1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) bài tập học PHẦN KINH tế ASEAN đề tài chính sách phát triển công nghiệp của cam pu chia và khả năng hợp tác với việt nam

23 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách phát triển công nghiệp của Campuchia và khả năng hợp tác với Việt Nam
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thường Lạng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Quốc Tế
Thể loại Bài tập học phần
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 239,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chiến lược quan trọng của Chính phủ Hoàng gia Campuchia với các chính sách ngành củamình là mở rộng liên kết kinh tế giữa nông nghiệp và công nghiệp để cải thiện khu vực công nghiệp vàgi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN THƯƠNG MẠI

VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ BỘ MÔN KINH TẾ QUỐC TẾ

BÀI TẬP HỌC PHẦN KINH TẾ ASEAN

Đề tài: Chính sách phát triển công nghiệp của Cam-pu-chia

và khả năng hợp tác với Việt Nam

Họ và tên sinh viên : LÊ ANH DŨNG

Thời gian học : Học kỳ 3 năm học 2021-2022SĐT SV: 0328635421

Email SV: dungla.neu@gmail.com

HÀ NỘI, 6/2022

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bài tập này hoàn toàn do tôi thực hiện Các phần trích dẫn và tài liệu sửdụng trong bài tập hoàn toàn trung thực, được trích nguồn và đảm bảo độ chính xác cao nhất trongphạm vi hiểu biết của tôi Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin chịu trách nhiệm về bài tập củamình

Hà Nội ngày 05 tháng 06 năm 2022

Sinh viên thực hiện

Lê Anh Dũng

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên cho em xin được cảm ơn sâu sắc tới các giảng viên trường Đại học Kinh tếquốc dân nói chung và các giảng viên thuộc Viện Thương Mại và Kinh tế quốc tế nói riêng đã tậntình giảng dạy, truyền đạt cho chúng em những kiến thức và kinh nghiệm quý báu

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, người đã trực tiếphướng dẫn em trong suốt quà trình thực hiện bài tập Trong khoảng thời gian được làm việc vớithầy, em đã không ngừng học tích lũy nhiều kiến thức bổ ích cho mình mà còn được học tập đượctinh thần làm việc nghiêm túc, hiệu quả, đây là những điều rất cần thiết cho em trong quá trình họctập và công tác sau này

Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình và bạn bè đã luôn động viên, đónggóp ý kiến và giúp đỡ trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành bài tập này

Hà Nội, ngày 05 tháng 06 năm 2022

Sinh viên thực hiện

Lê Anh Dũng

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG 2

1.1 Tính tất yếu của việc lựa chọn đề tài 2

1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu 3

1.2.2 Nhiệm vụ 4

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu 4

1.5 Kết cấu của đề tài 4

CHƯƠNG 2 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA CAM-PU-CHIA 4

2.1 Bối cảnh lịch sử 4

2.2 Tổng quát về chính sách công nghiệp của Campuchia 6

2.3 Một số chính sách cụ thể 7

2.3.1 Một số chính sách chính 7

2.3.1.1 Khuyến khích FDI 7

2.3.1.2 Tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước 7

2.3.1.3 Phát triển công nghiệp định hướng xuất khẩu và sản xuất thay thế nhập khẩu 8

2.3.1.4 Hình thành đặc khu kinh tế 10

2.3.1.5 Phát triển ngành năng lượng và mạng lưới điện 11

2.3.1.6 Khuôn khổ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ 11

2.3.2 Một số chính sách bổ trợ 13

2.3.2.1 Chính sách kinh tế vĩ mô 13

2.3.2.2 Chính sách thương mại 14

2.3.2.3 Chính sách thị trường lao động 14

2.3.3 Tầm nhìn tương lai 15

CHƯƠNG 3 TRIỂN VỌNG HỢP TÁC GIỮA CAM-PU-CHIA VÀ VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP 17

3.1 Quan hệ hợp tác Việt Nam – Cam-pu-chia 17

3.2 Triển vọng hợp tác giữa Campuchia và Việt Nam trong lĩnh vực công nghiệp 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TT

TẮT

1 ASEAN Association of South East Asian Hiệp hội các quốc gia Đông

Trang 5

1

Trang 6

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG 1.1 Tính tất yếu của việc lựa chọn đề tài

Sau nhiều thập kỷ nội chiến và xung đột chính trị, cuộc tổng tuyển cử đầu tiên củaCampuchia đã được tổ chức vào tháng 5 năm 1993 dưới sự bảo trợ của Cơ quan chuyển tiếp liênhợp quốc tại Campuchia (UNTAC), sau đó Campuchia đạt được hòa bình, thống nhất quốc gia vàtương ổn định chính trị Sau cuộc bầu cử, Hiến pháp của Vương quốc Campuchia được ban hànhvào tháng 9 năm 1993 Kể từ đó, Campuchia được chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tậptrung sang nền kinh tế thị trường tự do Chính phủ Hoàng gia của Vương quốc Campuchia đã vàđang thực hiện cải cách cơ cấu và kinh tế vĩ mô, và đã đạt được một số thành công đáng kể trongviệc ổn định nền tảng kinh tế vĩ mô Nền kinh tế đã phát triển nhanh chóng kể từ nửa đầu nhữngnăm 1990, trong khi lạm phát đã giảm đáng kể

Ngoài những tiến bộ trong hòa bình, ổn định và trật tự xã hội, Campuchia hiện ngày càng hộinhập sâu rộng vào khu vực sau khi gia nhập ASEAN và các cơ chế khu vực và tiểu vùng, với sự thamgia vào các hoạt động bao gồm đăng cai tổ chức thành công hội nghị cấp cao ASEAN năm 2002 tạiPhnom Penh Chính phủ Hoàng gia Campuchia đã ký các hiệp định thương mại với nhiều nước ở Châu

Á để nới lỏng khả năng tiếp cận thị trường bên ngoài Trên toàn cầu, một cột mốc quan trọng cuốicùng đã đạt được khi Campuchia được công nhận là thành viên thứ 148 của WTO vào ngày 13 tháng

10 năm 2004 Campuchia là nước kém phát triển (LDC) thứ hai sau Nepal gia nhập WTO thông quaquá trình đàm phán đầy đủ của bên làm việc Với nguồn nhân lực và chuyên môn hạn chế trongthương mại quốc tế, tư cách thành viên WTO đã áp đặt lên Campuchia trách nhiệm cao hơn trong việctuân thủ các giao thức và tiêu chuẩn nghiêm ngặt Tuy nhiên, nó đồng thời mở ra cơ hội to lớn chogiao thương với thế giới nói chung trên một cơ sở cạnh tranh

Thực hiện các chính sách phát triển thương mại và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)thuận lợi, công nghiệp Campuchia phát triển nhanh chóng Sản xuất ở Campuchia trước đây hầuhết được tiến hành ở quy mô rất nhỏ, không chính thức, chế biến thực phẩm, làm gạch và chế biến

gỗ đóng vai trò quan trọng hàng đầu Tuy nhiên, Campuchia đã trải qua rất nhiều thay đổi cơ cấutrong khoảng thập kỷ trước hay sau khi tuyên bố nền kinh tế thị trường

Chiến lược quan trọng của Chính phủ Hoàng gia Campuchia với các chính sách ngành củamình là mở rộng liên kết kinh tế giữa nông nghiệp và công nghiệp để cải thiện khu vực công nghiệp vàgiảm bớt sự phụ thuộc vào khu vực chính duy nhất, ngành công nghiệp dệt may Chính phủ tiếp tụccung cấp cơ sở hạ tầng vật chất cần thiết và các dịch vụ hỗ trợ đủ tiêu chuẩn để nâng cao môi trườngđầu tư, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tăng cường đào tạo chuyên môn và thành lập các

Trang 7

khu công nghiệp hoặc đặc các khu kinh tế (SEZs) Khung pháp lý cũng đang được tăng cường đểđảm bảo hiệu quả và minh bạch trong việc thực hiện pháp luật và các quy định Sau đây là phácthảo theo trình tự thời gian về những thay đổi ở Campuchia trong quá trình công nghiệp hóa.

(i) Bắt đầu từ năm 1989: Cải cách triệt để được đưa ra để chấp nhận quyền sở hữu tư nhân

về đất và bất động sản Tư nhân hóa và mua lại các doanh nghiệp nhà nước thực hiện và FDI đãđược chào đón nồng nhiệt

(ii) Bắt đầu từ năm 1993: Có một sự thay đổi hoàn toàn từ nền kinh tế kế hoạch hóa tậptrung chuyển sang nền kinh tế thị trường Nền kinh tế trở nên phụ thuộc nhiều vào bên ngoài và sự

hỗ trợ từ các cơ quan viện trợ quốc tế

(iii) Sau năm 1995: Nền kinh tế tăng trưởng mạnh từ các ngành công nghiệp thâm dụng laođộng, đặc biệt là sản xuất hàng may mặc và các ngành liên quan đến du lịch

(iv) Sau năm 1997: Nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi tình trạng bất ổn chính trị và hậu quả từcuộc khủng hoảng tài chính châu Á Tuy nhiên, Campuchia vẫn có thể vượt qua điều này với tăngtrưởng tích cực và ngành công nghiệp trong nước tồn tại chủ yếu do nhu cầu mạnh mẽ trong lĩnhvực may mặc

(v) Sau năm 1999: Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực diễn ra bằng việc gia nhập ASEAN FDI vào lĩnh vực sản xuất bắt đầu đổ vào

(vi) Sau năm 2003: Hội nhập thương mại toàn cầu diễn ra bằng việc gia nhập WTO Ngànhmay mặc vẫn chiếm ưu thế trong ngành công nghiệp và thương mại của Campuchia tiếp tục pháttriển liên tục

Với định hướng phát triển ngành công nghiệp có nhiều nét tương đồng với Việt Nam, đồngthời có sự gần gũi về vị trí địa lý và văn hóa, cũng như quan hệ ngoại giao tốt đẹp đã được hìnhthành từ lâu, hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp giữa Cam-pu-chia và Việt Nam còn nhiều tiềmnăng phát triển Điều này đặt ra yêu cầu cần có những nghiên cứu sâu hơn về chính sách phát triểncông nghiệp của Cam-pu-chia và triển vọng hợp tác với Việt Nam Vì vậy, đề tài “Chính sách pháttriển công nghiệp của Cam-pu-chia và khả năng hợp tác với Việt Nam” được lựa chọn

1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu

Trên cơ sở phân tích chính sách phát triển công nghiệp của Campuchia, từ đó đề xuất địnhhướng và khả năng hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp giữa Việt Nam và Campuchia trong thời gian

Trang 8

1.2.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài sẽ thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:Thứ nhất, giới thiệu bối cảnh phát triển ngành công nghiệp Cam-pu-chia

Thứ hai, phân tích chính sách phát triển ngành công nghiệp của Cam-pu-chia

Thứ ba, nhận định triển vọng hợp tác trong công nghiệp giữa Việt Nam và Cam-pu-chia

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Chính sách phát triển công nghiệp của Cam-pu-chia và khả năng hợp tác với Việt Nam

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Bài tập sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để giải quyết vấn đề đặt ra

1.5 Kết cấu của đề tài

Chương 1: Giới thiệu chung

Chương 2: Chính sách phát triển công nghiệp của Cam-pu-chia

Chương 3: Triển vọng hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp giữa Việt Nam và Cam-pu-chia

CHƯƠNG 2 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA CAM-PU-CHIA 2.1 Bối cảnh lịch sử

Hầu hết các cơ sở công nghiệp của Campuchia ở dạng nhỏ và doanh nghiệp vừa (DNVVN).Ngành công nghiệp bắt đầu phát triển vào những năm 1960 sau khi quốc gia đạt được đầy đủ sựcông nhận và uy tín quốc tế Sau đó, lĩnh vực này phải đối mặt với một cuộc chiến khó khăn để tồntại do nhiều thay đổi trong lãnh đạo và chế độ dẫn đến sự phá hủy và trì trệ

Công nghiệp chỉ chiếm 5% GDP của Campuchia vào năm 1985, giảm so với 19% vào năm

1969 Hoạt động công nghiệp tiếp tục tập trung vào chế biến các mặt hàng nông nghiệp, chủ yếu làgạo, cá, gỗ và cao su Nhà máy sản xuất quy mô nhỏ và sử dụng trung bình ít hơn 200 công nhân.Những cơ sở này hoạt động nhằm sản xuất đủ hàng tiêu dùng (nước ngọt, thuốc lá và các mặt hàngthực phẩm) và các sản phẩm gia dụng (xà phòng, giấy và đồ dùng) để đáp ứng nhu cầu địa phương

Thông qua so sánh các doanh nghiệp thời trước và sau chiến tranh có thể đánh giá mức độ phụchồi công nghiệp của Campuchia Năm 1969, năm cuối cùng trước khi đất nước chìm trong chiến tranhcàn quét Đông Dương, một cuộc điều tra cho thấy toàn quốc có 18 doanh nghiệp doanh

Trang 9

nghiệp lớn (13 doanh nghiệp công và 5 doanh nghiệp hỗn hợp công-tư) và 33.000 DNVVN thuộc

sở hữu tư nhân Khoảng một nửa số nhà máy hoạt động vào năm 1969 là nhà máy xay xát gạo,hoặc đã tham gia vào chế biến gạo Năm 1985, hãng thông tấn chính phủ SarpodameanKampuchea thông báo rằng 56 nhà máy đã được cải tạo và đã được đưa vào hoạt động trở lại Tạichính thủ đô, khoảng một nửa các nhà máy tại Phnôm Pênh trước chiến tranh đã mở cửa trở lại vàonăm 1985 Hầu hết các ngành công nghiệp đều sản xuất ở mức thấp hơn nhiều so với công suất dothường xuyên bị cắt điện, thiếu phụ tùng thay thế, nguyên liệu thô, và thiếu cả công nhân lànhnghề và cán bộ quản lý có kinh nghiệm Sự phục hưng công nghiệp tiếp tục khó và cực kỳ chậm vì

nó chủ yếu dựa vào việc sử dụng các tài nguyên

Đầu năm 1986, các nhà máy công nghiệp lớn ở Phnom Penh bao gồm nhà máy dệt TuolKok, nhà máy dệt lớn nhất trong số 6 nhà máy dệt của thành phố (tuy nhiên nhà máy không hoạtđộng 3 ngày trong tuần vì thiếu điện) Cùng với đó có bốn nhà máy điện, một nhà máy nước giảikhát, một nhà máy sản xuất thuốc lá, một nhà máy bê tông sắt và một số doanh nghiệp khác sảnxuất hàng tiêu dùng

Tại đô thị Sihanoukville (hoặc Kampong Som) và các vùng lân cận Tỉnh Kampot, một sốnhà máy xay xát gạo, gỗ xẻ, nhà máy gạch ngói nhỏ, nhà máy điện, một nhà máy lọc dầu, một nhàmáy lắp ráp máy kéo, các nhà máy xi măng và phốt phát, và một nhà máy điện lạnh để lưu trữ cáđược báo cáo là đã đi vào hoạt động Trong trung tâm công nghiệp quan trọng Ta Khmau, tỉnhKampot, có một nhà máy sản xuất lốp xe (sở hữu máy phát điện riêng, nhưng thiếu cao su và phụtùng thay thế), một số xưởng cơ khí, và nhà kho Tỉnh Batdambang có các cửa hàng sửa chữa nông

cụ, một nhà máy tách hạt bông và dệt vải, nhà máy bao đay, nhà máy sửa chữa ô tô và máy kéo vàmột nhà máy phân lân Tại tỉnh Kampong Cham, trước đó là trung tâm trồng thuốc lá và sản xuấthàng may mặc bằng vải bông, đã có nhà máy vải dệt sợi bông, một số hoạt động dệt lụa và mộtnhà máy sản xuất săm lốp ô tô

Doanh nghiệp nhỏ do gia đình tự quản và doanh nghiệp tư nhân chuyên dệt, may đo(sampot và xà rông lụa - quốc phục Campuchia), và các sản phẩm chế tạo nhỏ phát triển nhanhhơn so với các ngành công nghiệp công, và chúng đã đóng góp đáng kể đến sự phục hồi kinh tế.Theo ước tính chính thức, giá trị sản lượng của địa phương và của các ngành thủ công nghiệp cộnglại lên tới 50% giá trị sản xuất trong các ngành công nghiệp quốc dân năm 1984 Riêng ở PhnômPênh đã có 1.840 các cửa hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị sản lượng tăng từ 14 triệu riel năm

1981 lên 50 triệu riels năm 1984

Trang 10

Năm 1989, trong khi Việt Nam tiến hành công cuộc “Đổi mới", Campuchia cũng bắt đầucải cách hệ thống quản lý kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung (hoặc kinh tế xã hội chủnghĩa) sang định hướng thị trường Điều này được bắt đầu bằng việc công nhận tài sản tư nhântrong bất động sản, cải cách doanh nghiệp nhà nước, và chào đón FDI Những cải cách đã đặt nềntảng cho quá trình công nghiệp hóa của Campuchia.

Sự phát triển công nghiệp được thúc đẩy bởi chính sách đầu tư của Chính phủ Hoàng giaCampuchia Chính sách khuyến khích sản xuất trong nước và thương mại quốc tế bằng cách mởcửa thị trường tự do cho tất cả các nhà đầu tư và đối tác được đầu tư vào quốc gia mà không có bất

kỳ phân biệt đối xử và hạn chế Ngoại lệ là yêu cầu rằng quyền sở hữu đất đai là của các thể nhân

có quốc tịch Campuchia hoặc theo pháp luật các pháp nhân trong đó hơn 51% vốn chủ sở hữu dongười hoăc pháp nhân có quốc tịch Campuchia nắm giữ trực tiếp người hoặc pháp nhân có quốctịch Campuchia

Bắt đầu từ năm 1994, Chính phủ Hoàng gia Campuchia bắt đầu tư nhân hóa doanh nghiệpquy mô nhỏ và các doanh nghiệp nhà nước quy mô vừa, đặc biệt là những doanh nghiệp không tạo

ra lợi nhuận như kỹ thuật, nhà máy gạo, nước giải khát, dệt may và nhà máy nấu rượu Trong năm

2009, Đường sắt Hoàng gia Campuchia đã được tư nhân hóa cho một công ty của Úc tên là TOLL

Vì thế cho đến nay, chỉ còn một số doanh nghiệp chiến lược là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước,bao gồm cảng, doanh nghiệp điện, cấp nước, hoặc một phần thuộc sở hữu nhà nước như doanhnghiệp hàng không, kiểm soát không lưu

2.2 Tổng quát về chính sách công nghiệp của Campuchia

Chính sách công nghiệp của Campuchia được xây dựng dựa trên bảy điểm chính:

1 Phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động;

2 Thúc đẩy phát triển kinh doanh nông nghiệp;

3 Phát triển các ngành công nghiệp dựa trên việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên cơ bản;

4 Thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ và thủ công nghiệp;

5 Khuyến khích chuyển giao công nghệ và đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu;

6 Thành lập khu công nghiệp và khu chế xuất;

7 Tăng sản xuất hàng hoá thay thế nhập khẩu

Cốt lõi của chính sách công nghiệp này là tập trung thu hút đầu tư vào các lĩnh vực mà Campuchia có lợi thế so sánh để thúc đẩy xuất khẩu Do đó, một thành phần quan trọng của chính

Trang 11

sách công nghiệp liên quan đến việc giảm bớt các rào cản đối với xuất khẩu và nhập khẩu đầu vàocủa doanh nghiệp Đây là một trong những khía cạnh chính của chính sách được coi là đã phát huyhiệu quả.

2.3 Một số chính sách cụ thể

2.3.1 Một số chính sách chính

2.3.1.1 Khuyến khích FDI

Bắt đầu từ năm 1993, do chính sách thu hút FDI, công nghiệp đã phát triển liên tục Tháng

8 năm 1994, Luật Đầu tư (LOI) được Quốc hội Campuchia thông qua, đánh dấu sự khởi đầu củachế độ đầu tư nước ngoài tự do Về nguyên tắc, LOI của Campuchia cho phép các doanh nghiệpFDI tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế và sở hữu 100% Một số lĩnh vực phải tuântheo các điều kiện, sự tham gia cổ phần của địa phương hoặc sự chấp thuận trước của cơ quan cóthẩm quyền bao gồm sản xuất thuốc lá, sản xuất phim, xay xát gạo, khai thác đá quý, xuất bản và

in ấn, phát thanh và truyền hình, sản xuất đồ chạm khắc gỗ và đá, và dệt lụa

Năm 2003, LOI 1994 đã được sửa đổi để hạn chế sự tùy nghi, cải thiện tính minh bạch vàgiảm gánh nặng hành chính, cũng như tăng nguồn thu thuế nhà nước Trong LOI sửa đổi, thuếdoanh nghiệp được tăng lên 20% từ 9% đối với tất cả các dự án, ngoại trừ các doanh nghiệp tàinguyên được nâng lên 30%, và 9% hoặc 0% đối với các dự án hiện có và được miễn thuế các nhàđầu tư Việc miễn thuế doanh nghiệp này được cung cấp tự động trong 3 năm và về nguyên tắc cóthể được gia hạn lên đến 3 năm nữa tùy thuộc vào giấy chứng nhận hàng năm và sự tuân thủ củacác công ty Ngoài ra, trong khi các khoản tái đầu tư và thu nhập hồi hương được miễn thuế trongLOI 1994, theo LOI sửa đổi năm 2003, các khoản này sẽ phải chịu thuế

2.3.1.2 Tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước

Cải cách doanh nghiệp nhà nước (SOEs) được coi là một trong những chính sách kinh tế cốtlõi nhằm chuyển đổi Campuchia từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế định hướng thị trườngvào cuối những năm 1980 Doanh nghiệp Nhà nước ở Campuchia bao gồm ba loại hình: a) Doanhnghiệp công ích kinh tế; 2) công ty nhà nước; c) Liên doanh trong đó Nhà nước trực tiếp hoặc giántiếp nắm giữ trên 51% vốn hoặc quyền biểu quyết

Quá trình tư nhân hóa các DNNN ở Campuchia có thể được chia thành hai giai đoạn Giai đoạnmột bắt đầu vào cuối năm 1989 cho đến giữa năm 1993 Trong giai đoạn này, các Bộ chỉ cần tư nhânhóa các doanh nghiệp của mình dưới sự giám sát trực tiếp của họ, đàm phán các điều khoản bán/chothuê và đưa doanh thu trực tiếp vào ngân sách của Bộ Giai đoạn hai bắt đầu vào giữa năm

Ngày đăng: 30/11/2022, 14:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w