1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) bài báo cáo đề tài tóm tắt SÁCH GIÁO TRÌNH GIA ĐÌNH học

47 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tóm Tắt Sách “Giáo Trình Gia Đình Học”
Tác giả Trần Mai Ly, Đỗ Kim Ngân, Nguyễn Thị Tuyết Trinh
Người hướng dẫn Ths. Nguyễn Văn Tường
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại bài báo cáo
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 771,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hộ gia đìnhTrong hệ thống Các Tài Khoản Quốc gia của Liên hợp quốc UNSNA 2008, hộ gia đình được phân thành hai loại: - Hộ gia đình một người, được định nghĩa như một sự sắp xếp trong đó

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHTRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Giảng viên hướng dẫn: Ths Nguyễn Văn Tường

Sinh viên thực hiện: Trần Mai Ly – 1556120057

Đỗ Kim Ngân – 1556120064 Nguyễn Thị Tuyết Trinh - 1556120121 Lớp: Tâm lý giáo dục – Giáo dục học K15

Nhóm: 4

Thứ 3, ngày 5 tháng 12 năm 2017

Trang 2

GIÁO TRÌNH GIA ĐÌNH HỌC

Chương 1

KHÁI NIỆM VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU GIA ĐÌNH

1 Khái niệm gia đình và hộ gia đình

1 1 Gia đình

- E.W Byrgess và H.J.Locke trong gia đình (1953), đã đưa ra định nghĩa sau: “Gia đình là một nhóm người đoàn kết với nhau bằng mối liên hệ hôn nhân, huyếtthống và việc nhận con nuôi tạo thành một hộ đơn giản, tác động lẫn nhau trong vaitrò tương ứng của họ là người chồng và là người vợ, người mẹ và người cha, an hem

và chị em, tạo ra nền văn hóa chung” (dẫn theo Tương Lai, 1996:27).

- Định nghĩa của Wiliam J.Goode, (1971), đã đưa ra một số chuẩn mực để xácđịnh gia đình dựa trên các mối quan hệ bên trong gia đình, “giúp chúng ta khi xácđịnh, xây dựng khái niệm gia đình phải chú ý đến mối quan hệ giữa các thành viên vềquyền hạn và trách nhiệm:

1 Ít nhất có hai người có giới tính khác nhau, trưởng thành sống với nhau

2 Họ đảm nhiệm những vai trò khác nhau trong gia đình

3 Họ phải tham gia vào sự trao đổi về tình cảm, kinh tế, xã hội

4 Họ phải chia sẻ nhiều điểm chung: tình dục, ăn uống, các vật dụng, cư trú, các hoạt động xã hội

5 Những người trưởng thành có mối quan hệ cha mẹ với con cái của họ và ngượclại với con cái của họ cũng vậy Cả hai phía đều phải chia sẻ trách nhiệm với nhau

6 Giữa con cái có mối quan hệ ruột và có một loạt trách nhiệm với nhau Goodechỉ ra rằng nếu một tế bào nào (của xã hội) có hội đủ các tiêu chí trên thì là một giađình (dẫn theo Steven L.Nock, 1987:50)…

Trang 3

1.2 Hộ gia đình

Trong hệ thống Các Tài Khoản Quốc gia của Liên hợp quốc (UNSNA) 2008, hộ gia đình được phân thành hai loại:

- Hộ gia đình một người, được định nghĩa như một sự sắp xếp trong đó một

người tự cung cấp thức ăn và những yếu tố cần thiết khác cho riêng mình mà không

kết hợp với bất kì người nào khác để tạo thành một hộ gia đình nhiều người;

- Hộ gia đình nhiều người, được định nghĩa là một nhóm gồm hai hay nhiều

người sống cùng nhau, cùng cung cấp thức ăn hoặc những yếu tố cần thiết khác chocuộc sống

Hộ gia đình là quan hệ pháp luật dân sự Theo qui định của Bộ luật Dân sự: “Hộ giađình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tếchung trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất,kinh doanh khác do pháp luật qui định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộccác lĩnh vực này” (Điều 106)

2 Lịch sử nghiên cứu gia đình

Theo H.T.Christensen (1964) (dẫn theo Steven L.Nock, 1987): “Thời kì nghiên cứukhoa học về gia đình có hệ thống nhất cũng chỉ mới bắt đầu từ giữa thế kỉ XIX Ngoàithời kì tiền nghiên cứu; ông phân biệt ra 3 giai đoạn phát triển của các công trìnhnghiên cứu về gia đình:

2.1 Giai đoạn 1: Nửa cuối thế kỉ XIX

- Ở giai đoạn này phải kể đến H.W.Riehl và F.Le Play được xem như người sánglập xã hội học gia đình Các công trình của họ xuất hiện vào năm 1855 mà trong đócuốn “gia đình” của H.W.Riehl đã xuất bản lần thứ 17 Công trình của cả hai ngườimiêu tả gia đình đương thời, đặc biệt là những khiếm khuyết và hiện tượng tan vỡ.Theo hai ông, hiệu lực vạn năng của cấu trúc quyền uy gia trưởng là vấn đề không còn

gì bàn cãi

Trang 4

- Những nghiên cứu của Le Play tập trung chủ yếu vào những vấn đề sau: 1) Xácđịnh vị trí chỗ ở, loại lao động gia đình và vị trí xã hội của gia đình; 2) Phương tiệngiữ gìn gia đình: lợi tức, công việc, lao động; 3) Phương tiện duy trì gia đình như: ănuống, nhà ở, trang thiết bị, quần áo, nghỉ ngơi; 4) Lịch sử gia đình, các phong tục vàcác phương tiện đảm bảo tính liên tục của nó; 5) Ngân sách gia đình: lợi tức, chi tiêu

và kế hạch toán

 Như vậy, những nghiên cứu xã hội học gia đình buổi đầu đã cố gắng nêu ra sự bộc

lộ những khuyết tật của xã hội được tìm thấy trong nghiên cứu xã hội học gia đình

2.2 Giai đoạn 2: Nửa đầu thế kỉ XX

- Cheistensen gọi giai đoạn này là khoa học thăng hoa (Emerging Science) Vàogiai đoạn này cũng nổi lên cuộc tranh luận sôi nổi về vai trò của người phụ nữ trong

đó có chứa đựng vấn đề về gia đình, đặc biệt từ sau 1910 khi có những người phụ nữđầu tiên được đào tạo qua bậc đại học

- Trong giai đoạn này, những công trình nghiên cứu về những quan hệ bên trong

và về những tác động qua lại trong gia đình đã phát triển mạnh mẽ

- Ernest W.Burgee (1926) trong bài báo của mình, khi lưu ý đến các nhà xã hội

về các quá trình tâm lí bên trong gia đình, tác giả đã đĩnh nghĩa “gia đình như là sựthống nhất các hoạt động hợp tác qua lại của các cá nhân với nhau” Ông hướng sựnghiên cứu của mình vào những mô hình tương tác giữa các thành viên trong gia đình.Burgee đã cùng với sinh viên của mình phát triển nghiên cứu gia đình thành một mônhọc có tính hệ thống thông qua việc nghiên cứu các vấn đề: sự điều chỉnh hôn nhân;

sự tác động qua lại và sự chọn lựa bạn đời

- Những công trình nghiên cứu của Burgee đã tọa cơ sở cho nghiên cứu gia đìnhnửa đầu thế kỉ XX Năm 1950 thực sự là năm nghiên cứu về hôn nhân và gia đình

Trang 5

- Burgee và Locke chứng minh, gia đình nhỏ phát triển từ mối quan hệ đồngnghiệp và tình bạn đi đến chỗ gắn bó trực tiếp và không có khoảng cách giữa bố mẹ vàcon cái.

- Ở thế kỉ XX, gia đình cũng trở thành đối tượng quan âm của tâm lí học và đặc biệt là của tâm lí xã hội và tâm lí giáo dục

2.3 Giai đoạn 3: Nửa sau thế kỉ XX

Những thay đổi nghiên cứu xã hội học gia đình trong giai đoạn này so với giai đoạn trước thể hiện ở mấy điểm sau:

- Thứ nhất: Có sự phát triển trong các lĩnh vực của các nhà chuyên môn, họ tintưởng vào việc cần thiết phải tổng hợp những nghiên cứu bị phân tán và sự cần thiếtphải xây dựng lí thuyết gia đình dựa trên những cơ sở kinh nghiệm đã được phổ biếnkhá rộng rãi

- Thứ hai: người ta đã chú ý hơn đến những quan hệ của gia đình với cấu trúcbên ngoài (môi trường xã hội gần nhất và với toàn xã hội) người ta đã chú ý nghiêncứu về hoàn cảnh sống của các gia đình trong cơ cấu tầng lớp, giai cấp và sự khác biệtcủa các gia đình trong các cơ cấu này; các kiểu ngành nghề khác nhahu của gia đình;các gia đình sống ở những vùng và các địa phương khác nhau (nông thôn, thành phố,khu công nghiệp hoặc nông nghiệp,…)

- Thứ ba: có thể nhận thấy sự phát triển nhanh chóng của các nghiên cứu kinhnghiệm có tính chất so sánh về gia đình ở các nước các lục địa và các nền văn hóakhác nhau

- Thứ tư: đã bắt đầu xuất hiện những phân tích cuộc sống gia đình mang tính

chất của nhiều ngành học thuật: tâm lí học, giáo dục hoc, luật sinh lí học, y học…

3 Gia đình trong nghiên cứu của một số ngành khoa học xã hội

- Gia đình từ nhân khẩu học: Trong bài phát biểu “Mười năm nhân khẩu học giađình”, Patirch Festy coi gia đình là trung tâm nghiên cứu về nhân khẩu học về haichiều cạnh Trước hết, khả năng sinh đẻ gắn liền với gia đình: trẻ em

Trang 6

thương được sinh ra trong khuôn hổ gia đình Sau nữa về căn bản, cư dân tậptrung thành những gia đình với những kiểu khác nhau mà cấu trúc của chúng

đã trở thành đối tượng chủ yếu của nhân khẩu hiện đại

- Gia đình nhìn từ kinh tế học: Trong bài phát biểu của mình, M.Glaude xem xét

một vài yếu tố kinh tế của đời sống gia đình hiện nay: chi phí nuôi con, việclàm và thừa kế tài sản… Như vậy phải phân tích mức tiêu dùng và mức cung

về lao động của những cá nhân khác nhau trong gia đình…

- Gia đình nhìn từ sử học: Trong vấn đề được chú trọng thì có lịch sử của cácmối quan hệ nam, nữ, lịch sử hình thành lứa đôi, hôn nhân, tình yêu trước và sau hônnhân, lịch sử giữa các quan hệ bố mẹ và con cái, lịch sử tình dục các nhà tâm lí họcquan tâm đến tiểu sử, các nhật kí riêng, các thư từ gia đình Điều đặc biệt chú trọng làmối quan hệ giữa thực tế gia đình và các cá nhân tạo thành thực tế đó

- Gia đình nhìn từ luật học: Bên cạnh những phân tích cổ điển về luật pháp giađình, đã xuất hiện những nghiên cứu mới đánh giá những hậu quả của luật pháp, vaitrò của những khâu trung gian trong việc hiểu và áp dụng qui tắc pháp lí… Đưa racách tiếp cận mới để giải quyết những xung đột gia đình, sự li hôn… bằng các thẩmquyền và thẩm phán

4 Đối tượng nghiên cứu của gia đình học

- Gia đình học tìm kiếm sự giải thích về bản chất trật tự xã hội học và rối loạn xãhội của gia đình Miêu tả, giải thích về các hệ thống gia đình và nhóm gia đình Đồngthời tìm hiểu những mối liên hệ, sự hình thành, phát triển và biến đổi trong các giaiđoạn phát triển khác nhau

- Bên cạnh đó các vấn đề cụ thể trong gia đình là đối tượng nghiên cứu của giađình học luôn luôn thay đổi, do sự phát triển những phương pháp nghiên cứu và quátrình biến đổi toàn xã hội về chính trị và qua đó các vấn đề về gia đình cũng có sựthay đổi Đây là động lực để gia đình học bổ sung, hoàn thiện khái niệm, lí thuyêt vàphương pháp nghiên cứu gia đình

Trang 7

KẾT LUẬN:

- Chương một giới thiệu những quan niệm khác nhau về gia đình, gia đình cũng

là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học thuộc khoa học xã hội và nhân văn

- Chương này cũng giới thiệu khái quát các giai đoạn nghiên cứu gia đình và đối tượng nghiên cứu của gia đình học

Trang 8

Chương 2

CÁCH TIẾP CẬN LÍ THUYẾT NGHIÊN CỨU VỀ GIA

ĐÌNH 1 Cách tiếp cận lý thuyết cấu trúc chức năng

- Lý thuyết cấu trúc chức năng còn được gọi là cấu trúc chức năng hoặc chứcnăng luận, là trường phái lý thuyết thống trị trong xã hội học đến những năm 1970 vàhiện nay vẫn đang được sử dụng, mặc dù không còn ảnh hưởng như trước Trong lĩnhvực gia đình, phạm vi áp dụng của lí thuyết này rất rộng vì nó cung cấp một khung líthuyết cho việc giải quyết các mối liên hệ trong gia đình cũng như ảnh hưởng của các

hệ thống xã hội khác lên gia đình, sự thay đổi và tính ổn định trong các hệ thống giađình

- Khái niệm cấu trúc là khái niệm trung tâm của lí thuyết này và nó liên quan tới

hệ thống các quan hệ vai trò ổn định giữa các thành viên trong xã hội - các mối quan

hệ do nhu cầu tồn tại xã hội chi phối và cấu trúc của các chuẩn mực xã hội học hỏi vàduy trì Do đó các bản chất của các thiết chế và sự sắp xếp theo quy chuẩn các vai tròtrong thiết chế có thể bắt nguồn trực tiếp từ sự phân tích các nhu cầu tồn tại của xã hội

và quan sát cách sắp xếp cho phù hợp với nhu cầu

- Khái niệm chức năng cũng là khái niệm trung tâm của lí thuyết này nhưng khóđịnh nghĩa hơn khái niệm cấu trúc Thông thường chức năng đơn giản là một kháiniệm diễn tả một vật làm cái gì hoặc nó có ảnh hưởng gì Các thiết chế việc làm vàgiáo dục đều được cấu trúc lên quan trực tiếp đến mục tiêu này Các chức năng kháccủa các thiết chế giáo dục mang tính gián tiếp hơn và khó nhận ra hơn, gọi là chứcnăng tiềm ẩn

- Lí thuyết cấu trúc chức năng thừa nhận cả chức năng công khai và tiềm ẩn củacác thiết chế nhưng tập trung hơn vào một khía cạnh cụ thể Các chức năng được xácđịnh rõ phải gắn với nhu cầu tồn tại của xã hội hoặc các thiết chế cụ thể trong xã hội

Đó là các nhu cầu mang tính chức năng dẫn tới cấu trúc được quan sát

Trang 9

- Vai trò xã hội là một tập hợp các hành vi được qui định gắn với một địa vị nào

đó trong cấu trúc xã hội Việc ai thực hiện vai trò là người kiếm tiền không quan trọng

vì người nào đảm nhiệm địa vị này đều phải thực hiện các vai trò tương tự như thế Do

đó các vai trò được thực hiện củng cố bởi các chuẩn mực xã hội - tức là các tập hợpcủa các kì vọng đối với các hành vi do đa số các thành viên trong xã hôi qui định vàthửa nhận khi các cá nhân đi khỏi chuẩn mực, các thành viên trong xã hội sẽ trừngphạt họ bằng cách nào đấy khi họ tuân theo hoặc làm tốt thì họ sẽ được thưởng

- Ngày nay ứng dụng chính của cách tiếp cận cấu trúc chức năng xã hội là để giảithích các bộ phận của một xã hội và các khía cạnh trong đó những bộ phận này quan

hệ với nhau bao gồm cả bên trong và bên ngoài hệ thống cụ thể trong nghiên cứu Mỗi

bộ phận cấu thành của xã hội phải nhìn nhận trong mối quan hệ với tổng thể, vì từng

bộ phận hoạt động trong và tương tác với các bộ phận khác Do đó nhiệm vụ của phântích cấu túc chức năng là giải thích các bộ phận, mối quan hệ giữa các bộ phận, mốiquan hệ giữa các bộ phận và tổng thể, và các chức năng được thực hiện, kết quả củamối quan hệ do các bộ phận đó tạo ra

2 Cách tiếp cận lí thuyết xung đột xã hội

- Có lẽ một trong những giả thiết cơ bản nhất của lí thuyết xung đột xã hội là sựxung đột mang tính tự nhiên và không thể thiếu trong tương tác của con người

- Lí thuyết xung đột về cơ bản là lí thuyết ở cấp độ vĩ mô coi hành vi của cá nhân

bị qui định bởi vị trí của họ trong hệ thống xã hội và nguồn gốc của sự thay đổi xã hộidiễn ra ở cấp độ hệ thống hơn là kết quả của các sáng kiến cá nhân Các nhà xung độtcũng quan tâm nhiều đến vấn đề xung đột ở cấp độ vi mô nhưng việc này chỉ mangtính tạm thời vì bất kì nguồn gốc nào của sự thay đổi trong bản chất của xung độttrong một nhóm cũng phải bắt nguồn từ sự thay đổi trong cấu trúc

- Lí thuyết xung đột xã hội có bốn giả thiết cơ bản: 1) Xung đột là thuộc tính cốhữu (luôn luôn tồn tại) trong mọi nhóm xã hội; 2) Xung đột định hình các thiết

9

Trang 10

chế và các mối quan hệ; 3) Xung đột là trật tự của nguồn gốc và sự thay đổi; 4)

Sự biểu hiện của xung đột có thể tạo ra một sức ép tích cực lên mối quan hệ

- Hòa bình và trật tự có tốt hơn xung đột và sự thay đổi? Giả thuyết thứ 4 chorằng trật tự không hẳn là tốt và xung đột không hẳn là không tốt, sự biểu hiện củaxung đột có thể mang lại nhiều kết quả tích cực cho các mối quan hệ tới mức mà nóvạch ra sự không hài lòng và bất bình đẳng mà có thể được xác định thông qua thươnglượng, đàm phán và thường dẫn đến ý tưởng làm thế nào để thay đổi một mối quan hệnhằm nhấn mạnh mức độ thỏa mãn của những người tham gia

3 Cách tiếp cận lí thuyết tương tác biểu trưng

- Lí thuyết tương tác biểu trưng mô tả một phương thức đặc thù để nghiên cứucuộc sống của một nhóm vá các hành vi cá nhân của loài người, là một lí thuyết tâm lí

xã hội, lí thuyết tương tác biểu trưng tập trung vào hai chủ đề: xã hội hóa và tương tác

xã hội - Cả hai chủ đề này là mối quan tâm chủ yếu của gia đình Chủ đề đầu tiên xãhội hóa tập trung vào cách các cá nhân trở thành chủ thể xã hội, cách con người học

và tiếp thu các khuôn mẫu hành vi cũng như cách suy nghĩ, cảm nhận xã hội và nềnvăn hóa mà họ đang sống Chủ đề thứ hai, tương tác xã hội là nền tảng cho quá trình

cá nhân tự xã hội hóa và cho tất cả các khía cạnh của đời sống Tương tác xã hội tậptrung vào tầm quan trọng của các biểu tượng trong quá trình tương tác, cá nhân trongmối quan hệ với những người khác, và sự trao đổi xã hội giữa cá nhân và các nhóm

- LaRossa và Rietzes nêu ra 7 giả thuyết của quan điểm này:

Con người hành động hướng tới các vật dựa trên ý nghĩa mà các vt65 mang lại cho họ

Ý nghĩa hình thành trong quá trình con người tương tác với nhau

Ý nghĩa được nắm bắt và biến đổi trong quá trình diễn giải, con người nắm bắt

và sửa đổi ý nghĩa về các sự vật họ tiếp xúc thông qua quá trình diễn giải

Trang 11

Các cá nhân sinh ra không có cảm giác về cái tôi mà khái niệm cái tôi được xây dựng trong quá trình tương tác xã hội.

Khái niệm cái tôi, khi đã được xây dựng là một động lực quan trong cho hành –vi

Các cá nhân và các nhóm bị ảnh hưởng bởi các nhóm xã hội và văn hóa rộng hơn

Thông qua tương tác xã hội trong các tình huống hằng ngày, các cá nhân tạo ra các chi tiết của cấu trúc xã hội

 Do đó, bằng việc tìm kiếm ý nghĩa hoặc cách hiểu chung về thực tế và đặc biệt,việc tìm kiếm sự ổn định ý nghĩa của cái tôi thông qua sự phản ứng lại người khác, tất

cả tương tác của con người có thể coi như động lực trong hoạt động của các nhóm

4 Cách tiếp cận lí thuyết trao đổi xã hội

- Lí thuyết trao đổi xã hội hay còn gọi là lí thuyết lựa chọn xã hội hay lí thuyếtlựa chọn hợp lí dựa trên niềm tin rằng con người bị thôi thúc phải hành động theocách chi phí bỏ ra tối thiểu để đạt được phần thưởng tối đa và họ đã có một quá trìnhtính toán và cân nhắc các khả năng có thể xảy ra trước khi hành động Lí thuyết traođổi xã hội có hai trường phái mà đại diện tiêu biểu là George Homans và Peter Blau.Homans người khởi xướng cho lí thuyết trao đổi đưa ra quan điểm khá gần gũi với cácnhà tâm lí học hành vi - trường phái tin vào sự đơn giản hóa tâm lí học, trong đó tậptrung vào các hành vi thực tế được khen thưởng hoặc bị trừng phạt Con người, phảnứng kích thích dựa trên nhu cầu phần thưởng

- Cả Homans và Blau đều thống nhất rằng điều quan trọng là mỗi bên tham giavào cuộc trao đổi đều mong nhận dược một cái gì đó ngang bằng hoặc lớn hơn cái họđưa ra trao đổi điều này liên quan đến sự nhân nhượng Do đó tất cả các cuộc trao đổi

xã hội bao gồm các kì vọng lẫn nhau tức là sự trao đổi lẫn nhau

Trang 12

xảy ra Khi sự nhân nhượng không xảy ra, quan hệ trao đổi bị nhìn nhận là không công bằng.

- Do đó, trong các nghiên cứu về hôn nhân và đời sống gia đình theo quan điểmnày, mối quan hệ giữa các cá nhân thành viên trong gia đình bị chi phối và phụ thuộcvào phần thưởng tối đa và chi phí tối thiểu trong bối cảnh cân bằng về nguồn lực giữacác thành viên, các kì vọng của mỗi người có thể nhận bao nhiêu và đáng được nhânbao nhiêu dựa trên nguồn lực cá nhân và mức độ phần thưởng, chi phí trong tương lai,

sự đánh giá về phần thưởng (được) chi phí (mất) lần trước đã nhận được

5 Cách tiếp cận lí thuyết hệ thống gia đình

- Lí thuyết hệ thống gia đình coi gia đình như hệ thống sinh sống nhằm phản ứnglại sức ép của môi trường nhưng thực hiện trong sự tương tác với ảnh hưởng của nhậnthức và động lực của các thành viên trong gia đình Mỗi hệ thống gia đình phải thíchnghi với các điều kiện môi trường để tồn tại nhưng phải thay đổi cấu trúc và thay đổiquá trình thích nghi vì các nhu cầu và mong ước của các thành viên trong gia đình

- Giống như các lí thuyết vĩ mô, lí thuyết hệ thống gia đình giả định rằng tổngthể quan trọng hơn tổng số các bộ phận Quan điểm hệ thống cố gắng chỉ rõ các cơchế mà gia đình thích ứng với các điều kiện bên trong và bên ngoài bằng việc xác địnhcác khái niệm như hệ thống truyền thông và quá trình phản hồi Khi trẻ có hành vikhông đúng đắn, đi lệch ra khỏi các tiêu chuẩn đó, cha mẹ có thể điều chỉnh bằng cáchtăng mức độ kiểm soát

6 Cách tiếp cận lí thuyết phát triển

- Lí thuyết phát triển bao gồm các phạm vi rộng lớn và có xu hướng kết hợp cảcách tiếp cận vĩ mô và vi mô Điển hình ở cách tiếp cận này là ở chỗ lí thuyết này cốgắng lí giải cả những thay đổi ở trong hệ thống gia đình cũng như những thay đổitrong các khuôn mẫu tương tác theo thời gian

Trang 13

- Khái niệm cơ bản mà các học giả về gia đình đang tranh luận thời gian này làkhái niệm “Vòng đời của gia đình” Hiện nay lí thuyết này được gắn với khái niệm

“Diễn tiến cuộc đời” với sự thay đổi và khác biệt vượt quá thời gian

- Thành công của nhiệm vụ này làm cho cá nhân thấy hạnh phúc được công nhận

về mặt xã hội và tiếp tục thành công ở các nhiệm vụ khác, ngược lại sự thất bại sẽ làmcho cá nhân đau khổ và gặp nhiều khó khăn trong các nhiệm vụ sau đó Các nhiệm vụphát triền có hai nguồn gốc cơ bản: 1) Độ chín về mặt thể lực; 2) Các sức ép và đặcđiểm văn hóa

- Duvall đã nhận diện và mô tả dòng đời của gia đình bao gồm 8 giai đoạn:Giai đoạn 1: Vợ chồng kết hôn (chưa có con)

Giai đoạn 2: Gia đình có con nhỏ (con lớn nhất dưới 30 tháng)

Giai đoạn 3: Gia đình có con trước tuổi đi học (con lớn nhất từ 30 tháng đến 6 tuổi)

Giai đoạn 4: Gia đình có con đang đi học (con lớn nhất từ 6-13 tuổi)

Giai đoạn 5: Gia đình có con trong độ tuổi vị thành niên (con lớn nhất từ 13-20tuổi)

Giai đoạn 6: Gia đình như một trung tâm mở (từ lúc đứa con da9u62 tiên cho đến đứa con cuối cùng rời khỏi nhà)

Giai đoạn 7: Gia đình trung niên (từ lúc gia đình trống rỗng đến con cái đã đi hết và cho tới khi về hưu)

Giai đoạn 8: Gia đình cao tuổi (từ lúc về hưu cho tới khi cả hai vợ chồng đều mất)

- Ngoài lí thuyết trên còn có cách tiếp cận lí thuyết khác nghiên cứu về gia đình như: lí thuyết nữ quyền, thuyết hệ thống sinh thái…

KẾT LUẬN:

- Trên đây là một số cách tiếp cận lí thuyết chủ yếu trong nghiên cứu gia đình.Những lí thuyết này đều có thể vận dụng vào công tác xã hội với cá nhân và nhóm giađình Ví dụ với các vấn đề bạo lực gia đình, ly hôn có thể vận dụng lí

Trang 14

thuyết xung đột; thuyết tương tác biểu trưng; với vấn đề giáo dục trẻ em tronggia đình có thể vận dụng thuyết cơ cấu chức năng và thuyết phát triển; với cácgia đình chỉ có cha/mẹ và con cái có thể vận dụng các lí thuyết vai trò, lí thuyết

hệ thống…

Trang 15

Chương 3

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU GIA ĐÌNH 2 Các bước thực hiện nghiên cứu

2.1 Xác định vấn đề nghiên cứu

2.2 Tổng quan tài liệu

2.3 Mục tiêu nghiên cứu

2.4 Câu hỏi nghiên cứu

2.5 Giả thuyết nghiên cứu

2.6 Các phương pháp thu thập thông tin

- Phân tích tài liệu và dữ liệu thứ cấp + Giúp cho tổng quan vấn đề

+ So sánh những nghiên cứu +

Gợi mở ý tưởng nghiên cứu +

Kế thừa nghiên cứu trước

+ Biết thêm tài liệu khác có liên quan

+ Tránh được những sai sót lầm lẫn

- Nghiên cứu định tính

+ Phỏng vấn cá nhân

+ Thảo luận nhóm tập trung

Nghiên cứu định lượng

3 Tình bày kết quả nghiên cứu

3 1 Tên báo cáo

3.2. Tóm tắt

Trang 16

3.3. Giới thiệu

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.5. Kết quả

3.6. Kết luận và đề nghị

3.7. Tài liệu tham khảo

4 Những lưu ý khi nghiên cứu về một vài chủ đề gia đình

4 1 Phân tích tài liệu

4.1.2 Khai thác tài liệu từ nguồn nào?

+ Từ văn hóa dân gian

+ Các văn bản pháp luật về chính sách xã hội

+ Từ tạp chí chuyên nghành, sách và các đề tài ghiên cứu+ Các đề tài ngiên cứu không xuất bản

+ Tài liệu thống kê

+ Các báo cáo của các bộ, ngành, đoàn thể

+ Từ các phương tiện truyền thông đại chúng

+ Hương ước, gia tộc, gia phả

+ Tài liệu cá nhân

4.1.2 Một vài lưu ý khi khai thác tài liệu

Trang 17

4.2 Nghiên cứu về bạo lực gia đình ở Việt Nam

- Không nên tuyệt đối hóa bạo lực giới một chiều.

- Không nên chỉ giới hạn bạo lực gia đình trong mối quan hệ vợ chồng.

- Cần tránh những sai sót về phương pháp nghiên cứu, điều tra về bạo lực gia đình như một vài dẫn chứng sau đây:

Một là, chỉ nghiên cứu nhóm đặc thù mà khái quát chung cho tất cả.

Hai là, nghiên cứu bạo lực gia đình nhưng chỉ tập trung nghiên cứu nạn

nhân Ba là, chọn mẫu nghiên cứu thiếu tính đại diện

 Những hạn chế nói trên trong nghiên cứu về bạo lực gia đình ở Việt Nam khicông bố trên các phương tiện truyền thông đại chúng sẽ sẽ dẫn đến những hiểu lầmđáng tiếc Ví dụ như: Có một vài tờ báo đăng tin về kết quả nghiên cứu bạo lực giađình ở Việt Nam, rồi có hãng thông tấn nước ngoài đưa tin lại, khiến cho một tổ chứcquốc tế tại Việt Nam phải lên tiếng bác bỏ luận điểm hoàn toàn sai sự thật trong bài “Phần lớn phụ nữ Việt Nam bị ngược đãi” khi nói rằng: “Hầu hết nam giới và phụ nữViệt Nam cho rằng đàn ông ngược đãi vợ là chuyện có thể chấp nhận được” (BáoNhân Dân, ngày 25/10/2002)

4.3 Nghiên cứu về li hôn

- Đề cập đến li hôn, một nhà nghiên cứu viết rằng: “Li hôn là cuộc khủng hoảng của sự biến đổi gia đình gây ra những thay đổi bên trong hệ thống gia đình”

- Trước hiện tượng li hôn, dư luận xã hội cũng có hai quan điểm trái ngược nhau.Một là, ủng hộ việc hai người chia tay vì “Tình cảm vợ chồng không còn nữa thì giảithoát cho nhau” để đem lại tự do cho cá nhân cảm thấy không hạnh phúc trong cuộchôn nhân của mình Hai là, không ủng hộ li hôn vì như vậy nó sẽ góp phần làm suyyếu gia đình-tế bào của xã hội - đồng thời nó mang lại hệ quả không lường trước đượcđối với các thành viên trong gia đình, đặc biệt là với trẻ em

Trang 18

- Bất kể quan điểm ủng hộ hay phản đối, li hôn như một hiện tượng xã hội vẫn

cứ diễn ra ở những mức độ khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh văn hóa, phong tục tậpquán, sự phát triển kinh tế-xã hội của các vủng miền và các quốc gia

4.3.1 Phương pháp nghiên cứu li hôn

- Phương pháp luận

- Phương pháp tính tỉ lệ li hôn

Lấy số vụ li hôn chia cho 1000 người trong tống số dân của quốc gia

Lấy số vụ li hôn chia cho 1000 phụ nữ kết hôn từ độ tuổi 15 trở lên

Lấy số vụ li hôn công bố trong năm chia cho số vụ kết hôn cùng năm

4.3.2 Về tỉ lệ li hôn ở Việt Nam

- Kết hôn và li hôn là hai mặt của hiện tượng trong đời sống gia đình Cho dù cóthể một trường hợp li hôn là sự giải thoát cho họ khỏi tù túng trong đời sống hônnhân, thì hệ quả li hôn vẫn luôn là gánh nặng của cá nhân và xã hội li hôn không chỉlà: (với người vợ hoặc chồng) mà còn có những “mất mát”, đó là “sự giả trá” của lihôn Đề cập đến vấn đề này, chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam 2005-2010 đãnhận định: “Tình trạng li hôn, li thân, chung sống không kết hôn, bạo lực trong giađình, quan hệ tình dục và nạo phá thai trước hôn nhân gia tăng đã để lại những hậuquả nghiêm trọng về nhiều mặt đối với gia đình và xã hội”

- Ngiên cứu li hôn, nên có sự cẩn trọng khi kết luận sự gia tăng hay giảm củahiện tượng “hợp, tan” này trong hôn nhân Cần sử dụng các phương pháp tính toán và

so sánh một cách khoa học trước khi có thể đi đến kết luận, điều này không chỉ cầnthiết với các nhà nghiên cứu mà cả với các bài viết trên phương tiện truyền thông đạichúng, các nhà báo khi viết về các vấn đề kết hôn, li hôn cũng cần được trang bị kiếnthức chuyên môn về lĩnh vực này

Trang 19

KẾT LUẬN:

- Nội dung được giới thiệu trong chương này không đi sâu và chi tiết về cácphương pháp nghiên cứu, mà chỉ giới thiệu một số nét cơ bản và các bước thực hiệnmột nghiên cứu Chương trình này tập trung giới thiệu những vấn đề quan trọng cầnlưu ý khi khai thác tài liệu, khi nghiên cứu gia đình có “vần đề” như bạo lực gia đình,

li hôn Đây là những chủ đề rất quan trọng đối với công tác xã hội về bạo lực gia đình

Trang 20

Chương 4

SỰ ĐA DẠNG CÁC HÌNH THÁI GIA ĐÌNH

1 Sơ lược về lịch sử phát triển các hình thái của gia đình

- Gia đình huyết tộc: gia đình này được xây dựng trên cơ sở hôn nhân lấy lẫnnhau giữa những người anh em và chị em ruột hay bang hệ, trong cùng một nhóm.(L.Moocgan, 2012:454)

- Gia đình Punaluna: gia đình này được xây dựng trên cơ sở hôn nhân lấy lẫnnhau giữa một số chị em gái, ruột hay bang hệ với những người chồng chung của họ,trong cùng một nhóm, những người chồng chung này không nhất thiết phải là bà concủa nhau; hoặc trên cơ sở hôn nhân lấy lẫn nhau giữa một số an hem trai, ruột haybang hệ với những người lấy chung của họ, trong cùng một nhóm; những người vôchung đó không nhất thiết phải là bà con của nhau; tuy thương là như thế trong cả haitrường hợp trong mỗi trường hợp đều là một nhóm đàn ông lấy chung một nhóm đàn

bà (L.Moocgan, 2012:454)

- Gia đình đối ngẫu hay gia đình cặp đôi: gia đình này được xây dung trên cơ sởhôn nhân của từng cặp một, nhưng không độc quyền ă ở với nhau Quan hệ hôn nhânduy trì bao lâu là tùy theo sở thích của hai bên (L.Moocgan, 2012:454)

- Gia đình phụ quyền: gia đình này được xây dựng trên cơ sở hôn nhân mộtngười đàn ông với một số người vợ, nó thường đi đôi với sự cấm cung của nhữngngười vợ (L.Moocgan, 2012:454)

- Gia đình một vợ một chồng: gia đình này được xây dựng trên cơ sở hôn nhân của từng cặp một, với độc quyền ăn ở với nhau (L.Moocgan, 2012:454)

2 Sự đa dạng của hình thái gia đình

- Gia đình rất đa dạng, nguyên nhân không chỉ bởi có nhiều đĩnh nghĩa khácnhau về gia đình, đến mức không có một định nghĩa duy nhất đúng; mà còn ở sự khácbiệt giữa các dân tộc với sự đa dạng về văn hóa, phong tục, tập quán khiến cho cáchình thái gia đình hết sức đa dạng

Trang 21

- Trong phần này không thể giới thiệu hết tất cả các hình thái gia đình, mà chỉtập trung giới thiệu một vài hình thái gia đình dựa trên một số tiêu chí khác nhau.2.1 Gia đình dựa trên số thế hệ

Gia đình hạt nhân

Gia đình mở rộng

2.2 Gia đình dựa trên quan hệ huyết thống

Gia đình dựa trên nguồn gốc sinh học, là giữa cha mẹ và con cái có mối quan hệhuyết thống đa số gia đình sinh học cả cha mẹ và con cái có mối liên hệ máu mủ,thì ở một bộ phận gia đình chỉ có cha-con hoặc mẹ-con có mối liên hệ này (trượnghợp gia đình phức hợp) hoặc cả hai

2.3 Gia đình dựa trên nơi cư trú sau kết hôn

- Sống chung với gia đình chồng

- Sống chung với gia đình vợ

2.5 Gia đình dựa trên số người tham gia hôn nhân

- Gia đình đơn hôn còn được gọi một cách đơn giản là gia đình một vợ mộtchồng Thuật ngữ chế độ một vợ một chồng (monogamy) mô tả trạng thái hôn nhân,trong đó một người nam lấy một người nữ

- Gia đình đa hôn nhân bao gồm từ ba người trở lên tham gia vào một liên minhhôn nhân Nó gồm hai biến thể đa thê (Polygamy: nhiều vợ), một người đàn

Trang 22

ông cùng một lúc có nhiều vợ và đa phu (Polyandry: nhiều chồng), một người phụ nữ cùng lúc có nhiều chồng.

- Gia đình đa phu là gia đình trong đó, một phụ nữ có thể có nhiều chồng cùngmột lúc Đây là trường hợp trong nên văn hóa của người Toda nam Ấn Độ Tuy nhiên,gia đình đa phu đang có khuynh hướng trở thành cực kì hiếm hoi trong thế giới ngàynay Gia đình này có mặt trong những xã hội hết sức nghèo, nên có tục giết bé gái và

do đó số lượng phụ nữ tương đối ít (Richard T.Schaefer 2005:453)

2.6 Gia đình dựa trên số lần kết hôn của một cặp vợ chồng

- Dựa vào số lần kết hôn của một cặp vợ chồng: có gia đình một lần kết hôn và gia đình nhiều lần kết hôn (gia đình tái hôn)

- Gia đình một lần kết hôn là gia đình cả hai vợ chồng chỉ kết hôn một lần

- Gia đình nhiều lần kết hôn (tái hôn)là loại hình trong đó ít nhất một trong hai

vợ chồng đã từng hết hôn trước đó, nhưng li hôn rồi, lại kết hôn lần nữa Đây là loạigia đình đa hôn biến dạng, hay chế độ một vợ một chồng nhiều lần

3 Một số loại gia đình khác

3 1 Gia đình phức hợp

- Gia đình phức hợp là gia đình mà một trong hai vợ chồng hoặc cả hai có con từcuộc hôn nhân trước (do góa hoặc li hôn) người yêu tái hôn và đem theo con riêng vàogia đình mới Dân gian thường gọi gia đình là gia đình “rổ rá cạp lại”

- Gia đình phức hợp không còn là gia đình hợp hiếm do số lượng các vụ li hôn

và do góa nhiều, đa phần các trường hợp này sau đó lại bước vào hôn nhân mới tạonên gia đình phức hợp

3.2 Gia đình cha/mẹ đơn thân

Trang 23

- Gia đình cha/mẹ đơn thân là những trường hợp chỉ có mẹ và con hoặc cha vớicon, nhưng phần lớn là mẹ với con Nguyên nhân hình thành gia đình này là do góa, lyhôn hoặc làm mẹ đơn thân.

- Li thân, li hôn và góa

- Di cư, xuất khẩu lao động

- Gia đình khuyết thế hệ

3.3 Gia đình nhiều cha mẹ

- Về loại hình gia đình này không phải gia đình đa thê/ đa phu mà là kết quảcủa sự can thiệp khoa học công nghệ, thụ tinh trong ống nghiệm với những trườnghợp cho và nhân tinh trùng/trứng

- Hiện nay tỷ lệ vô sinh của nước ta khá cao: 7,7%, tương đương khoảng 700đến 1 triệu cặp vợ chồng hiếm muộn trong cả nước Vì vậy, việc cho phép sử dụng kĩthuật thụ tinh trrong ống nghiệm để mang thai hộ là nguyện vọng chính đáng đối vớicác trường hợp vì bệnh lí:

Bệnh nhân không có tử cung nhưng vẫn có một hoặc hai buồng trứng hoạt động bình thường: phụ nữ đã bị cắt bỏ tử cung nhưng vẫn giữ lại buồng trứng

vì bất cứ lí do gì

Những phụ nữ bị sảy thai lặp đi lặp lại và khó có thể mang thai Người phụ nữ

đã nhiều lần điều trị bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, có thai nhưng không thể mang thai cho đến khi đẻ ra trẻ có khả năng sống cũng có thể được xem xét

Nhưng người phụ nữ có thể mang thai, nuôi dưỡng thai nhi phát triển nhưng quá trình mang thai ảnh hưởng đến sức khỏe của chính mình: syu tim, suy gan, suy thận,…

Sinh con với sự can thiệp của công nghệ sinh sản, cùng với những trường hợp mang thai hộ/ đẻ thuê sẽ dẫn đến tang loại hình gia đình ba cha mẹ

3.4 Gia đình không con

Ngày đăng: 30/11/2022, 14:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w