1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) bài tập lớn môn KINH tế CHÍNH TRỊ mác lê NIN đề tài KINH tế THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG CHỦ NGHĨA xã hội ở VIỆT NAM

18 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh tế Thị trường Định hướng Chủ nghĩa Xã hội ở Việt Nam
Tác giả Phùng Nhật Minh
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hiếu
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế Chính trị
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 322,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

9 1.1 Mô hình phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế của thời đại...9 1.2 Những vấn đề cần tiếp tục xem xét và hoàn thiện...10 CHƯƠNG III: PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH H

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-*** -BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊ-NIN

ĐỀ TÀI: KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG CHỦ

NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Họ và tên SV: Phùng Nhật Minh

Lớp tín chỉ: Kinh tế chính trị_Kế toán

TT62_AEP(220)_05

Mã SV: 11202585

GVHD: PGS.TS NGUYỄN THỊ THANH HIẾU

.

HÀ NỘI, NĂM 2020

1

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG I: LỊCH SỬ RA ĐỜI KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 3

1 Đại hội IV 1986 3

1.1 Bối cảnh lịch sử 3

1.2 Hoạt động của đại hội về kinh tế 3

2.Sự thay đổi trong tư duy của Đảng ta từ Đại hội IV đến đại hội XII 3

CHƯƠNGII:THỰCTIỄNPHÁTTRIỂNNỀNKINHTẾTHỊTRƯỜNGTHEOĐỊNH HƯỚNGXÃHỘICHỦNGHĨAỞ VIỆT NAM 9

1.1 Mô hình phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế của thời đại 9

1.2 Những vấn đề cần tiếp tục xem xét và hoàn thiện 10

CHƯƠNG III: PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM QUA VIỆC SỬ DỤNG TỐT NGUỒN NHÂN LỰC 13

1.1 Tại sao cần phát triển tốt nguồn nhân lực 15

1.2 Kinh tế thị trường và vấn đề nhân lực trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.16 KẾT LUẬN 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

2

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Đại hội VI năm 1986 đã đánh dấu một trang mới trong lịch sử của dân tộc Việt Nam Việc thực hiện đường lối và chính sách đổi mới của đảng đã tạo nên một tác động vô cùng to lớn cho nền kinh tế của nước ta Từ một đất nước với nền kinh tế lạc hậu, đời sống của người dân Việt Nam đã ngày một nâng cao và dần sánh ngang với những quốc gia đang phát triển trên thế giới

Mặc dù vậy Việt Nam vẫn là nước có thu nhập bình quân thấp, tỉ trọng của nền kinh

tế nông nghiệp vẫn chiếm phần lớn tỉ trọng Ngoài ra, tệ nạn xã hội cũng như nạn tham

ô, tham nhũng vẫn còn tồn đọng Chính vì vậy mỗi người dân chúng ta phải cùng với Đảng và nhà nước tìm ra những phương hướng, lối đi mới để khẳng định quyết tậm công nghiệp hoá – hiện dại hoá đất nước Hơn thế nữa, trong thời kì hội nhập kinh tế như hiện nay, chúng ta cần phải bồi dưỡng kiến thức và nhạy bén với những thứ mới để có thể áp dụng vào nền kinh tế thị trường theo chủ nghĩa xã hội – chính sách đổi mới có tuổi 25 năm đã giúp đất nước của chúng ta thoát khỏi tình cảnh đói nghèo, lạc hậu cho tới một quốc gia có nền kinh tế vững mạnh

Với sự ngưỡng mộ và mong muốn tìm hiểu về những chính sách của Đảng và nhà nước về công cuộc đổi mới và kiến thiết đất nước, em chọn đề tài: “Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Việt Nam” Bài tiểu luận của em sẽ phân tích tư duy, góc nhìn của Đảng về nền kinh tế thị trường qua các thời kỳ cũng như sự phát triên kinh tế thị trường ở Việt Nam và cuối cùng là nguồn nhân lực trong nền kinh tế thị trường – một thứ

mà theo em là “chìa khoá vàng” để dẫn tới sự thành công của nền kinh tế thị trường Em rất mong được nghe ý kiến và sự chỉ bảo của các thầy cô!

Trang 4

CHƯƠNG I: LỊCH SỬ RA ĐỜI KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 1.Đại hội VI 1986

1.1.Bối cảnh lịch sử

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI diễn ra trong bối cảnh sai lầm của đợt tổng cải cách cuối năm làm cho càng trở nên khó khăn (tháng 12 năm giá bán lẻ hàng hóa tăng 845,3%) Việt Nam đã không thực hiện được mục tiêu đề ra là cơ bản ổn định tình hình - xã hội, ổn định đời sống nhân

dân Số người bị thiếu đói tăng, bội chi lớn Nền kinh tế Việt Nam lâm vào khủng hoảng trầm trọng Tình hình này làm cho trongvà ngoài xã hội có nhiều ý kiến tranh luận xoay quanh ba vấn đề lớn:

- Cơ cấu sản xuất

- Cải tạo xã hội chủ nghĩa

- Cơ chế quản lý kinh tế

1.2.Hoạt động của đại hội về kinh tế

Xóa bỏ kinh tế bao cấp, thực hiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần

Đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế: cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa

Đổi mới về nội dung và cách thức công nghiệp hóa, thực hiện 3 chủ trương kinh tế:

- Sản xuất lương thực, thực phẩm

- Sản xuất hàng tiêu dung

- Sản xuất hàng xuất khẩu

-2.Sự thay đổi trong tư duy của Đảng ta từ Đại hội IV đến đại hội X

Đây là giai đoạn hình thành và phát triển tư duy của Đảng về kinh tế thị trường

So với thời kì trước đổi mới, nhận thức về kinh tế thị trường có sự thay đổi căn bản và sâu sắc

Kinh tế thị trường không phải là cái riêng của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu

Trang 5

phát triển chung của nhân loại Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội cho thấy sản xuất

và trao đổi hàng hoá là tiền đề quan trọng cho sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường Kinh tế thị trường đã có mầm mống từ trong xã hội nô lệ, hình thành trong xã hội phong kiến và phát triển cao trong chủ nghĩa Tư bản Chủ nghĩa Tư bản không sản sinh ra kinh tế hàng hoá Do đó, kinh tế thị trường với tư cách là kinh tế hàng hoá ở trình độ cao không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa Tư bản mà là thành tựu phát triển chung của nhân loại Kinh tế thị trường lấy khoa học, công nghệ hiện đại làm cơ sở và nền sản xuất hoá cao

Có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Các chủ thể kinh tế có tính độc lập, có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, lỗ, lãi

tự chịu Giá cả cơ bản do cung cầu điều tiết, hệ thống thị trường phát triển đồng bộ và hoàn hảo Nền kinh tế có tính mở cao và vận hành theo qui luật vốn có của kinh tế thị trường: qui luật giá trị, cung cầu, cạnh tranh, qui luật lưu thông tiền thị trường Có hệ thống pháp quy kiện toàn và sự quản lý vĩ mô của Nhà nước

Đảng xác định: Nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa là “Một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo qui luật của kinh tế

thị trường vừa dựa trên cơ sở và chịu sự dẫn dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất

cùa chủ nghĩa xã hội” Nội dung cơ bản của định hướng Xã hội chủ nghĩa trong phát triển

kinh tế thị trường ở nước ta thể hiện ở 4 tiêu chí:

Về mục đích phát triển: mục tiêu kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

ở nước ta nhằm thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp

đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn

Về phương hướng phát triển: phát triển nền kinh tế với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế nhằm giải phóng mọi tiềm năng trong mọi thành phần kinh tế, trong mọi cá nhân và mọi vùng miền phát huy tối đa nội lực để phát triển nhanh nền kinh tế Trong nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ chủ yếu để nhà nước điều tiết nền kinh tế, định hướng cho sự phát triển vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Trang 6

Về định hướng xã hội và phân phối: thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển và chính sách phát triển, tăng trưởng kinh tế gắn kết chặt chẽ

và đồng bộ với phát triển xã hội, văn hoá, giáo dục và đào tạo, giải quyết vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người Hạn chế tác động tiêu cực của kinh tế thị trường

Trong lĩnh vực phân phối, định hướng xã hội chủ nghĩa được thể hiện qua chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế phúc lợi xã hội Đồng thời để huy động mọi nguồn lực kinh tế cho sự phát triển chúng ta còn thực hiện phân phối theo mức đóng góp và các nguồn lực khác

Về quản lý: phát huy vai trò làm chủ xã hội của nhân dân Bảo đảm vai trò quản

lý, điều tiết nền kinh tế của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Tiêu chí này thể hiện sự khác biệt cơ bản giữa kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của thị trường, bảo đảm quyền lợi chính đáng của mọi người

Trước đổi mới, chúng ta coi kinh tế xã hội chủ nghĩa và kinh tế tư bản chủ nghĩa (hay kinh tế thị trường) là hai phương thức kinh tế khác nhau về bản chất và đối lập với nhau cả về chế độ sở hữu, chế độ quản lý, chế độ phân phối và mục đích phát triển

Kinh tế xã hội chủ nghĩa vận động theo các quy luật của chủ nghĩa xã hội, còn kinh tế tư bản chủ nghĩa thì vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản (tất nhiên trong khi nói đến kinh tế kế hoạch chúng ta cũng đã từng nói đến hạch toán và kinh doanh xã hội chủ nghĩa, vận dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ, coi lợi ích vật chất và khuyến khích vật chất là một động lực của sự phát triển)

Sau đổi mới, tư duy của chúng ta về kinh tế có nhiều sự phát triển so vớitrước Nhìn khái quát đã có những sự thay đổi lớn như sau:

Từ quan niệm chủ nghĩa xã hội chỉ có một chế độ sở hữu duy nhất là chế độ công hữu về tất cả các tư liệu sản xuất (bao gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) đã đi đến quan niệm nền kinh tế của ta hiện nay và sau này có ba chế độ sở hữu cơ bản là toàn dân, tập thể, tư nhân, trên cơ sở đó, hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế khác nhau như kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ,

tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 7

Từ quan niệm cho rằng để xây dựng được quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phải nhanh chóng hoàn thành việc cải tạo kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế rằng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, còn cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới nhất thiết phải phù hợp với từng bước phát triển của lực lượng sản xuất

Từ quan niệm hai thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, với việc xóa

bỏ nhanh chóng các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, ngay từ đầu đã là nền tảng của nền kinh tế quốc dân, đã đi đến quan niệm rằng muốn cho hai thành phần kinh tế ấy ngày càng trở thành nền tảng vững chắc thì phải trải qua một quá trình dài xây dựng, đổi mới và phát triển với những bước thích hợp; trong khi đó, vẫn khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế tư nhân, coi như thành phần này là động lực quan trọng của phát triển kinh tế và phát triển lực lượng sản xuất

Từ quan niệm nhà nước phải chỉ huy toàn bộ nền kinh tế theo một kế hoạch tập trung, thống nhất với những chỉ tiêu có tính pháp lệnh áp đặt từ trên xuống, đã đi đến phân biệt rõ chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng quản lý kinh doanh; chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chủ sở hữu tài sản công là thuộc nhà nước, còn chức năng quản lý kinh doanh thì thuộc về doanh nghiệp Từ chỗ tuyệt đối hóa vai trò của kế hoạch, phủ nhận vai trò của thị trường đã đi đến thừa nhận thị trường vừa là căn

cứ, vừa là đối tượng của kế hoạch; kế hoạch chủ yếu mang tính định hướng và đặc biệt trên bình diện vĩ mô, còn thị trường giữ vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất, kinh doanh

Từ chỗ chỉ thừa nhận một hình thức phân phối duy nhất chính đáng là phân phối theo lao động đã đi đều quan niệm thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi

xã hội Công bằng xã hội thể hiện không phải ở chủ nghĩa bình quân trong kinh tế mà là

ở chỗ phân phối hợp lý tư liệu sản xuất và kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đến có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình Không ngăn cấm mọi sự làm giàu mà trái lại khuyến khích mọi người làm giàu chính đáng theo đúng pháp luật, đồng thời thực hiện xóa đói giảm nghèo, hạn chế phân cực quá đáng hai đầu

Trang 8

CHƯƠNG : THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO

ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 1.Mô hình phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế của thời đại

Ở Việt Nam, sau hơn 30 năm đổi mới, nền KTTT định hướng XHCN đã hình thành, phát triển, đến nay đã có những yếu tố của một nền KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế và bảo đảm định hướng XHCN Đó là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần; có sự phát triển đầy đủ, đồng bộ các loại thị trường, thị trường trong nước gắn kết với thị trường quốc tế Thị trường đã phát huy vai trò trong việc xác định giá cả, phân bổ nguồn lực, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa; nền kinh tế đã vận hành theo các quy luật của KTTT

Đồng thời, nền KTTT có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN; Nhà nước vừa xây dựng

và hoàn thiện thể chế, tạo khung khổ pháp luật, môi trường ổn định, thuận lợi cho kinh tế phát triển, vừa sử dụng các nguồn lực kinh tế của Nhà nước để điều tiết, thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN, phát triển bền vững cả kinh tế, xã hội, môi trường; gắn phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Những yếu tố này hoàn toàn tương đồng với các định hướng xã hội của các nền KTTT hiện đại trên thế giới

Như vậy, từ thực tiễn và lý luận, có thể khẳng định, KTTT định hướng XHCN là mô hình KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế không chỉ phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế của thời đại, mà còn là mô hình kinh tế phù hợp với các nước kinh tế chưa phát triển quá độ lên CNXH

Về kinh tế: Sự phát triển của Việt Nam trong hơn 30 năm qua rất đáng ghi nhận Công cuộc đổi

mới từ năm 1986 đã nhanh chóng đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp Giai đoạn 2002-2019, GDP đầu người tăng 2,7 lần, đạt trên 2.700 USD năm 2019, với hơn 45 triệu người thoát nghèo Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ hơn 70% xuống còn dưới 6% (3,2 USD/ngày theo sức mua ngang giá) Đại bộ phận người nghèo còn lại ở Việt Nam là dân tộc thiểu số, chiếm 86%

Năm 2019, kinh tế Việt Nam tiếp tục có khả năng chống chịu cao, nhờ nhu cầu trong nước và sản xuất định hướng xuất khẩu được duy trì ở mức cao GDP thực tăng ước khoảng 7%, tương

tự tỷ lệ tăng trưởng trong năm 2018, điều này cho thấy Việt Nam là một trong những quốc gia

có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực

Năm 2020, với độ mở về kinh tế và sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam bị tác động nặng nề bởi đại dịch Covid-19 Tăng trưởng GDP đạt 1,8% trong nửa đầu năm,

dự kiến cả năm đạt 2,8% Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới không dự báo suy thoái kinh tế, nhưng tốc độ tăng trưởng dự kiến năm nay thấp hơn nhiều so với dự báo trước khủng hoảng (6-7%) Tuy nhiên, tác động của dịch Covid-19 rất khó đoán định, tùy thuộc vào quy mô và thời gian kéo dài của dịch bệnh Sức ép lên tài chính công sẽ gia tăng do thu ngân sách giảm, trong khi chi ngân sách tăng lên để kích hoạt các gói hỗ trợ các hộ gia đình và doanh nghiệp giảm thiểu tác động của đại dịch Covid-19

Trang 9

Về xã hội: Việt Nam đang chứng kiến sự thay đổi nhanh về cơ cấu dân số và xã hội Dân số Việt

Nam đã đạt 96,5 triệu dân vào năm 2019 và dự kiến sẽ tăng lên 120 triệu dân tới năm 2050 Hiện nay, 70% dân số có độ tuổi dưới 35, với tuổi thọ trung bình gần 76 tuổi, cao hơn những nước có thu nhập tương đương trong khu vực Tầng lớp trung lưu đang hình thành, hiện chiếm khoảng 13% dân số và dự kiến sẽ tăng lên đến 26% vào năm 2026

Trong giai đoạn 2010-2020, Chỉ số vốn nhân lực của Việt Nam tăng từ 0,66 lên 0,69 Một em bé Việt Nam được sinh ra ở thời điểm hiện nay khi lớn lên sẽ đạt mức năng suất bằng 69% so với cũng đứa trẻ đó được học tập và chăm sóc sức khỏe đầy đủ Như vậy, Việt Nam là quốc gia có Chỉ số Vốn con người cao nhất trong số các quốc gia có thu nhập trung bình, tuy nhiên vẫn còn tồn tại khoảng cách giữa các địa phương, nhất là ở nhóm dân tộc thiểu số

Y tế của nước ta cũng đạt nhiều tiến bộ khi mức sống ngày càng cải thiện Trong giai đoạn 1993-2017, tỷ suất tử vong ở trẻ sơ sinh giảm từ 32,6 xuống còn 16,7 (trên 1.000 trẻ sinh) Tuổi thọ trung bình tăng từ 70,5 lên 76,3 tuổi trong giai đoạn 1990-2016 Chỉ số bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân là 73, cao hơn mức trung bình của khu vực và thế giới, với 87% dân số có bảo hiểm y tế Tuy nhiên, tỷ lệ chênh lệch giới tính khi sinh còn ở mức cao và ngày một tăng, điều này cho thấy tình trạng phân biệt giới tính vẫn còn tồn tại Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất, dự báo đến năm 2050 nhóm tuổi trên 65 sẽ tăng gấp 2,5 lần

Trong 30 năm qua, việc cung cấp các dịch vụ cơ bản đã có sự thay đổi tích cực Khả năng người dân tiếp cận hạ tầng cơ sở được cải thiện Tính đến năm 2016, 99% dân số sử dụng điện chiếu sáng, cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ 14% năm 1993 Tỷ lệ tiếp cận nước sạch nông thôn cũng được cải thiện, từ 17% năm 1993 lên 70% năm 2016, trong khi tỷ lệ ở thành thị là trên 95% Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đầu tư cơ sở vật chất tính theo phần trăm GDP của Việt Nam nằm trong nhóm thấp nhất trong khu vực ASEAN Điều này tạo ra thách thức không nhỏ đối với sự phát triển liên tục của các dịch vụ cơ sở hạ tầng hiện đại cần thiết cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo (Việt Nam xếp thứ 89 trong số 137 quốc gia về chất lượng cơ sở hạ tầng).

1.2 Những vấn đề cần tiếp tục xem xét và hoàn thiện

Nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta được hình thành và phát triển trên cơ sở phát huy vai trò làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng lãnh đạo

Nhà nước ngày càng tăng dần vai trò chủ thể quản lý và thu hẹp dần vai trò chủ thể về kinh

tế Theo đó, Nhà nước thực hiện quản lý nền kinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách

và lực

lượng vật chất, bảo đảm cho thị trường phát triển, tuân thủ các quy luật của KTTT, tương

thích với thông lệ quốc tế; kiến tạo được môi trường vĩ mô; xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở và bảo đảm an sinh xã hội; ban hành cơ chế chính sách về phân bổ nguồn lực, phân phối và phân phối lại theo hướng bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội; bảo vệ môi trường

Đồng thời, Nhà nước bảo đảm được vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, hoàn thiện các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô, tăng cường kỷ luật kỷ cương trong việc chấp hành các chế độ chính sách,

Trang 10

sử dụng các chương trình đầu tư tín dụng để tạo điều kiện và hướng dẫn sự phát triển của

các ngành, các địa phương và các thành phần kinh tế

Các chủ trương, chính sách kinh tế và tổ chức thực hiện chính sách của Nhà nước cần thiết kế

để phù hợp với cơ chế thị trường, mang lại lợi ích và công bằng xã hội, ổn định và tăng trưởng kinh tế hợp lý, ngăn ngừa tình trạng độc quyền, lạm dụng và nhân danh KTTT để can thiệp làm méo mó thị trường, lệch lạc các nguồn lực và tổn hại lợi ích cộng đồng, hạn chế các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh…

Giải quyết quan hệ giữa Nhà nước và thị trường trong xây dựng nền KTTT định hướng XHCN là một sự nghiệp chưa có tiền lệ trong lịch sử và là một quá trình mở, đòi hỏi sự sáng tạo và bản lĩnh cách mạng của Đảng, trên cơ sở nhận thức đầy đủ, tôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của KTTT, thông lệ quốc tế, phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam Thực tế cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, về cơ bản, Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục

chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang nền KTTT định hướng XHCN với những thành tựu KT-XH ngày càng to lớn Thể chế KTTT, đặc biệt là hệ thống luật pháp và bộ máy quản lý ngày càng được xây dựng, hoàn thiện theo hướng tiến bộ, phù hợp Công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế được triển khai sâu rộng và hiệu quả Dân chủ trong xã hội tiếp tục được mở rộng Chính trị-xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững

Tuy nhiên, do phát triển KTTT định hướng XHCN là một sự nghiệp, một quá trình chưa có tiền

lệ nên có những vấn đề đặt ra trong điều kiện hiện nay cần phải được tiếp tục xem xét và hoàn thiện, cụ thể:

Thứ nhất, nền KTTT định hướng XHCN mà Việt Nam đang xây dựng là một nền kinh tế mang

tính đặc thù, phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa và những giá trị XHCN đất nước đang phấn đấu Thế nhưng, vấn đề cần xem xét là liệu chúng ta có thể nghiên cứu để áp dụng nhiều hơn, đầy đủ hơn những quy luật, những giá trị chung của thể chế KTTT nhằm tạo thuận lợi

sự phát triển vừa nhanh hơn, vừa bền vững hơn

Thứ hai, định hướng của Đảng và Nhà nước và thực tiễn vừa qua đã chứng minh rằng, để phát

triển nền kinh tế Việt Nam không thể chỉ dựa vào một thành phần kinh tế nào, mà cần phải khơi dậy được mọi tiềm năng, mọi nguồn lực của đất nước, với một khát vọng chung là xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường Để hiện thực hóa điều đó, cả nước đang phát động tinh thần khởi nghiệp với mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam sẽ có khoảng 1 triệu DN

Như vậy, nòng cốt để phát triển kinh tế Việt Nam, là chỗ dựa bền vững cho kinh tế đất nước, phải chăng là mọi thành phần kinh tế trong nước, bao gồm cả: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và KTTN? Như vậy, về định hướng vĩ mô, liệu chúng ta cần có sự thay đổi nào không để khơi dậy được mọi tiềm lực kinh tế của đất nước; tạo ra một sân chơi thực sự công bằng, bình đẳng, trong thụ hưởng chính sách, được tiếp cận các nguồn lực và việc tuân thủ luật pháp?

Thứ ba, bảo đảm rằng sự phát triển của đất nước là sự phát triển có tính bao trùm và không quá

thiên lệch, tạo ra sự phân biệt về giàu nghèo quá lớn giữa các vùng miền, giữa các thành phần, đối tượng trong xã hội

Ngày đăng: 30/11/2022, 14:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w