1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) bài tập lớn CUỐI kỳ học PHẦN tâm lý học đề tài hệ THỐNG hóa các KIẾN THỨC cơ bản PHẦN HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC

20 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hệ thống hóa các kiến thức cơ bản phần hoạt động nhận thức
Tác giả Nguyễn Yến Nhi
Trường học Trường Đại học Thủ đô Hà Nội
Chuyên ngành Tâm Lý Học
Thể loại Tiểu Luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 39,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm lại, để thấy rõ bản chất của hoạt động nhận thức trong tâm lý học chúng ta cần phải hiểu được cấu trúc, đặc điểm, vai trò của hoạt động nhận thức từ đó giúp cho con người có thể tác

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM

-

 -BÀI TẬP LỚN CUỐI KỲ HỌC PHẦN: TÂM LÝ HỌC

ĐỀ TÀI: HỆ THỐNG HÓA CÁC KIẾN THỨC CƠ BẢN

PHẦN HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC

Trang 2

Lê Minh

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 02

NỘI DUNG 04

A Nhận thức cảm tính 04

1 Cảm giác 04

2 Tri giác 07

B Trí nhớ 10

1 Khái niệm 10

2 Đặc điểm 10

3 Phân loại trí nhớ 10

4 Những quá trình cơ bản của trí nhớ 11

C Nhận thức lý tính 12

1 Tư duy 12

2 Tưởng tượng 15

LIÊN HỆ 17

KẾT LUẬN 18

Trang 4

MỞ ĐẦU

Trong cuộc sống ngày nay, hoạt động nhận thức đóng một vai trò hết sức quan trọng trong nhiều lĩnh vực Nó là bộ phận, một mặt hoạt động rất cơ bản của đời sống tâm lý con người, cần thiết không thể thiếu trong xã hội, là cơ sở của cuộc sống, tài năng, của sự phát triển nhân cách con người Nhận thức có liên quan rất chặt chẽ với

sự học Về bản chất, sự học là một quá trình nhận thức Học tập là một loại hoạt động nhận thức đặc biệt của con người Vì vậy, con người luôn luôn nhận thức thế giới khách quan và không ngừng cải tạo nó để phục vụ cho cuộc sống của mình Để thực hiện được điều này con người phải tích lũy hiểu biết và kinh nghiệm trong mọi lĩnh vực hoạt động thực tiễn của mình Tóm lại, để thấy rõ bản chất của hoạt động nhận thức trong tâm lý học chúng ta cần phải hiểu được cấu trúc, đặc điểm, vai trò của hoạt động nhận thức từ đó giúp cho con người có thể tác động vào thế giới một cách phù hợp nhất, để đem lại hiệu quả cao nhất cho con người

Lịch sử vấn đề nghiên cứu:

Ngay từ thời xa xưa, vấn đề nhận thức, vấn đề học tập đã được quan tâm, nó xuất hiện cùng với sự xuất hiện của loài người Đến thế kỷ XVII, lý luận về nhận thức mới dần dần được hình thành, một số tác giả như Đ Các, Căng…đã thấy được tầm quan trọng của nhận thức, từ đó từng bước hình thành nên lý luận nhận thức Đến thế kỷ XIX (1879), khi Wunt thành lập Phòng thực nghiệm Tâm lý đầu tiên trên thế giới, ông đã

có nghiên cứu, đo đạc trí nhớ, tư duy của con người, vì thế mà công trình nghiên cứu của ông là những công trình nghiên cứu đầu tiên về tâm lý học nhận thức

Từ những năm 1920 đến những năm 1950, cách tiếp cận chính đối với tâm lý học là chủ nghĩa hành vi Ban đầu, các tín đồ của nó đã xem các sự kiện tinh thần như suy nghĩ, ý tưởng, sự chú ý và ý thức là không thể quan sát được, do đó nằm ngoài lĩnh vực của một khoa học tâm lý học Một người tiên phong của tâm lý học nhận thức, người đã làm việc bên ngoài ranh giới (cả trí tuệ và địa lý) của chủ nghĩa hành vi là Jean Piaget Từ năm 1926 đến những năm 1950 và đến những năm 1980, ông đã nghiên cứu những suy nghĩ, ngôn ngữ và trí thông minh của trẻ em và người lớn Phương pháp của tâm lý học nhận thức, vốn thừa hưởng nhiều thứ từ chủ nghĩa hành

vi, là đưa ra các giả định về hoạt động của các quá trình tinh thần, suy luận từ các giả

Trang 5

định này và kiểm tra những gì được đưa ra thông qua các nghiên cứu khoa học, để xem nếu kết quả phù hợp với các giả định mà từ đó chúng bắt đầu

Sự khởi đầu của tâm lý học nhận thức được đặt ra bởi cuộc họp của các chuyên gia trẻ

về kỹ thuật điện tử tại Đại học Massachusetts vào ngày 11 tháng 11 năm 1956 Trong

số đó có các nhà tâm lý học Newell Allen, George Miller và Noam Chomsky, những người nổi tiếng ngày nay Họ lần đầu tiên đưa ra câu hỏi về ảnh hưởng của quá trình nhận thức chủ quan của một người đối với thực tế khách quan Cuốn sách Nghiên cứu

về sự phát triển nhận thức của J Bruner, xuất bản năm 1966, trở nên quan trọng đối với sự hiểu biết và phát triển của ngành học Nó được tạo ra bởi 11 đồng tác giả -chuyên gia từ Trung tâm nghiên cứu Harvard

Tuy nhiên, việc định danh phân ngành này được diễn ra cùng với sự xuất hiện cuốn sách “Tâm lý học nhận thức” đầu tiên của U Neisser (1967) – một nhà tâm lý học và giáo viên người Mỹ tại Đại học Cornell, Tạp chí tâm lý học nhận thức cũng ra đời vào năm 1970 Đến những năm 60 của thế kỷ XX, khái niệm nhận thức được sử dụng như một khái niệm chung để chỉ hầu hết các quá trình tâm lý học bao gồm; tri giác, tư duy, động cơ,… Tâm lý học nhận thức chỉ là một phân ngành mới để nghiên cứu sâu hơn bản chất của hoạt động nhận thức với tư cách là chức năng tâm lý của con người Từ

đó, có các tác giả cho ra đời các tác phẩm như “Luật nhận thức” của Gestalt và xây dựng nên các lý thuyết nhận thức Cho đến nay, chuyên ngành Tâm lý học nhận thức

đã được giảng dạy trong các trường Đại học như một chuyên ngành độc lập, nhờ những đóng góp của họ, tâm lý học đã tiến bộ bằng những bước nhảy vọt Bằng cách này, mặc dù chủ nghĩa hành vi vẫn còn có liên quan và thậm chí kết hợp với nhận thức, nó đã là một bước tiến lớn từ những gì chúng ta biết một vài thập kỷ trước

Trang 6

NỘI DUNG

Con người là thực thể sống tồn tại, hoạt động trong thế giới khách quan, con người phải nhận thức, tỏ thái độ và hành động với thế giới ấy Nhận thức, tình cảm và hành động ý chí là ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người Trong quá trình hoạt động, con người phải nhận thức, thông qua hoạt động nhận thức, hiện thực xung quanh

và hiện thực của bản thân được phản ánh, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ, tình cảm

và hành động ý chí “Hoạt động nhận thức là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan và bản thân con người thông qua các cơ quan cảm giác và dựa trên những hiểu biết vốn liếng kinh nghiệm đã có của bản thân” Việc nhận thức thế giới có thể đạt tới những mức độ khác nhau: từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao Căn

cứ vào tính chất phản ánh có thể chia toàn bộ hoạt động nhận thức thành hai giai đoạn lớn: nhận thức cảm tính (gồm cảm giác, tri giác) và nhận thức lý tính (tư duy và tưởng tượng)

A Nhận thức cảm tính

Quá trình nhận thức cảm tính là mức độ thấp của hoạt động nhận thức Nhận thức cảm tính bao gồm cảm giác và tri giác, trong đó con người phản ánh những cái bên ngoài, những cái đang trực tiếp tác động đến giác quan con người

1 Cảm giác

a) Khái niệm:

- Cảm giác là một quá trình nhận thức phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính

bề ngoài của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của con người

b) Đặc điểm:

- Cảm giác là một quá trình nhận thức phản ánh dấu hiệu trực quan, bề ngoài cụ thể của sự vật, hiện tượng

- Cảm giác chỉ phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật hiện tượng chứ chưa phản ánh đầy đủ, trọn vẹn sự vật, hiện tượng Cơ sở sinh lí của cảm giác là hoạt động của các giác quan riêng lẻ

Trang 7

- Cảm giác phản ánh sự vật, hiện tượng một cách trực tiếp, khi sự vật, hiện tượng đang hiện diện, đang tác động vào các cơ quan thụ cảm

c) Bản chất:

Mặc dù là hình thức phản ánh tâm lý sơ đẳng có cả ở động vật nhưng cảm giác của con người khác về chất so với cảm giác ở động vật Sự khác biệt đó là ở chỗ: cảm giác của con người có bản chất xã hội Bản chất xã hội của cảm giác do chính bản chất xã hội của con người quy định Bản chất xã hội của cảm giác được quy định bởi các yếu tố sau:

- Đối tượng phản ánh của cảm giác không chỉ đơn giản là các sự vật hiện tượng tự nhiên mà chủ yếu là các sản phẩm được tạo ra nhờ lao động xã hội của loài người, trong

đó tích đọng các chức năng người, chức năng xã hội

VD: Quạt trần, điều hòa mang lại cảm giác mát mẻ vào ngày hè, ngược lại vào mùa đông có máy sưởi ấm tạo cảm giác ấm áp hơn

- Con người ngoài hệ thống tín hiệu thứ nhất, còn có hệ thống tín hiệu thứ hai (ngôn ngữ) - một đặc trưng xã hội của loài người Cảm giác ở con người không chỉ diễn

ra nhờ hệ thống tín hiệu thứ nhất mà cả hệ thống tín hiệu thứ hai

VD: Sau khi nghe một câu truyện ma quỷ thì đi một mình vào ban đêm có cảm giác sợ hãi, lạnh sống lưng

- Cảm giác ở con người chịu sự chi phối của các hiện tượng tâm lý cấp cao khác VD: Lúc đau khổ thì ăn cảm thấy không ngon

- Cảm giác của người được phát triển mạnh mẽ và phong phú dưới ảnh hưởng của hoạt động và giáo dục, do đó mang tính đặc thù xã hội

VD: Người giáo viên có thể “nhìn” được bằng tai hay có “mắt” sau lưng để biết được học sinh đang làm gì và ý thức học tập như nào

d) Các loại cảm giác:

Dựa trên vị trí của nguồn kích thích cảm giác có: cảm giác bên ngoài và cảm giác bên trong

- Cảm giác bên ngoài: do những kích thích bên ngoài gây nên: cảm giác nhìn, cảm giác nghe, cảm giác ngửi, cảm giác nếm, cảm giác da

- Cảm giác bên trong: gồm cảm giác cơ thể, cảm giác vận động, cảm giác thăng bằng, cảm giác sờ mó, cảm giác rung

Trang 8

e) Quy luật:

* Quy luật ngưỡng cảm giác:

- Là giới hạn mà ở đó kích thích gây ra được cảm giác

- Có 2 loại ngưỡng cảm giác: Ngưỡng tuyệt đối và ngưỡng sai biệt + Ngưỡng tuyệt đối gồm:

Ngưỡng cảm giác phía dưới: là cường độ kích thích tối thiểu đủ để gây ra cảm giác

Ngưỡng cảm giác phía trên: là cường độ kích thích tối đa mà ở đó vẫn còn cảm giác

Phạm vi giữa ngưỡng dưới và ngưỡng trên gọi là vùng cảm giác được, trong đó

có một vùng có cảm giác tốt nhất, gọi là vùng phản ánh tốt nhất

+ Ngưỡng sai biệt là mức độ chênh lệch tối thiểu về cường độ hoặc tính chất của 2 kích thích đủ để ta phân biệt được 2 kích thích đó

+ Ngưỡng tuyệt đối và ngưỡng sai biệt của cảm giác là khác nhau ở mỗi loại cảm giác khác nhau và mỗi người khác nhau

VD về quy luật ngưỡng cảm giác: Tai người nghe được trong khoảng

16hz-20000hz, nếu nằm ngoài khoảng đó thì nghe không rõ hoặc không nghe thấy

* Quy luật thích ứng cảm giác:

- Thích ứng: Là khả năng thay đổi độ nhạy cảm của cảm giác cho phù hợp với sự thay đổi của cường độ kích thích

- Có thể đề cập đến các dạng thích ứng sau đây khi phân tích về quy luật này: + Khi cường độ kích thích tăng lên thì giảm tính nhạy cảm

+ Khi cường độ kích thích yếu đi thì tăng tính nhạy cảm

+ Sự mất cảm giác trong thời gian tác động dài của cùng một kích thích

- Sự thích ứng của cảm giác ở các loại cảm giác khác nhau có mức độ không giống nhau Nó có thể phát triển nhờ rèn luyện và hoạt động nghề nghiệp

VD về quy luật thích ứng cảm giác: Từ chỗ sáng bước vào chỗ tối lúc đầu ta không thấy gì nhưng dần dần thì thấy rõ Ngược lại, từ chỗ tối bước ra chỗ sáng lúc đầu ta

bị “lóa mắt” không nhìn rõ, nhưng sau một lúc thì thấy rõ “thích ứng”

* Quy luật tác động lẫn nhau giữa các cảm giác:

- Các cảm giác có thể tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, chi phối lẫn nhau

Trang 9

- Sự tác động diễn ra theo quy luật như sau: Sự kích thích yếu lên cơ quan cảm giác này sẽ làm tăng độ nhạy cảm của cơ quan cảm giác kia, hoặc sự kích thích mạnh lên cơ quan cảm giác này sẽ làm giảm độ nhạy cảm của cơ quan cảm giác kia

- Có hai loại tương phản: tương phản nối tiếp và tương phản đồng thời Tương phản nối tiếp là tương phản khi hai kích thích tác động nối tiếp nhau lên một cơ quan cảm giác, còn tương phản đồng thời xảy ra khi hai kích thích tác động cùng một lúc lên

cơ quan cảm giác

- Chuyển cảm giác cũng là một biểu hiện cụ thể của quy luật này Cảm giác này tạo nên một cảm giác khác trong sự tương tác

VD về quy luật tác động lẫn nhau: Tờ giấy trắng đặt trên nền đen tạo cho ta cảm giác trắng hơn tờ giấy trắng đặt trên nền xám

2 Tri giác:

a) Khái niệm:

- Tri giác là một quá trình nhận thức phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bên ngoài của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan

b) Đặc điểm:

- Tri giác có những đặc điểm giống với cảm giác như:

+ Cũng là một quá trình tâm lý, tức là có nảy sinh, diễn biến và kết thúc

+ Cũng chỉ phản ánh thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng

+ Cũng phản ánh hiện thực khách quan một cách trực tiếp (đang tác động) - Tuy vậy tri giác có những đặc điểm nổi bật sau:

+ Tri giác phản ánh sự vật, hiện tượng một cách trọn vẹn

+ Tri giác phản ánh sự vật hiện tượng theo những cấu trúc nhất định

+ Tri giác là quá trình tích cực, được gắn liền với hoạt động con người

VD: Chúng ta chỉ cần nhìn bằng mắt và không sử dụng tới mũi, miệng,… cùng với hiểu biết trước đó của bản thân, chúng ta tri giác và có thể gọi tên đúng sự vật

- Những đặc điểm trên chứng tỏ rằng tri giác là mức phản ánh cao hơn cảm giác, nhưng vẫn thuộc giai đoạn nhận thức cảm tính, chỉ phản ánh thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào

Trang 10

c) Các loại tri giác:

- Căn cứ vào các cơ quan cảm giác đóng vai trò chính trong quá trình tri giác có thể chia thành: tri giác nhìn, tri giác nghe, tri giác sờ mó (trong đó tri giác nhìn được nghiên cứu nhiều hơn cả)

- Căn cứ vào đối tượng tri giác có thể chia tri giác thành: tri giác không gian, tri giác thời gian, tri giác chuyển động, tri giác con người

d) Quy luật:

* Quy luật về tính đối tượng của tri giác:

- Hình ảnh trực quan mà tri giác đem lại luôn thuộc về một đối tượng nhất định nào

đó của thế giới bên ngoài

- Tính đối tượng của tri giác có vai trò quan trọng: là cơ sở của chức năng định hướng cho hành vi và hoạt động của con người

VD: Người họa sĩ có thể tri giác bức tranh tốt hơn so với chúng ta, họ có thể dễ dàng nhận biết thể loại tranh cũng như ý nghĩa của bức tranh đó

* Quy luật về tính lựa chọn của tri giác:

- Sự tri giác không thể đồng thời phản ánh tất cả các đối tượng đang tác động, mà chỉ tách đối tượng ra khỏi bối cảnh

- Sự lựa chọn của tri giác không có tính chất cố định, vai trò của đối tượng và bối cảnh có thể thay đổi cho nhau, tùy thuộc vào mục đích cá nhân và điều kiện xung quanh khi tri giác

- Tính lựa chọn của tri giác còn phụ thuộc vào:

+ Yếu tố khách quan: ngôn ngữ, đặc điểm,

+ Yếu tố chủ quan: hứng thú, nhu cầu, tâm thế,

VD: trong sách có nhiều chữ in nghiêng để nhấn mạnh, giáo viên dùng mực đỏ đánh dấu chỗ sai của học sinh

* Quy luật về tính có ý nghĩa của tri giác:

- Các hình ảnh của tri giác luôn luôn có một ý nghĩa nhất định Khi ta tri giác một

sự vật hiện tượng, bằng kinh nghiệm và vốn hiểu biết của mình, con người gọi được tên

sự vật hiện tượng đó và xếp nó vào một nhóm, một loại nhất định

Trang 11

- Ngay cả khi tri giác một sự vật hiện tượng không quen biết ta vẫn cố gắng tìm trong nó một cái gì đó giống với các đối tượng mà ta đã quen biết hoặc xếp nó vào một loại sự vật hiện tượng đã biết, gần gũi nhất đối với nó

VD: Khi đi mua hoa quả, ta có thể tri giác được đó là loại quả gì và có thể gọi tên cũng như nói được những đặc điểm riêng biệt của quả đó Chẳng hạn như ta có thể phân biệt quả bưởi to hơn quả cam, vỏ bưởi có màu xanh hoặc vàng còn vỏ cam có màu cam,

* Quy luật về tính ổn định của tri giác:

- Tính ổn định của tri giác là khả năng phản ánh sự vật một cách không đổi khi điều kiện tri giác bị thay đổi

- Tính ổn định của tri giác phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Trước hết là do cấu trúc của

sự vật, hiện tượng tương đối ổn định Nhưng chủ yếu là do cơ chế tự điều chỉnh của hệ thần kinh cũng như vốn kinh nghiệm của con người về đối tượng

VD: Khi xem tivi thì hình người trên màn hình nhỏ hơn rất nhiều so với người thực bên ngoài, nhưng ta vẫn có hình ảnh con người lớn như hình ảnh thực của họ ở bên ngoài

* Quy luật về tính tổng giác của tri giác:

- Ngoài vật kích thích bên ngoài, tri giác còn bị quy định bởi một loạt nhân tố nằm trong bản thân chủ thể tri giác như: thái độ, nhu cầu, hứng thú, sở thích, tình cảm, mục đích, động cơ…

- Sự phụ thuộc của tri giác vào nội dung của đời sống tâm lý con người, vào đặc điểm nhân cách của họ, được gọi là hiện tượng tổng giác

VD: Khi đói thì cảm thấy ăn ngon hơn nhiều so với lúc bình thường

* Quy luật về tính ảo ảnh của tri giác:

- Ảo ảnh tri giác là sự phản ánh sai lệch các sự vật, hiện tượng một cách khách quan của con người Những hiện tượng tri giác này tuy không nhiều, nhưng có tính chất quy luật

VD: Hiện tượng ảo ảnh sa mạc: Người đi trên sa mạc thấy ở cách đó không xa có một hồ nước nhưng khi đến gần thì chỉ thấy cát

Ngày đăng: 30/11/2022, 14:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w