Đánh giá rủi ro làkiểm tra một cách cẩn thận khi thực hiện các hoạt động, các công việc trên tàu, xem xét các nguy cơ ở từng công việc và thiệt hại có thể xảy ra.. Việc đánh giá phải bao
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
BÀI TẬP LỚN MÔN QUẢN LÝ RỦI RO HÀNG HẢI
I Khái niệm về rủi ro hàng hải
II Quy trình đánh giá rủi ro của công ty
HỌ VÀ TÊN HỌC VIÊN:
Đà Nẵng - 2022
Trang 2I Khái niệm về rủi ro hàng hải
1.1 Đánh giá rủi ro là gì?
Nói một cách khái quát, rủi ro là một “tình huống không mong đợi” Đánh giá rủi ro làkiểm tra một cách cẩn thận khi thực hiện các hoạt động, các công việc trên tàu, xem xét các nguy
cơ ở từng công việc và thiệt hại có thể xảy ra Mục đích của đánh giá rủi ro và quản lý rủi ro là
dự báo tình huống bất lợi có thể xảy ra trong tương lai để đưa ra các giải pháp và thực hiệncác giải pháp đó theo một thứ tự ưu tiên tùy theo mức độ bất lợi và tầm quan trọng của nó,nhằm ngăn chặn sự xuất hiện các tình huống không mong muốn hoặc hạn chế các tổn thất dochúng gây ra
1.2 Ý nghĩa của đánh giá rủi ro
Trên tàu, tất cả công việc đều tiềm ẩn rủi ro nhất là trong những điều kiện khắc nghiệthoàn toàn khác với trên bờ Chính vì vậy, việc xác định các rủi ro có thể gặp phải cho từngcông việc là bắt buộc và phải là thói quen của mỗi người Việc đưa ra một quy trình đánh giá
có thể hệ thống hóa sẽ là cơ sở cho phương pháp thực hiện giám sát hiệu quả để loại trừ hoặcgiảm thiểu rủi ro
1.3 Đánh giá rủi ro trong thực tiễn trên tàu biển
Người được chọn thực hiện đánh giá rủi ro phải là người quen thuộc nhất khu vựcđược đánh giá, đồng thời phải là người có nhiều kinh nghiệm nhất với công việc cần đánh giárủi ro
Thuyền truởng chịu trách nhiệm đảm bảo quy trình đánh giá rủi ro được tuân thủ trêntàu mình Thuyền trưởng và sỹ quan phụ trách phải xem xét các bản đánh giá rủi ro và ký xácnhận
Máy trưởng và thuyền phó nhất chịu trách nhiệm trực tiếp đánh giá rủi ro từng côngviệc cụ thể ở bộ phận mình với sự tư vấn của thuyền trưởng
Trên văn phòng Công ty các Biên bản Đánh giá rủi ro phải được xem xét bởiDP/Chuyên viên, nếu cần, họp các chuyên viên để thảo luận các đánh giá rủi ro từ tàu gửi vềtại công ty
Đánh giá rủi ro – một công việc không phải quá phức tạp - là kiểm tra một cách cẩn thậntrong các hoạt động, công việc trên tàu, công việc gì có thể xảy ra gây nên thiệt hại Việc này cóthể bao gồm công bố các chất có thể nguy hại đến sức khỏe và việc thực hiện các biện pháp ngănchặn và giảm thiểu, như việc sử dụng dụng cụ bảo hộ lao động, các trang bị chuyên dụng cầnthiết, sự thận trọng cần thiết nào khi thao tác bằng tay, các dấu hiệu cảnh báo và tham khảo bảng
Trang 3dữ liệu an toàn vật liệu (Material Safety Data Sheet - MSDS) Trong khi tiến hành kiểm tra phải
nhận biết các biện pháp phòng ngừa sẵn có và quyết định có cần phải có hành động tăng cườnghay không Mục đích là để ngăn chặn hoặc ít nhất giảm thiểu cơ hội xảy ra tai nạn và thương tậttrên tàu
Việc đánh giá phải bao gồm các rủi ro phát sinh trực tiếp từ các hoạt động công việcđang được thực hiện (bao gồm những công việc có liên quan đến sức khỏe và vệ sinh, các tácnghiệp thường nhật, tác nghiệp then chốt hoặc việc bảo dưỡng các thiết bị then chốt và nhữngcông việc có tiềm ẩn làm hại đến con người đang làm việc và những người bị ảnh hưởng trựctiếp bởi công việc Tuy nhiên, cũng lưu ý rằng việc đánh giá không đòi hỏi phải bao gồm các rủi
ro từ những dự đoán không hợp lý
Việc đánh giá cần phải thực hiện cho tất cả các tác nghiệp then chốt trên tàu, các biếnđổi có thể của hoàn cảnh Một tác nghiệp có thể được coi là “công việc thường nhật” với rủi ronhỏ nhất trong điều kiện bình thường có thể thể hiện rủi ro cao hơn khi điều kiện thay đổi,chẳng hạn điều kiện thời tiết xấu hoặc máy móc bị hư hỏng Tiến hành đánh giá rủi ro vào lúcthực hiện một tác nghiệp như vậy sẽ giúp xác định các biện pháp phòng ngừa bổ sung cầnthiết
Thực hiện đánh giá rủi ro phải được coi như là một phần công việc hàng ngày đối với
Hệ Thống Quản Lí An Toàn trên tàu Các tác nghiệp hàng ngày còn bao gồm các tác nghiệpthen chốt khác kể cả các công việc bất thường, công việc mới và công việc hiếm hoi cũng nhưviệc bảo dưỡng các trang thiết bị then chốt
Đánh giá rủi ro phải là một quá trình liên tục Trong thực tiễn, rủi ro tại nơi làm việcphải được đánh giá trước khi bất kỳ công việc nào bắt đầu mà không có bản đánh giá rủi ro còngiá trị
Phải lưu giữ các cuộc đánh giá rủi ro trên tàu để có thể sử dụng cho các công việc lặp lạikhi cần thiết, phải xem xét lại và cập nhật để đảm bảo rằng bất cứ sự thay đổi nào về thiết bị,quy trình hoặc vị trí đều được xét tới
Tất cả các biên bản đánh giá rủi ro được tàu thực hiện đều phải được gửi về văn phòngcông ty Các báo cáo đánh giá rủi ro phải được DPA/Chuyên viên xem xét… Khi cần thiếtphải tổ chức cuộc họp gồm các trưởng phòng, DPA, chuyên viên an toàn để thảo luận đánhgiá các bản đánh giá rủi ro của tàu
1.4 Yêu cầu về đánh giá rủi ro theo ISM code và hướng dẫn của IMO về đánh giá rủi ro.
1.4.1 Giới thiệu chung
Trang 4ISM code 1998, mục 1.2.2.2 yêu cầu về mục tiêu quản lý an toàn của công ty phải: “thiếtlập các phương án phòng chống mọi rủi ro đã xác định - establish safeguards against allidentified risks” và năm 2002 IMO đã phê chuẩn hướng dẫn về hình thức đánh giá an toàn
(FSA) - Guidelines for Formal Safety Assessment (FSA) for use in the IMO rule-making
process (MSC/Circ.1023-MEPC/Circ.392) Như vậy đây là sự yêu cầu đầu tiên của IMO về
việc đánh giá các rủi ro trong các công việc, tuy nhiên việc bắt buộc thực hiện là không rõràng
Sự sửa đổi bổ sung ISM code bởi nghị quyết MSC.273(85) thông qua ngày 08 tháng 07năm 2008 và có hiệu lực vào ngày 01 tháng 07 năm 2010 yêu cầu: “Mục tiêu quản lý an toàncủa công ty phải đánh giá tất cả rủi ro được xác định đối với tàu, con người và môi trường vàthiết lập được những phương án phòng chống thích hợp - asseess all identified risks to itsship, personnel and the environment and establish appropriate safeguad” Sự sửa đổi bổ sungnày là một yêu cầu rõ ràng của bộ luật về việc bắt buộc phải thực hiện đánh giá tất cả rủi roxác định Nói cách khác các công ty phải bổ sung vào HTQLAT của công ty mình quy trình
về việc đánh giá rủi ro nhằm mục đích:
+ Đánh giá định kỳ mọi rủi ro đã được xác định
+ Phê duyệt các phương án phòng chống thích hợp dựa trên kết quả đánh giá
Vậy rủi ro là gì và quy trình đánh giá rủi ro bao gồm những gì? Theo các hướng dẫn củaIMO về đánh giá rủi ro: Rủi ro là sự kết hợp giữa tần suất và mức độ nghiêm trọng của hậuquả xảy ra[1] Đánh giá rủi ro được xác định là một chuỗi các hoạt động bao gồm phân tíchrủi ro, đánh giá tính chất rủi ro và đưa ra các biện pháp tiêu chuẩn kiểm soát rủi ro[2]
1.4.2 Hướng dẫn của IMO về đánh giá rủi ro
Theo bản Hướng dẫn về hình thức đánh giá an toàn của Ủy ban an toàn Hàng hải MEPC.2/ Circ 12), quy trình đánh giá rủi ro gồm 5 bước:
(MCS-Bước 3: Các biện pháp kiểm soát rủi
ro
Bước 4: Đánh giá lợi ích kinh tế của mỗi biện pháp kiểm soát
rủi ro
Bước 1: Nhận
biết hiểm họa Bước 2: Phân tích rủi ro Bước 5: Khuyến cáo đưa ra quyết
định
Trang 5II Quy trình đánh giá rủi ro của công ty
2.1 Hệ thống quản lý an toàn của công ty
Hệ thống quản lý an toàn công ty Nissho được triển khai theo đúng yêu cầu của bộ luật ISM
Hệ thống quản lý an toàn gồm có các phần:
+ Chính sách của công ty
+ Hướng dẫn về quản lý chất lượng và an toàn
+ Hướng dẫn về quản lý môi trường
+ Hệ thống quy trình của công ty
+ Quy trình các hoạt động trên tàu
+ Quy trình quản lý an toàn
+ Lập kế hoạch chuẩn bị sẵn sàng cho các tình huống khẩn cấp
Quy trình đánh giá và quản lý rủi ro – (Risk Assessment and Management Procedure) là mộtvăn bản nằm trong phần Quy trình quản lý an toàn (Safety Management Procedure) của Hệthống quản lý an toàn công ty
Hướng dẫn về những yếu tố chính của đánh giá rủi ro:
Trang 6CH-001: PHÂN LOẠI CÁC HOẠT ĐỘNG CÔNG VIỆC
1.1 Phân loại công việc
- Để công tác đánh giả rủi ro đạt hiệu quả, bước đầu cần phải nhận biết và phân chiacác công việc theo nhóm để dễ dàng quản lý và tổng hợp các thông tin cần thiết
- Các công việc được tiến hành trong điều kiện khắc nghiệt (thời tiết, tiếng ồn, nhiệt độnóng lạnh, áp lực), công việc bảo quản không thường xuyên cũng như công việc hàngngày phải được xét đến
- Có thể phân loại các hoạt động trên tàu theo :
a) Bộ phận bong hoặc máy
b) Các giai đoạn của hoạt động hoặc công việc thường xuyên
c) Kế hoạch bảo dưỡng định kỳ và đột xuất
d) Các công việc cụ thể (ví dụ xếp/dỡ hàng…)
1.2 Thông tin yêu cầu cho mỗi công việc bao gồm:
a) Thời gian tiến hành và tần suất thực hiện công việc
b) Khu vực tiến hành công việc
Coi các phương án thay thế là các phương
án dự phòng với mức chi phí hợp lý
Trang 7c) Người chịu trách nhiệm thực hiện công việc
d) Đối tượng khác liên quan đến công việc (ví dụ nhà thầu, du khách…)
e) Công tác đào tạo cho các cá nhân có liên quan đến công việc
CH-002: NHẬN BIẾT HIỂM HOẠ
2.1 Mối hiểm họa được nhận biết dựa vào ba câu hỏi sau:
Có nguồn tổn hại nào không?
Ai/cái gì có thể bị gây tổn hại?
Mối nguy hại sẽ xảy ra như thế nào?
2.2 Việc phân loại các mối hiểm họa theo nhiều phương thức khác nhau sẽ giúp cho quátrình nhận biết mối hiểm họa dễ dàng hơn Ví dụ như theo các chủ đề:
Bên cạnh việc phân chia mối hiểm họa theo các chủ đề như trên, trong khi thực hiện công việc
có thể các mối hiểm hoạ sau đây sẽ tồn tại như:
a) Trượt, ngã trên bề mặt;
b) Ngã từ trên cao xuống;
c) Dụng cụ, vật liệu bị rơi từ trên cao;
d) Không gian làm việc chật hẹp;
e) Hệ thống thông gió không đảm bảo;
f) Những mối nguy hại từ các trang thiết bị, máy móc liên quan đến lắp ráp, khaithác, vận hành, bảo trì, sửa chữa, tháo lắp
g) Hiểm hoạ từ việc vận hành trực tiếp bằng tay
Tuy nhiên, các mục nêu trên chỉ mang tính chất tương đối, thuyền viên có thể cập nhật, pháttriển những hạng mục riêng áp dụng cho từng trường hợp cụ thể
CH-003: XÁC ĐỊNH RỦI RO
3.1 Rủi ro từ các mối hiểm hoạ có thể được xác định bằng việc ước tính:
Mức độ nghiêm trọng của tổn hại
Khả năng tổn hại có thể xảy ra
Trang 8Hai yếu tố trên nên được phân tích một cách độc lập
3.2 Khi đánh giá mức độ nghiêm trọng của tổn hại, các yếu tố sau đây phải được xét đến:
a) Các bộ phận trên cơ thể có khả năng bị ảnh hưởng
b) Tính chất của tổn thương, mức độ từ nhẹ đến cực kỳ nghiêm trọng:
i) Tổn thương mức độ nhẹ:
Tổn thương ngoài da, vết trầy xước vết bầm tím, bụi vào mắt
Dị ứng, đau đầu, mệt mỏi
ii) Tổn thương mức độ trung bình:
Rách da, bỏng da, chấn thương, bong gân, trật khớp,
Điếc tạm thời, viêm da, hen suyễn, rối loạn chức năng chi trên, mệt mỏi kéodài
iii) Tổn thương cực kỳ nghiêm trọng:
Cụt tay, chân, gãy xương, ngộ độc và một số chấn thương khác phải phẫuthuật thẩm cắt bỏ, khuyết tật vĩnh viễn hay gây tử vong
Bệnh ung thư, các bệnh làm giảm tuổi thọ khác, các bệnh nguy hiểm cấptính
3.3 Để mà xác định được khả năng tổn hại có thể xảy ra, sự sẵn sàng của các biện phápkiểm soát rủi ro phải được cân nhắc Các yêu cầu bắt buộc theo luật và các hướng dẫntrong quy trình này hay những ấm phẩm an toàn khác là những chỉ dẫn tốt cho việc kiểmsoát hợp lý các hiểm họa riêng biệt Các phương pháp kiểm soát phải luôn sẵn sàng vàđược cân nhắc Những điều sau đây phải được xem xét đến:
a) Bao nhiêu người tiếp xúc;
b) Tần suất và khoảng thời gian tiếp xúc với hiểm hoạ;
c) Tác động của việc mất điện, mất nước;
d) Tác động của việc hỏng các thiết bị, các máy móc và các trang thiết bị an toàn e) Các yếu tố nào mà con người tiếp xúc với nó;
f) Khả năng bảo vệ của các thiết bị bảo hộ cá nhân và giới hạn của nó;
g) Khả năng xảy ra các hành động thiếu an toàn do người thực hiện gây ra, nhữngngười
i) Không biết hiểm hoạ là gì
ii) Không có kiến thức, không có sức khoẻ hoặc kỹ năng làm việc
iii) Đánh giá không đúng mực về rủi ro mà họ phải đối mặt
iv) Đánh giá thấp tác dụng của các biện pháp an toàn
Trang 9Khả năng của tổn hại có tể được đánh giá như :
Rất hiếm khi xảy ra (A)
Ít khi xảy ra (B)
Có thể xảy ra C)
Rất hay xảy ra (D)Các loại khả
năng của tổn
hại co thể
xảy ra
Rất hay xảy ra(D)
Có thể xảy ra(C)
Ít khi xảy ra(B)
Rất hiếm khixảy ra(A)
Ít hơn 1% cơhội xảy ra độclập trong suốtđời làm việc
3.4 Tất cả những hiểm hoạ được đưa ra thì nguy hiểm hơn nếu nó ảnh hưởng tới nhiều người.Nhưng một vài hiểm hoạ nghiêm trọng hơn có thể được kết hợp với các nhiệm vụ khôngthường xuyên được thực hiện bởi chỉ một người Ví dụ như bảo dưỡng phần không tiếp cậnđược của thiết bị nâng
CH-004: QUYẾT ĐỊNH NẾU RỦI RO CÓ THỂ CHẤP NHẬN ĐƯỢC
4.1 Bảng 2.1 dưới đây sẽ chỉ ra mức độ rủi ro và quyết định xem liệu rằng rủi ro có thểchấp nhận được hay không Cơ sở phân chia mức độ rủi ro là dựa vào việc ước tính khảnăng xảy ra và mức độ nghiêm trọng của tổn hại
BẢNG 2.1: Ma trận đánh giá rủi ro của công ty Nissho
Mức độ
Tần suất Tổn thương nhẹ
Tổn thương trungbình
Tổn thương nghiêm
trọngRất hiếm khi xảy
ra Rủi ro rất thấp Rủi ro rất thấp Rủi ro cao
Trang 10Rất hay xảy ra
Rủi ro thấp Rủi ro rất cao Rủi ro rất cao
Các mức độ của rủi ro Đánh giá khả năng chấp nhận
Trung bình Các rủi ro phải được cân nhắc, giảm thiểu trước khi thực
hiện công việcCao Áp dụng biện pháp bổ sung và duyệt lại để đưa rủi ro về
mức có thể chấp nhận được
CH-005 : CHUẨN BỊ KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG KIỂM SOÁT RỦI RO
5.1 Sau khi xác định các công việc quan trọng, bước tiếp theo là xác định những hành độngcần được thực hiện để nâng cao sự an toàn, có tính đên các biện pháp phòng ngừa và kiểmsoát đã được đặt ra
5.2 Mẫu phân loại rủi ro là cơ sở để quyết định xem các biện pháp nâng cao theo yêu cầu vàkhoảng thời gian thực hiện Bảng 2.2 cho thấy sự tiếp cận đơn giản Điều nay cho thấy các nỗlực được làm để kiểm soát rủi ro cần tuân theo mức độ của rủi ro đó
Cao Phải có những nỗ lực lớn để giảm thiểu rủi ro Các biện pháp giảm thiểu rủi
Trang 11ro phải được bổ sung ngay lập tức Với khoảng thời gian rõ ràng và có thểcần thiết để xem xét việc trì hoãn hoặc hạn chế hành động hoặc áp dụng cácbiện pháp giảm thiểu tạm thời cho đến khi hoàn thành thuyền trưởng phảiliên hệ với công ty và các nguồn lực đáng kể để có thể phải được cung cấp
để tiến hành các biện pháp kiểm soát bổ sung Những kế hoạch công việcriêng biệt cho từng nhiệm vụ phải được thảo luận với tất cả những người cóliên quan và phải được lập thành văn bản Phải thu xếp để đảm bảo các biệnpháp kiểm soát được duy trì, đặc biệt nếu những mức rủi ro có liên quan đếnhậu quả nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng
BẢNG 2.2: Một rủi ro thông thường dựa vào kế hoạch kiểm soát hành động và thời gian thực
hiện
Rất cao
Những rui ro này không được chấp nhận Các hoạt động nên được tạm dừngcho đến khi việc kiểm soát rủi ro được bổ sung và giảm thiểu rui ro để nókhông còn ở mức rất cao
Sự cải thiện quan trọng trong biện pháp kiểm soát rủi ro là cần thiết để rui rogiảm xuống mức có thể bỏ qua được hay mức chấp nhận được nhưng chí phíliên quan phải được chứng minh là thích hợp Thuyền trưởng phải liên lạcvới với công ty để có được sự gúp đỡ cần thiết Kế hoạch công việc cụ thêcho từng nhiệm vụ phải thảo lận với những người liên quan
Kế hoạch đánh giá chi tiết phải được thực hiện và duy trì bởi người chịutrách nhiệm giám sát để đảm bảo rằng mọi biện pháp kiểm soát bổ sungđược quy định trong phần 3 hoặc thực hiện RR104B như một kế hoạch trướckhi thực hiện công việc Sự liên lạc thường xuyên phải được thực hiện giữatàu và công ty Thuyền trưởng phải giữ liên lạc và thông tin cho công ty, Vàngười giám sát của công ty phải theo dõi trong toàn bộ thời gian tiến hànhnhiệm vụ cho đến khị hoàn thành
Những điều kiện không mong muốn có thể phát sinh hoặc không có khảnăng bổ sung những phương pháp giảm thiểu căn bản, công việc phải đượchoãn lại cho tới khi các phương pháp kiểm soát có thể thực hiện trở lại và rủi
ro được giảm xuống không còn ở mức rất cao
5.3 Các kết quả của việc đánh giá rủi ro phải phân loại theo các hoạt động, theo thứ tự ưu tiên
đã đặt ra nhằm mục đích duy trì hoặc nâng cao biện pháp kiểm soát
5.4 Những biện pháp kiểm soát được lựa chọn cần tính đến các yếu tố sau: