Một trog số những lý do nổi bật cho tình trạngkể trên là do các thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam ngày càng đặt ra các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe đối với các sản phẩm thủy sản nó
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
********************************
BÀI TẬP LỚN CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC TẾ
Mã học phần
Họ và tên sinh viên
Mã sinh viên Lớp
: INE 3074 5 : Bùi Trí Kiên : 19051114
: QHE-2019 E KTQT CLC 5
Hà Nội, 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
*****************************
BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN: CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH TRONG NỀN KINH TẾ
Trang 3M c L c ục Lục ục Lục
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Khung phân tích 5
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÀNG RÀO KỸ THUẬT 6
1 Khái niệm 6
2 Đặc điểm của hàng rào kỹ thuật 7
3 Phân loại hàng rào kỹ thuật 7
4 Các hình thức của hàng rào kỹ thuật 8
VAI TRÒ CỦA HÀNG RÀO KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI 8
1 Thực hiện mục tiêu về bảo vệ bảo vệ môi trường, bảo vệ cuộc sống, sức khỏe con người 8
2 Nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, sản phẩm 11
3 Bảo hộ cho ngành sản xuất trong nước 11
LIÊN HỆ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM: TRƯỜNG HỢP XUẤT KHẨU THỦY SẢN SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ 12
1. Hàng rào kỹ thuật trong thương mại có liên quan đến quan hệ Hòa Kỳ và Việt Nam 12
2 Thực trạng xuất khẩu các mặt hàng thủy sản của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ 16
2.1 Thành công đạt được trong xuất khẩu thủy sản tới Hoa Kỳ 17
2.2 Những nhược điểm còn tồn tại 18
3 Giải pháp cho ngành xuất khẩu thủy sản của nước nhà 19
3.1 Đối với Nhà nước 19
3.2 Đối với doanh nghiệp 19
KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại trong nhiều năm trở lại đây đã và đang trở thành xu thế tất yếu, là nền tảng quan trọng của các quốc gia trong quá trình phát triển trên nhiều lĩnh vực Điều này đã và đang được thể hiện rõ ràng thông qua các thay đổi, cải cách của quốc gia trên nhiều mặt nhằm tại ra môi trường kinh doanh thuận lợi, lành mạnh hóa các yếu tố vĩ mô trường nước nhằm tạo điều kiện thúc đẩy các hoạt động thương mại quốc tế gia tăng Tuy nhiên thực
tế cho thấy, bên cạnh việc đẩy mạnh quá trình tự do hóa thương mại quốc tế, các quốc gia cũng quan tâm đến việc bảo vệ nền sản xuất và các yếu tố khác trong nước khỏi các tác động tiêu cực của xu hướng mới thông qua việc sử dụng các công cụ rào cản trong thương mại quốc tế Trong hoàn cảnh mà nền kinh tế toàn cầu có nhiều biến chuyển, quá trình tự do hóa phát triển ngày càng nhanh chóng với những
nỗ lực kết thúc vòng đàm phán thiên niên kỷ giữa các nước thành viên Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã dẫn tới các hàng rào thuế quan liên tục bị cắt giảm.Vốn là công cụ gây cản trở thương mại, một khi bị rỡ bỏ sẽ thúc đẩy hoạt động giaolưu buôn bán giữa các nước diễn ra nhanh hơn và thuận lợi hơn Trước tình hình này, nhiều quốc gia tìm đến việc thực hiện các hàng rào phi thuế quan nhằm thực hiện bảo hộ mậu dịch Trong đó, rào cản kỹ thuật (TBT) nổi lên như một trong những công cụ được sử dụng phổ biến và đem lại nhiều lợi ích cho các quốc gia Việt Nam cũng không nằm ngoài các xu hướng quốc tế nói trên Tháng 1 năm
2007 đã đánh dấu sự kiện Việt Nam chính thức gia nhập WTO, trở thành thành viên thứ của tổ chức Bên cạnh WTO, Việt Nam đã tham gia đàm phán 17 Hiệp định FTA song phương và khu vực Bằng việc tham gia các FTAs, Việt Nam đã
có nhiều cơ hội trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa, thu hút được thêm ngày càng nhiều các nguồn vốn đầu tư cả trực tiếp và giá tiếp từ các nền kinh
tế lớn…tạo nguồn động lực vô cùng lớn cho việc thúc đẩy các hoạt động sản xuất,
Trang 5xuất khẩu trong nước, hoàn thiện các nguồn lực phục vụ cho quá trình phát triển nói chung cũng như thương mại nói riêng, là một bước đi vừa phù hợp với xu thế trên thế giới, vừa phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản còn gặp nhiều khó khăn, chưa tương xứng với những tiềm năng sẵn có của mình Một trog số những lý do nổi bật cho tình trạng
kể trên là do các thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam ngày càng đặt ra các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe đối với các sản phẩm thủy sản nói riêng cũng như hàng hóa nhập khẩu nói chung, đặc biệt là Hoa Kỳ.
Xuất phát từ những lý do trên, sinh viên xin lựa chọn đề tài phân tích vai tò của hàng rào kỹ thuật, liên hệ thực tiễn với Việt Nam” nhằm đưa ra vai trò hiện nay của hàng rào thuế quan, đồng thời tìm hiểu về thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào Hoa Kỳ trong bối cảnh hàng rào kỹ thuật có xu hướng gia tăng.
2 Khung phân tích
Trang 6Phần 1: Những lý luận cơ bản về rào cản kỹ thuật
Phần 2: Vai trò của rào cản kỹ thuật.
Phần 3: Liên hệ thực tiễn Việt Nam: Trường hợp xuất khẩu thủy sản sang
Theo giáo trình Thương mại quốc tế của tác giả Nguyễn Xuân Thiên, trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội (2015), hàng rào kỹ thuật đối với thương mại là những cản trở thương mại thông qua hệ thống tiêu chuẩn và đánh giá sự phù hợp Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại có thể là các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn và thủ tục xác định phù hợp Các tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật đều đặt ra các yêu cầu liên quan đến tính chất vật lý của sản phẩm Yêu cầu này có thể liên quan đến kích thước, hình dáng, thiết kế và các chức năng của sản phẩm, cũng có thể quy định liên quan đến nhãn mác, đóng gói, ký hiệu sản phẩm và mở rộng tới quy trình và phương pháp sản xuất liên quan đến sản phẩm.
Qua đó, rào cản kỹ thuật có thể hiểu một cách đơn giản là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà mỗi nước áp dụng đối với các loại hàng hóa được nhập khẩu vào thị trường Các tiêu chuẩn, quy chuẩn này có thể là các thông số, đặc điểm hàng hóa mà sản phẩm nhập khẩu cần đạt được để được cho phép gia nhập vào thị
trường một nước, mỗi quốc gia khác nhau có thể có những tiêu chuẩn khác nhau trong hàng rào kỹ thuật.
Trang 72 Đặc điểm của hàng rào kỹ thuật
Thứ nhất, tiêu chuẩn và các qui định trong rào cán kỹ thuật thương mại thường
mang lại hiệu quả cao hơn so với thuế và hạn ngạch thương mại Những rào cản về thuế thường kém linh hoạt trong quá trình áp dụng, ngoài ra biện pháp đánh thuế cũng làm chi phí tiêu dùng và chi phí nhập nguyên liệu đầu vào tăng lên, từ đó arh hưởng đến giá cả và sức mua hàng hóa trong nước Rào cản kỹ thuật không chỉ loại
bỏ được những nhược điểm này mà còn có những tác động sâu hơn vào các tiêu chuẩn liên quan đến môi trường và sức khỏe người tiêu dùng trong nước.
Thứ hai, rào cản kỹ thuật tác động hai mặt tới thương mại quốc tế Một mặt, các
quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật đảm bảo cho thương mại vì chúng ra đời từ mối quan tâm chung của cả Chính phủ và người tiêu dùng đối với vấn đề sức khoe, an toàn và chất lượng môi trường Nhưng mặt khác mạnh hơn, chúng có tác động cản trở thương mại quốc tế.
Thứ ba, rào cản kỹ thuật là mối quan lo với nhiều quốc gia đang phát triển Các
điều kiện trong hàng rào kỹ thuật đòi hỏi hàng hóa có chất lượng cao, đặt ra yêu cầu cải tiến, thay đổi nhằm nâng cao chất lượng của hàng hóa, phát sinh nhiều chi phí, làm gián đoạn, gây khó khăn cho các hoạt động xuất khẩu của nhiều quốc gia.
3 Phân loại hàng rào kỹ thuật
Theo WTO, rào cản kỹ thuật được chia làm 3 loại biện pháp kỹ thuật như sau:
• Quy chuẩn kỹ thuật (technical regulations) là những yêu cẩu có giá trị áp dụng bất buộc (các doanh nghiệp bắt buộc phải tuân thủ).
• Tiêu chuẩn kỹ thuật (technical standards) là các yêu cầu kỹ thuật được một
tổ chức được cõng nhận chấp thuận, nhưng không có giá trị bắt buộc.
• Quy trình đánh giá sự phù hợp của một loại hàng hoá với các quy định/tiêu chuẩn kỹ thuật (conformity assessment procedure).
Trang 84 Các hình thức của hàng rào kỹ thuật
Dựa theo những thống kê về rào cản kỹ thuật đang được các quốc gia sử dụng,
ta có thể chia TBT ra làm 4 hình thức: (i) Các tiêu chuẩn, quy định về chất lượng như đặc điểm, tính chất, chứng nhận, giám định chất lượng hàng hóa (ii) Các quy định về an toàn vệ sinh như phương pháp và thành phẩm đem chế biến, xét nghiệm, giám định sản phẩm thông qua các yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm…(iii) Các quy định về môi trường như yêu cầu tiêu chuẩn về các tiêu chuẩn vệ sinh môi trường (iv) Các quy định khác liên quan tới xã hội như sử dụng lao động, đạo đức kinh doanh.
VAI TRÒ CỦA HÀNG RÀO KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI
Các hàng rào kỹ thuật nói riêng cũng như hàng rào phi thuế quan nói chung là những công cụ quan trọng trong chính sách thương mại mà các quốc gia đã và đang ngày càng chú trọng sử dụng nhiều hơn Về lý thuyết, các chính sách thương mại của một quốc gia được hình thành và xây dựng dưa trên các lập luận nhằm đạt được nhiều mục đích trong kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường, trong đó bao gồm: bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ, theo đuổi các chính sách thương mại mang tính chiến lược, bảo vệ việc làm và các ngành kinh tế trong nước, bảo vệ an ninh, thực hiện các biện pháp trả đũa thương mại, bảo vệ người tiêu dùng trong nước, hỗ trợ cho các chính sách đối ngoại của quốc gia… Từ đó, hàng rào kỹ thuật đóng góp những vai trò cơ bản như sau:
1 Thực hiện mục tiêu về bảo vệ bảo vệ môi trường, bảo vệ cuộc sống, sức khỏe con người
Trong bối cảnh tự do hóa thương mại ngày càng gia tăng, các quốc gia trên thế giới thúc đẩy các hoạt động xuất nhập khẩu, gia nhập các thị trường mới nhằm đẩy mạnh các nguồn lợi về kinh tế Từ đó, thị trường của các quốc gia cũng có nhiều những thay đổi, số lượng các mặt hàng thị trường ngày càng đa dạng với nhiều mẫu
Trang 9mã, chủng loại với sự gia tăng của các mặt hàng nhập khẩu, khách hàng từ đó có nhiều sự lựa chọn cho mình, phát sinh thêm nhiều nhu cầu mới qua đó tạo ra
những tác động có lợi thúc đẩy các hoạt động kinh doanh trong nước Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm trên, thị trường trong nước của các quốc gia cũng phải đối mặt với những vấn đề mới nảy sinh khác.
Thứ nhất, các sản phẩm nhập khẩu đến từ các quốc gia khác nhau đều có
những sự khác biệt về chất lượng Nếu như các sản phẩm có chất lượng kém đến tay người tiêu dùng sẽ có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến
an toàn sức khỏe của người dùng Theo một cuộc khảo sát do cơ quan hóa chất Châu Âu thực hiện năm 2019, 40000 sản phẩm nhập khẩu vào thị trường Châu Âu
đã được đưa đi tiến hành kiểm tra, theo đó có tới 17% trong số đó có chứa các chất
bị hạn chế như cadmium, chì, niken… với hàm lượng cao, 74% các sản phẩm có chất lượng xấu này đến từ các quốc gia như Trung Quốc, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Ấn Độ, Thái Lan, Bắc Macedonia và Madagascar Các chuyên gia ECHA đưa ra khuyến cáo không sử dụng các sản phẩm vi phạm nói trên do chứa thành phần gây hại cho sức khỏe người sử dụng Một ví dụ tiêu biểu của các sản phẩm nhập khẩu gây hại tới sức khỏe chính là vụ bê bối năm 2008 của 22 hãng sữa tại Trung Quốc đã trộn melamine (một chất gây ung thư và ảnh hưởng đến cơ quan sinh dục) vào các sản phẩm sữa dành cho trẻ Trong cùng năm, Cục an toàn và vệ sinh thực phẩm Việt Nam cũng đã kiểm tra và phát hiện ra 18 loại sữa và sản phẩm sữa bị nhiễm melamine, trong đó có tới 5 sản phẩm được nhập khẩu từ Trung Quốc
và 7 sản phẩm có xuất xứ từ Malaysia và Indonesia Từ đó gây ra những mối lo lắng cho người tiêu dùng trước chất lượng và hàm lượng các chất có hại trong các sản phẩm nhập khẩu khác trên thị trường.
Thứ hai, các sản phẩm nhập khẩu gây hại cho môi trường Tự do thương mại
mở ra nhiều cơ hội cho các hoạt động sản xuất và xuất khẩu được mở rộng Tuy
nhiên, để có thể gia tăng năng suất, các quốc gia, doanh nghiệp đã phải hy sinh
Trang 10nhiều nguồn tài nguyên khác nhau, trong đó bao gồm nhiều hoạt động gây ảnh hưởng tiêu cực cho môi trường và đa dạng sinh thái của động thực vật trong thiên nhiên như phá rừng để xây dựng, mở rộng công trình phục vụ sản xuất kinh doanh;
sử dụng bom, lưới điện trong đánh bắt thủy sản; gia tăng chất xả thải gây hại ra môi trường tự nhiên quá các hoạt động sản xuất, vận chuyển và sử dụng sản phẩm mô hình chung đã làm suy giảm chất lượng môi trường, diện tích rừng bị thu hẹp, nhiều quần thể động vật chịu ảnh hưởng từ các hoạt động kinh tế dẫn tới suy giảm
về số lượng, làm giảm sự đa dạng của hệ sinh thái.
Có thể thấy rằng, bên cạnh những lợi ích về tăng trưởng kinh tế, tự do hóa thương mại cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro làm ảnh hưởng đến chất lượng môi trường, sức khỏe và cuộc sống của con người từ đó đòi hỏi các quốc gia phải đưa ra các biện pháp hợp lý trong việc điều tiết, cân bằng giữa các lợi ích, hàng rào kỹ thuật là một trong số những công cụ hiệu quả nhất.
Trong Hiệp định TBT đã thừa nhận hàng rào kỹ thuật như một thỏa thuận rằng
“không một nước nào có thể bị ngăn cản tiến hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo chất lượng hàng hóa xuất khẩu của mình, hoặc để bảo vệ cuộc sống hay sức khỏe con người, động và thực vật, bảo vệ môi trường hoặc ngăn ngừa các hoạt động man trá, ở mức độ mà nước đó cho là phù hợp…”.
Thông qua ban hành những tiêu chuẩn, quy chuẩn về hàng hóa, hàng rào kỹ thuật không chỉ kiểm soát, ngăn chặn các mặt hàng nhập khẩu kém chất lượng có thể thâm nhập vào thị trường nước nhà (quy trình và các phương pháp sản xuất, chế biến, quy định về đóng gói, bao bì, nhãn mác môi trường, truy xuất nguồn gốc xuất xứ, quy định, tiêu chuẩn về hàng đã qua sử dụng, công nghệ, máy móc thiết bị,…) mà còn giántiếp can thiệp vào các hoạt động sản xuất xuất khẩu gây ô nhiễm môi trường hoặc ảnh hưởng đến các loài động thực vật tại các quốc gia đối tác như quy định Donplin-safe,
hệ thống tiêu chuẩn ISO 14000, nhãn sinh thái… Các doanh nghiệp từ đó cần nắm bắt
và hiểu rõ để tuân thủ các yêu cầu thực hiện trách nhiệm
Trang 11trong kiểm tra và sử dụng hóa chất, xử lý ô nhiễm môi trường và sử dụng nguyên liệu không làm mất cân bằng sinh thái, các sản phẩm sản xuất ra phải đảm bảo đạt tiêu chuẩn không gây ô nhiễm môi trường.
2 Nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, sản phẩm
Các lý thuyết thương mại hiện đại đã đề cập đến vai trò của nhà nước trong việc can thiệp vào thương mại quốc tế Trong đó, “lý thuyết về cạnh tranh của các quốc gia” của Micheal Porter cho rằng, có bốn yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia, bao gồm: (i) Điều kiện nhân tố, (ii) Điều kiện về cầu, (iii) Các ngành công nghiệp liên quan và phụ trợ, (iv) Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội ngành Trong lý thuyết về lợi thế cạnh tranh, Micheal Porter cũng cho rằng Chính phủ có thể ảnh hưởng đến cả bốn yếu tố này thông qua các chính sách tác động đến người dân, doanh nghiệp và hỗ trợ của chính phủ nhằm xây dựng lợi thế đầu tiên, hoặc lợi thế đi đầu bằng việc đầu tư vào các yếu tố tiên tiến.
Như vậy, việc áp dụng các hàng rào kỹ thuật với tư cách là một trong những công cụ của chính sách thương mại sẽ là cơ sở để nhà nước thực hiện mục tiêu hỗ trợ, thúc đẩy doanh nghiệp hoàn thiện công nghệ, quy trình sản xuất và quản lý chất lượng để đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, qua đó nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp khi tham gia vào thương mại quốc tế Khi sản phẩm được chứng nhận có các chỉ tiêu chất lượng phù hợp với quy định trong tiêu chuẩn (hoặc quy chuẩn kỹ thuật) có liên quan, khi đó sản phẩm có ưu thế cạnh tranh hơn những sản phẩm cùng loại.
3 Bảo hộ cho ngành sản xuất trong nước
Trong hoàn cảnh tự do hóa thương mại gia tăng, thị trường trong nước của các quốc gia chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ của các mặt hàng nhập khẩu, từ đó tạo ra
áp lực cạnh tranh lớn với các mặt hàng nội địa.
Trên thực tế, do có sự chênh lệch về trình độ phát triển nên những tiêu chuẩn và