1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) bài tập lớn TRIẾT học mác – LÊNIN đề tài triết học về con người

16 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Triết học về con người
Tác giả Lê Đức Tiến, Đặng Thị Hải Yến, Hoàng Thanh Trà, Huyền Trang, Nguyễn Ngọc Thư, Nguyễn Thị Anh Thơ, Nguyễn Thị Hồng Thúy, Nguyễn Phan Hà Vy
Người hướng dẫn Giảng viên Nguyễn Thị Mai Lan
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Triết Học Mác – Lênin
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 41,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phái nhân bản học sinh vật Phoiơbắc, Phờrớt v.v cho con người là một thực thể tự nhiên, sinh vật; con người sinh vật thuần tuý; con người nhân bản, tuyệt đối hoá yếu tố sinh vật của co

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

… 0O0……

BÀI TẬP LỚN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

Đề tài: Triết học về con người

Họ, tên SV: Lê Đức Tiến

Mã SV: 11215670

Lớp: Triết học Mác – Lênin_Tín chỉ 36_Chiều T6_Tiết 7,8 Khoá: 63

GV: Nguyễn Thị Mai Lan

Nhóm thực hiện: Nhóm 6

Hà Nội – 5/2021

1

Trang 2

Danh sách thành viên nhóm 6 Đặng Thị Hải Yến

Hoàng Thanh Trà

Huyền Trang

Nguyễn Ngọc Thư

Nguyễn Thị Anh Thơ

Nguyễn Thị Hồng Thúy

Nguyễn Phan Hà Vy

Lê Đức Tiến

2

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: CÁC QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC ………

1 Số trang………

2 Font………

3 Cỡ chữ………

4 Khoảng cách giãn dòng………

5 Bìa……….

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN………

1 Khái lược các quan điểm triết học về con người trong lịch sử triết học…………

1 1 Quan điểm về con người trong triết học phương Đông………

1 2 Quan điểm về con người trong triết học phương Tây………

2 Quan điểm về con người trong triết học Mác – Lênin………

2 1 Khái niệm con người và bản chất con người………

2 2 Hiện tượng tha hóa con người và vấn đề giải phóng con người……….

3 Quan điểm của triết học Mác - Lênin về quan hệ cá nhân và xã hội, về vai trò của quần chúng nhân dân và lãnh tụ trong lịch sử………

3.1 Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội………

3.2 Mối quan hệ biện chứng giữa QCND và CNLT……….

4 Vấn đề con người trong sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam………

4 1 Dựa trên lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin……….

4 2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người………

4 3 Quan điểm của Đảng ta………

CHƯƠNG III: CƠ SỞ THỰC TIỄN………

1 Ví dụ, ứng dụng………

2 Liên hệ với Việt Nam………

CHƯƠNG IV: CẢM NHẬN BẢN THÂN………

3

Trang 4

CHƯƠNG I: CÁC QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC

1 Số trang: 8 – 12

2 Font: Times New Roman

3 Cỡ chữ: 13 hoặc 14

4 Khoảng cách giãn dòng: 1,15 – 1,5

5 Bìa: Bộ GDĐT, Trường, “Bài tập lớn”, Môn, Đề tài, Họ và tên, Lớp, Nhóm,

Lưu ý: Dùng giấy A4 trắng, không giấy bóng kính, không dán gáy – dùng 2 phím

ở giữa, ấn đằng phần phím đằng sau chặt vào giấy

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN

I.Khái lược các quan điểm triết học về con người trong lịch sử triết học:

1 Quan điểm về con người trong triết học phương Đông

- Các quan niệm duy tâm, tôn giáo: con người do thần thánh, do lực lượng siêu nhiên tạo

ra, cuộc sống con người do Trời, thần đã sắp đặt, an bài

- Các quan niệm duy vật về nguồn gốc con người mang tính mộc mạc, ngây thơ, chưa có

cơ sở khoa học,…

- Khái quát các quan điểm của Triết học Phương Đông về con người:

Quan điểm về con người trong triết học Phật giáo:

+ Phật giáo phủ nhận vai trò của Đấng sáng tạo, phủ nhận cái Tôi của con người

+ Trong quá trình tồn tại, con người có trần tục tính và phật tính Bản tính con người vốn

tự có cái ác và cái thiện Cuộc đời con người do chính con người quyết định qua quá trình tạo nghiệp

+ Con đường tu nghiệp để trở thành La Hán, Bồ tát hay Phật được coi là đạo làm người Quan điểm về con người trong triết học Nho gia

+ Con người và vạn vật được tạo nên từ sự hỗn hợp giữa Trời với Đất trong khoảng giữa

âm - dương và do bẩm thụ tính Trời nên bản tính con người vốn thiện

Bản chất con người bị quy định bởi Mệnh Trời “Nhân giã kỹ thiên địa chi đức, âm dương chi giao, quỷ thần chi hội, ngũ hành chi trí khí giã- Con người là cái đức của Trời Đất, sự giao hợp của âm dương, sự tụ hội của quỷ thần, cái khí tinh tú của ngũ hành”

1.2 Quan điểm về con người trong triết học phương Tây

- Quan điểm về con người trong triết học phương Tây thời cổ đại:

Quan điểm về con người trong triết học duy vật Hy Lạp cổ đại (Empêđôclơ, Lơxíp, Đêmôcrít v.v)

Quan điểm về con người trong triết học duy tâm Hy Lạp cổ đại (Xôcrát và

Platôn v.v)

Quan điểm về con người trong triết học Arítxtốt

- Quan điểm về con người trong triết học phương Tây thời Trung cổ:

Trang 5

Quan điểm về con người của Cơ đốc giáo.

Quan điểm về con người trong triết học Tômát Đacanh:

Quan điểm về con người trong triết học phương Tây thời Phục hưng, Cận đại

và Hiện đại:

Triết học phương Tây thời nào cũng có tư tưởng duy vật gắn với thực tiễn xã hội; tuy nhiên, ở bất kỳ thời nào quan điểm duy tâm về con người vẫn là tư tưởng thống trị Cho đến khi "Thuyết tiến hoá của các loài" của Đácuyn ra đời, các nhà triết học duy vật mới có căn cứ khoa học để chỉ ra nguồn gốc phi thần thánh của con người "Không phải Chúa đã tạo ra con người theo hình ảnh của Chúa mà chính con người đã tạo ra Chúa theo hình ảnh của con người" (Phoiơbắc) Tuy vậy, do chịu ảnh hưởng bởi phương pháp tư duy siêu hình nên đã giải thích sai lệch về nguồn gốc và bản chất con người Còn các nhà duy vật thế kỷ XVII-XVIII (Hốpxơ) coi con người khi sinh ra đã mang sẵn bản chất tự nhiên (tính đồng loại)

- Phái nhân bản học sinh vật (Phoiơbắc, Phờrớt v.v) cho con người là một thực thể tự nhiên, sinh vật; con người sinh vật thuần tuý; con người nhân bản, tuyệt đối hoá yếu tố sinh vật của con người, quy bản chất của con người vào tính tự nhiên của nó Ở Phoiơbắc, bản chất của con người nằm ở tính tộc loại được thể hiện ra trong tình cảm, đạo đức, tôn giáo và tình yêu

- Đây là quan điểm triết học đã tuyệt đối hoá mặt tự nhiên của con người, tách con người ra khỏi các hoạt động (thực tiễn) của họ, làm hoà tan bản chất con người vào bản chất tôn giáo

+ Quan điểm về con người trong triết học Italia

+ Quan điểm về con người trong triết học Anh (Ph.Bêcơn)

+ Quan điểm về con người trong triết học Hà Lan (Xpinôda)

- Ở thời hiện đại, quan điểm về con người trong triết học phương Tây hiện đại thể hiện

rõ nét qua các quan điểm của phân tâm học, chủ nghĩa nhân vị, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa phê phán, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa cấu trúc v.v, trong đó các quan điểm về con người của chủ nghĩa hiện sinh giữ vai trò chủ yếu

2 Quan điểm về con người trong triết học Mác - Lênin:

2.1 Khái niệm con người và bản chất con

người Con người là thực thể sinh học - xã hội

Theo Các Mác, con người là một sinh vật có tính xã hội ở trình độ phát triển cao nhất của giới tự nhiên và của lịch sử xã hội, là chủ thể của lịch sử, sáng tạo nên tất cả các thành tựu của văn minh và văn hóa

Con người là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài của giới hữu sinh Con người tự nhiên là con người sinh học mang tính sinh học Tính sinh học trong con người quy định sự hình thành những hiện tượng

và quá trình tâm lý trong con người là điều kiện quyết định sự tồn tại của con người

“Bản thân các sự kiện là con người từ loài động vật mà ra, cũng đã quyết định việc con người không hoàn toàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn có của con vật” (C.Mác)

Trang 6

Con người là thực thể xã hội: Không phải đặc tính sinh học, bản năng sinh học,

sự sinh tồn thể xác là cái duy nhất tạo nên bản chất của con người, mà con người còn là thực thể xã hội

5 Con người là một thực thể của giới tự nhiên “Giới tự nhiên…là thân thể vô

cơ của con người, đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên”

Con người là một bộ phận đặc biệt, quan trọng của giới tự nhiên, nhưng lại có thể biến đổi giới tự nhiên và chính bản thân mình → Điểm khác biệt đặc biệt quan trọng giữa con người và các thực thể sinh học khác

“Người là giống vật duy nhất có thể bằng lao động mà thoát khỏi trạng thái thuần túy là loài vật”

Nếu con vật phải sống dựa hoàn toàn vào các sản phẩm của tự nhiên, dựa vào bản năng thì con người lại sống bằng lao động sản xuất, bằng việc cải tạo tự nhiên, sáng tạo ra các vật phẩm để thỏa mãn nhu cầu của mình

Nhờ có lao động sản xuất mà con người về mặt sinh học có thể trở thành thực thể xã hội, thành chủ thể của “lịch sử có tính tự nhiên”, có lý tính, có “bản năng

xã hội” → Lao động là điều kiện kiên quyết, cần thiết và chủ yếu quyết định sự hình thành và phát triển của con người cả về phương diện sinh học lẫn phương diện xã hội

Con người không chỉ có các quan hệ lẫn nhau trong sản xuất mà còn có hàng loạt các quan hệ xã hội khác Xã hội, xét đến cùng, là sản phẩm của sự tác động qua lại lẫn nhau giữa những con người Tính xã hội của con người chỉ có trong

“xã hội loài người”, con người không thể tách khỏi xã hội đó và là điểm cơ bản làm cho con người khác con vật

Kế thừa các quan niệm tiến bộ trong lịch sử tư tưởng nhân loại và dựa vào thành tựu khoa học, chủ nghĩa Mác khẳng định con người vừa là sản phẩm của

sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên, vừa là sản phẩm của lịch sử xã hội loài người và của chính bản thân con người

Mác đã khẳng định trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức rằng, tiền đề của lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của các ông là những con người hiện thực đang hoạt động lao động sản xuất và làm ra lịch sử cho chính mình, làm cho họ ⇔trở thành con người đang tồn tại

Con người là sản phẩm lịch sử và của bản thân con người, nhưng con người khác với con vật, không thụ động để lịch sử làm mình thay đổi, mà con người còn là chủ thể của lịch sử

Con người vừa là chủ thể của lịch sử, và là sản phẩm của lịch sử

Các Mác đã khẳng định: "Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục cái học thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục"

Ph.Ăngghen cũng cho rằng: "Thú vật cũng có một lịch sử, chính là lịch sử nguồn gốc của chúng và lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của

Trang 7

chúng Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và không phải do ý muốn của chúng Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu"

6 Con người là chủ thể của lịch sử:

Hoạt động lịch sử đầu tiên khiến con người tách khỏi con vật, có ý nghĩa sáng tạo chân chính là hoạt động chế tạo công cụ lao động, hoạt động lao động sản xuất → Trở thành chủ thể hoạt động thực tiễn xã hội → Làm ra lịch sử của mình

“Sáng tạo ra lịch sử” là bản chất của con người, nhưng con người không thể sáng tạo ra lịch sử theo ý muốn tùy tiện của mình, mà phải dựa vào những điều kiện do quá khứ, thế hệ trước để lại trong những hoàn cảnh mới

Con người là sản phẩm của lịch sử:

Con người tồn tại và phát triển luôn luôn ở trong một hệ thống môi trường xác định Đó là toàn bộ điều kiện tự nhiên và xã hội, cả điều kiện vật chất lẫn tinh thần

Con người là sản phẩm của hoàn cảnh, của môi trường trong trong đó có môi trường xã hội Môi trường xã hội có có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến con người, sự tác động của môi trường tự nhiên đến từng cá nhân con người thường phải thông qua môi trường xã hội và chịu ảnh hưởng sâu sắc của các nhân tố xã hội

Trong sinh hoạt xã hội, khi hoạt động ở những điều kiện lịch sử nhất định con người có quan hệ với nhau để tồn tại và phát triển

Trong tính hiện thực của nó, con người là tổng hòa các quan hệ xã hội

Bản chất con người chỉ có thể được hình thành, được nhận thức thông qua các quan hệ xã hội của nó Bản chất con người không phải thần bí, trừu tượng,, bất biến, tách rời khỏi những mối quan hệ xã hội khách quan, nó có thể được nhận thức thông qua các tổ chức, thể chế chính trị, các mối quan hệ xã hội hiện thực, xác định

Bản chất con người không phải được sinh ra mà nó hình thành, phát triển, thay đổi bởi các quan hệ xã hội, trong đó trước hết và quan trong nhất là các quan hệ thuộc lĩnh vực kinh tế Muốn thay đổi được bản chất của con người thì không thể không thay đổi những mối quan hệ của họ

2.2 Hiện tượng tha hóa con người và vấn đề giải phóng con người

Thực chất của hiện tượng tha hóa con người là lao động của con người bị tha hóa :

- Theo C Mác, thực chất của lao động bị tha hóa là quá trình lao động và sản phẩm của lao động từ chỗ để phục vụ con người, để phát triển con người đã bị biến thành lực lượng đối lập, nô dịch và thống trị con người

- Hiện tượng tha hóa của con người là một hiện tượng lịch sử đặc thù, chỉ diễn ra trong

xã hội có phân chia giai cấp

- Nguyên nhân gây nên hiện tượng tha hóa con người là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất Nhưng tha hoá con người được đẩy lên cao nhất trong xã hội tư bản chủ nghĩa

Trang 8

- Con người bị tha hóa là con người bị đánh mất mình trong lao động, tức trong hoạt động đặc trưng, bản chất của con người

- Khi lao động bị tha hóa con người trở nên què quặt, phiến diện, thiếu khuyết trên nhiều phương diện khác nhau Sự tha hóa nói trên tất yếu làm cho con người phát triển không

7 thể toàn diện, không thể đầy đủ, và không thể phát huy được sức mạnh bản chất người

“Vĩnh viễn giải phóng toàn thể xã hội khỏi ách bóc lột, ách áp bức”

- Giải phóng con người được các nhà kinh điển triển khai trong nhiều nội dung lý luận và trên nhiều phương diện khác nhau

Đấu tranh giai cấp để thay thế chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, để giải phóng con người về phương diện chính trị là nội dung quan trọng hàng đầu

Khắc phục sự tha hóa của con người và của lao động của họ, biến lao động sáng tạo trở thành chức năng thực sự của con người là nội dung có ý nghĩa then chốt

- Theo quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, việc giải phóng những con người cụ thể là để đi đến giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và tiến tới giải phóng toàn thể nhân loại Việc giải phóng con người được quan niệm một cách toàn diện, đầy đủ, ở tất cả các nội dung và phương diện của con người, cộng đồng, xã hội và nhân loại với tính cách là các chủ thể ở các cấp độ khác nhau

“Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất

cả mọi người”

Con người là sự thống nhất giữa cá nhân và xã hội, cá nhân với giai cấp, dân tộc và nhân loại, bản chất của con người là tổng hòa các quan hê xã hội Do

vậy, sự phát triển tự do của mỗi người tất yếu là điều kiện cho sự phát triển tự

do của mọi người

Sự phát triển tự do của mỗi người chỉ có thể đạt được khi con người thoát khỏi

sự tha hóa, thoát khỏi sự nô dịch do chế độ tư hữu các tư liệu sản xuất bị thủ tiêu triệt để, khi sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc

và lao động chân tay không còn, khi con người không còn bị trói buộc bởi sự phân công lao động xã hội

3 Quan điểm của Triết học Mác-Lenin về quan hệ cá nhân và xã hội, về vai trò QCND và lãnh tụ trong lịch sử

3.1 Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội

Quan hệ giữa cá nhân và xã hội là mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích

cộng đồng do đó đây là mối quan hệ biện chứng và là hiện tượng có tính lịch sử.

3.2 Mối quan hệ biện chứng giữa QCND và

CNLT Vai trò của QCND:

Trang 9

+ Là chủ thể sáng tạo chân chính, quyết định sự phát triển của lịch sử.

+ Là lực lượng sản xuất trực tiếp đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của xac hội + Là lực lượng sáng tạo trực tiếp/ gián tiếp các giá trị tinh thần của xã hội

8 Vai trò của lãnh tụ:

+ Nắm bắt xu thế của dân tộc, quốc tế, thời đợi để định hướng chiến lược và hoạch định chương trình hành động cách mạng

+ Tổ chức lực lượng, giáo dục thuyết phục, thống nhất ý chí và hành động của QCND nhằm giải quyết những mục tiêu cách mạng đề ra

Mối quan hệ giữa QCND và Cá nhân lãnh tụ/Vĩ nhân lãnh tụ là mối quan hệ biện chứng vừa có sự thống nhất vừa có sự khác biệt, tính biện chứng thể hiện qua các

biểu hiện sau:

Thứ nhất: Tính thống nhất giữa QCND và lãnh tụ, không có phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân, không có các quá trình kinh tế, chính trị, xã hội của đông đảo quần chúng nhân dân, thì cũng không thể xuất hiện lãnh tụ.

Thứ hai: QCND và lãnh tụ thống nhất trong mục đích và lợi ích của mình Sự thống

nhất về các mục tiêu của cách mạng, của hành động cách mạng giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ do chính quan hệ lợi ích quy định Lợi ích biểu hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau: lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích văn hóa… Quan hệ lợi ích là cầu nối liền, là nội lực để liên kết các cá nhân cũng như quần chúng nhân dân và lãnh

tụ với nhau thành một khối thống nhất về ý chí và hành động

Thứ ba: sự khác biệt giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ biểu hiện trong vai trò

khác nhau của sự tác động đến lịch sử Tuy cùng đóng vai trò quan trọng đối với tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, nhưng quần chúng nhân dân là lực lượng quyết định sự phát triển, còn lãnh tụ là người định hướng, dẫn dắt phong trào, thúc đẩy sự phát triển của lịch sử

4 Vấn đề về con người trong sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam:

4.1 Dựa trên lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin

- Lý luận về con người của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng lý luận cho việc phát huy vai trò của con người trong cách mạng và trong sự nghiệp đổi mới

ở Việt Nam hiện nay

- Mác-Lênin có quan điểm:

Trang 10

“Con người là thực thể sinh học xã hội Con người là một sinh vật có tính xã hội, vừa

là sản phẩm cao nhất trong quá trình tiến hóa của tự nhiên và lịch sử xã hội, vừa là chủ thể sáng tạo mọi thành tựu văn hóa trên Trái đất.”

Triết học Mác chỉ rõ hai mặt, hai yếu tố cơ bản cấu thành con người là mặt sinh học và mặt xã hội Con người có mặt tự nhiên, vật chất, nhục thể, sinh vật, tộc loại …Đồng thời, con người có mặt xã hội, tinh thần, ngôn ngữ, ý thức, tư duy, lao động, giao tiếp, đạo đức Con người là chủ thể hoạt động thực tiễn, con người sáng tạo ra mọi của cải

9 vật chất, tinh thần, sáng tạo ra cả bộ óc và tư duy của mình

Con người là một động vật cao cấp nhất, là sản phẩm của quá trình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên Con người là một bộ phận của giới tự nhiên, tìm thức ăn, nước uống

từ trong tự nhiên, cũng phải đấu tranh để tồn tại và sinh con đẻ cái

4.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người

Theo Hồ Chí Minh: “chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn

Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng nữa là cả loài người.” -> quan niệm được

cụ thể hóa, bao hàm cả cá nhân, cộng đồng, giai cấp, dân tộc, nhân loại

Bao gồm các nội dung cơ bản:

- Độc lập tự do là quyền bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc: + Giải phóng dân tộc

trước hết phải do chính các dân tộc thực hiện

+ Giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng nhân dân lao động

- Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng: “Muốn tiến lên CNXH thì phải có những con người xã hội chủ nghĩa”

- Phát triển con người toàn diện: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”

+ Tiêu chuẩn cơ bản hàng đầu của con người toàn diện là đức và tài, trong đó đức là gốc + Nguyên tắc cơ bản để xây dựng con người toàn diện là tu dưỡng, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn, thực hiện đồng bộ quá trình giáo dục và tự giáo dục

- Phương thức phát huy, sử dụng vai trò động lực của con người

+ Giải quyết mối quan hệ giữa sử dụng đúng và sử dụng khéo con người, Người quan tâm đến vấn đề tuyển chọn, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài trong và trong và ngoài Đảng

Ngày đăng: 30/11/2022, 14:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w