi giới Điều này sẽ giúp các bên khi tham gia vào quan hệ môi giới thương mại sẽ có trách nhiệm hơn khi thực hiện các hoạt động môi giới thương mại và bảo đảm được quyền và lợi ích của các bên

KẾT LUẬN

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, các hoạt động thương mại ở nước ta ngày càng phát triển phong phú và đa dạng Các giao dịch thương mại từ đó cũng được mở rộng, trở nên phức tạp Lúc đó, bên mua và người bán vừa muốn tiết kiệm thời gian, công sức để tìm kiếm đối tác giao dịch vừa muốn đáp ứng được những lợi ích mà họ đề ra thì họ sẽ thường nhờ đến bên môi giới thương mại Chính vì lí do đó, bên môi giới thương mại có vai trò thúc đẩy các hoạt động thương mại diễn ra một cách nhanh chóng

Hiện nay, các quy định về môi giới thương mại đều được quy định trong Luật Thương mại 2005 mà không có một văn bản dưới Luật độc lập nào hướng dẫn một cách cụ thể về các quy định môi giới thương mại Những khó khăn và vướng mắt về hoạt động môi giới thương mại được đề cập đến trong bài bsẽ gây khó khăn cho các chủ thể khi tham gia vào hoạt động môi giới thương mại, đồng thời sẽ làm cho các quy định của Luật Thương mại 2005 thiếu tính khả thi khi áp dụng vào thực tiễn

Những nội dung trình bày trong bài báo ít nhiều đều mang tính chủ quan của tác giả, có thể còn nhiều điểm bất hợp lý do thời gian và năng lực có hạn của tác giả Việc làm thế nào để các quy định về môi giới thương mại trong Luật Thương mại 2005 trở nên phù hợp với thực tiễn xã hội và thống nhất chặt chẽ với các văn bản pháp Luật có liên quan khác là một vấn đề phức tạp và đáng quan tâm hiện nay

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2019), Luật chứng khoán

2 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2014), Luật kinh doanh bất động sản

3 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2005), Luật thương mại

4 Nguyễn Thị Vân Anh, “Pháp Luật điều chỉnh hoạt động trung gian thương mại ở Việt Nam”, năm 2007, Đại học Ngoại thương, Hà Nội

5 Ngô Thúy Hoài, “Những quy định của Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 về môi giới thương mại thực tiễn áp dụng và những vấn đề đặt ra”, tháng 5 năm 2010, Đại học Ngoại thương, Hà Nội

Trang 7

6 https://123docz.net/document/3678411-phap-luat-ve-moi-gioi-thuong-mai-o-viet-nam.htm

7 https://nld.com.vn/kinh-te/diem-mo-trong-moi-gioi-kinh-doanh-tren-mang-20211121204225954.htm

Ngày đăng: 30/11/2022, 14:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w