Đất đai là sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Quyền sở hữu đất đai được Nhà nước quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật về đất đai như Luật Đất đai năm 1987, 1993, 2003, 2013, và các văn bản hướng dẫn thi hành; là công cụ pháp lý để Nhà nước thống nhất quản lý và để công dân thực hiện quyền của mình khi bị xâm phạm, là biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Việt Nam là một nước có xuất phát điểm từ nền nông nghiệp. Do đó, đối với mỗi người dân mảnh đất là một tài sản vô cùng quý giá. Trải qua nhiều giai đoạn, chính sách quản lý Nhà nước về đất đai có nhiều thay đổi, dễ phát sinh khiếu nại nhiều liên quan đến đất đai trong nhân dân. Công tác giải quyết khiếu nại về đất đai không những có vai trò quan trọng trong quản lý Nhà nước, mà còn thể hiện mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề này và có nhiều chủ trương, chính sách cụ thể áp dụng trong từng giai đoạn.
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG CÁN BỘ QUẢN LÝ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT II
Lớp: bồi dưỡng ngạch Chuyên Viên Chính-Khóa: 33 Hậu Giang
TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI CỦA BÀ NGUYỄN THỊ HỒNG THANH TẠI XÃ VỊ BÌNH, HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
Họ và tên học viên: NGUYỄN THỊ HỒNG
Đơn vị công tác: tỉnh Hậu Giang
Hậu Giang, tháng 3 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 MÔ TẢ TÌNH HUỐNG 3
1.1 Khái quát chung và tóm tắt tình huống 3
1.2 Tóm tắt quá trình giải quyết 4
2 Phân tích tình huống 8
2.1 Cơ sở lý luận 8
2.1.1 Phân tích nguyên nhân và hậu quả 8
2.1.2 Nguyên nhân 8
2.1.3 Hậu quả 9
2.2 Phân tích tình huống 9
3 Đề xuất phương án giải quyết tình huống 10
3.1 Mục tiêu giải quyết tình huống, cơ sở giải quyết tình huống 10
3.1.1 Phương án 1 10
3.1.2 Phương án 2 11
3.1.3 Phương án 3 12
3.2 Đề xuất phương án xử lý tình huống 13
3.2.1 Lựa chọn phương án giải quyết 14
3.2.1.1 Đối với phương án 1 14
3.2.1.2 Đối với phương án 2 14
3.2.1.3 Đối với phương án 3 14
3.2.2 Lập kế hoạch tổ chức thực hiện phương án tối ưu đã được lựa chọn 15
4 Kiến nghị, kết luận 16
4.1 Kiến nghị 16
4.1.1 Đối với Trung ương 16
4.1.2 Đối với cấp tỉnh 16
4.1.3 Đối với UBND huyện Vị Thủy 16
Trang 34.2 Kết luận 17 TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 4Việt Nam là một nước có xuất phát điểm từ nền nông nghiệp Do đó, đối với mỗi người dân mảnh đất là một tài sản vô cùng quý giá Trải qua nhiều giai đoạn, chính sách quản lý Nhà nước về đất đai có nhiều thay đổi, dễ phát sinh khiếu nại nhiều liên quan đến đất đai trong nhân dân Công tác giải quyết khiếu nại về đất đai không những có vai trò quan trọng trong quản lý Nhà nước, mà còn thể hiện mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề này và có nhiều chủ trương, chính sách
cụ thể áp dụng trong từng giai đoạn
Tỉnh Hậu Giang là tỉnh mới được tái lập ngày 01/01/2004 theo Nghị quyết
số 22/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính từ tỉnh Cần Thơ Tỉnh Hậu Giang nằm ở vị trí trung tâm tiểu vùng Tây Nam Sông Hậu, có 08 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Thành phố Vị Thanh, thị xã Ngã Bảy, thị xã Long Mỹ, huyện Vị Thủy, huyện Long Mỹ, huyện Phụng Hiệp, huyện Châu Thành, huyện Châu Thành A Trung tâm tỉnh lỵ là thành phố Vị Thanh cách thành phố Cần Thơ 60 km Về địa giới hành chính, Bắc giáp thành phố Cần Thơ; Nam giáp tỉnh Sóc Trăng; Đông giáp Sông Hậu và tỉnh Vĩnh Long; Tây giáp tỉnh Kiên Giang và Bạc Liêu Tổng diện tích tự nhiên
là 160.114,17 ha; dân số 770,352 người
Trải qua nhiều năm công tác quản lý Nhà nước về đất đai có nhiều thay đổi, những bất cập, yếu kém trong công tác quản lý đất đai là một trong nhữngnguyên nhân chủ yếu phát sinh và gia tăng khiếu nại về đất đai Bên cạnh đó,
Trang 5công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai vẫn còn nhiều hạn chế, bấtcập, hiệu quả chưa cao, có vụ việc kéo dài hàng mấy chục năm nhưng chưagiải quyết xong, thậm chí có nơi tình hình tranh chấp diễn biến hết sức phứctạp làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự địa phương Nhận thức rõ tầm quan trọngcủa vấn đề này, tỉnh Hậu Giang luôn quan tâm công tác giải quyết tranh chấp,khiếu nại về đất đai Coi đây là yếu tố quan trọng nhằm phát huy nhữngthành tựu đạt được, góp phần vào sự nghiệp phát triển bền vững đất nước trongthời kỳ mới.
Để tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, cùng với cơ quan bảo vệ pháp luật ở tỉnh Hậu Giang giải quyết khiếu nại của công dân liên quan đến đất đai
Nên tôi chọn tình huống “Giải quyết khiếu nại về đất đai của bà Nguyễn Thị Hồng Thanh tại xã Vị Bình, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang” để làm tiểu
luận lớp Bồi dưỡng ngạch Chuyên viên chính (khóa 23 năm 2021) Vụ việc phát sinh từ năm 1989 đến nay vẫn chưa giải quyết dứt điểm Do đó, cần phải tìm ra phương án giải quyết phù hợp với chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Trong thời gian học tập, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô Trường cán bộ quản lý Nông nghiệp và phát triển Nông Thôn II đã truyền đạt những kiến thức vô cùng quý báu giúp cho chúng tôi góp phần của mình vào sự nghiệp phát triển của tỉnh nhà
Trang 61 MÔ TẢ TÌNH HUỐNG
1.1 Khái quát chung và tóm tắt tình huống
Vị Thủy là huyện cửa ngỏ của tỉnh Hậu Giang, cách trung tâm tỉnh vàThành phố Vị Thanh 08 km, diện tích tự nhiên 23.022,57 ha chiếm 7,71% diệntích tự nhiên của tỉnh Hậu Giang Trong đó diện tích nông nghiệp chiếm 92,57%diện tích tự nhiên Trải qua nhiều thời kỳ, thực hiện các chính sách về đất đai,trên địa bàn huyện xảy ra nhiều vụ khiếu nại về đất đai Nhiều vụ việc rất phứctạp kéo dài nhiều năm Đây là trường hợp điển hình của bà Nguyễn Thị HồngThanh khiếu nại đòi lại phần đất tranh chấp có diện tích 10 công (13.659m2) dogia đình ông Nguyễn Văn Tuấn trực tiếp quản lý, sử dụng, tọa lạc ấp 2, xã VịBình, huyện Vị Thủy Nguồn gốc đất do Chính quyền Cách mạng tịch thu củađịa chủ và cấp cho ông Trần Văn Bảy (chồng bà Nguyễn Thị Hồng Thanh) từtrước năm 1975 Nhưng thực tế gia đình ông Nguyễn Văn Tuấn trực tiếp quản lý
và sử dụng (ông Tuấn cho rằng ông Bảy - chồng bà Thanh đã sang đất cho giađình ông, còn phía bà Thanh cho rằng đất trang trải từ phần đất của gia đình bà
và cấp cho gia đình ông Tuấn khi thực hiện chính sách nhường cơm, xẻ áo; cảhai bên đều không có chứng cứ thuyết phục để chứng minh, còn các nhân chứngcung cấp rất mâu thuẫn)
Ngày 24/4/1989, bà Nguyễn Thị Hồng Thanh có đơn khiếu nại gửi đếnUBND xã Vị Bình đòi lại phần đất nêu trên (lúc này ông Bảy đã chết) Bà chorằng khoảng năm 1950, Chính quyền cách mạng cấp cho gia đình bà diện tích 10công đất ruộng, gia đình bà trực tiếp canh tác đến năm 1978 thì bị cắt hết số diệntích đất trên (dạng đất xâm canh) Sau đó địa phương đã khoán cho ông NguyễnVăn Tuấn canh tác từ đó đến nay Khi có chủ trương trả lại đất gốc, gia đình bàxin lại thì ông Tuấn cho rằng ông Bảy đã chuyển nhượng cho ông từ năm 1976nhưng ông không có chứng cứ gì để chứng minh Bà Thanh yêu cầu các cấpchính quyền xem xét, giải quyết trả lại phần đất trên cho gia đình bà sử dụng Từ
đó, phát sinh khiếu nại của các bên
Trang 71.2 Tóm tắt quá trình giải quyết
Khi bà Thanh có đơn đòi lại phần đất do gia đình ông Tuấn trực tiếp quản
lý, sử dụng Ngày 23/4/1989, UBND xã Vị Bình lập biên bản giải quyết tranh chấp đất giữa ông Tuấn và bà Thanh theo hướng quyền sử dụng đất là của ông Nguyễn Văn Tuấn với lý do ông Bảy (chồng bà Thanh) đã chuyển nhượng cho ông Tuấn với giá 100 giạ lúa (bản sao biên bản được xác nhận lại ngày 12/11/1992) Bà Thanh không thống nhất tiếp tục khiếu nại đến UBND huyện Vị Thanh (nay là Vị Thủy)
Ngày 19/12/1990, Phòng Nông nghiệp huyện Vị Thanh lập biên bản giải
quyết như sau: “Trước giải phóng đến năm 1976, đất gốc là của ông Bảy; năm
1977 ông Tuấn đã canh tác đến nay Căn cứ Chỉ thị 57 (nhường cơm sẻ áo) ông Bảy nhượng lại cho ông Tuấn thông qua chính quyền Như vậy, ông Bảy không
có quyền sử dụng 10 công đất và ông Tuấn cũng không phải trả hoa lợi ruộng đất cho ông Bảy (Chỉ thị 240), (Chỉ thị 57) Phần ông Tuấn, giấy tờ sang đất bị cháy nhưng không làm tờ cớ, về pháp luật là không hợp pháp (vấn đề sang bán) Kết luận: Không có sang đất Căn cứ Quyết định số 240 của Ủy ban nhân dân tỉnh, thì ông Tuấn đưa đất vào tập đoàn thì được quyền sử dụng diện tích trên” Bà Thanh không thống nhất tiếp tục yêu cầu đến các cấp chính quyền xem
xét
Ngày 16/5/1991, Đoàn chỉ đạo của UBND huyện Vị Thanh lập biên bản
giải quyết: “Giữ vững Quyết định tạm sử dụng ruộng đất của UBND huyện Vị
Thanh cho ông Nguyễn Văn Tuấn, diện tích 10 công; Trách nhiệm của cơ quan luật pháp củng cố hồ sơ chứng cứ có liên quan, lục lại hồ sơ, lai thuế năm 1976, làm rõ và có quyết định chính thức sau”.
Ngày 22/12/1992, Thanh tra huyện Vị Thanh làm việc với ông Tuấn, bàThanh và tiến hành xác minh thu thập chứng cứ xác định như sau: Ông TrầnVăn Chính, ấp 2, xã Vị Bình xác định đất hộ bà Thanh bị cắt xâm canh; ÔngTrần Văn Ngôn xác định năm 1978 đất ông Bảy bị cắt xâm canh, đất trên do Tậpđoàn quản lý và khoán cho ông Nguyễn Văn Tuấn canh tác, ông Ngôn đề nghịtrả đất lại cho ông Bảy (chồng bà Thanh); Ông Lê Văn Nhựt cho rằng ông cócùng
Ban Tập đoàn cắt xâm canh và đưa đất của ông Bảy vào Tập Đoàn ông xác định
Trang 8không có việc sang bán đất giữa ông Bảy với ông Tuấn Nếu hộ ông Tuấn muốn
sử dụng phần đất 10.000m2thì phải trả hoa lợi cho hộ ông Bảy; Ông Bùi VănNghĩa xác nhận năm 1979 ông thấy hộ ông Tuấn canh tác đất này; Ông Tô VănĐược xác nhận hộ ông Bảy bị cắt đất trên đưa vào Tập đoàn, khoán lại choông Tuấn; Ông Võ Văn Tới nguyên là Trưởng ban Kinh tài xã Vị Bình xác nhậnnăm 1976 ông thu thuế của hộ ông Tuấn độ khoảng 11.500m2 Năm 1990 khixảy ra tranh chấp ông Tuấn có yêu cầu ông xác nhận lại lai thuế cho ông Tuấn
Ngày 15/9/1993, Thanh tra huyện Vị Thanh kiến nghị công nhận phần đất tranh chấp trên cho hộ bà Nguyễn Thị Hồng Thanh, vì hộ bà Thanh đưa đất vào Tập đoàn và bị cắt xâm canh năm 1978, chứ không có sang bán cho ông Tuấn
Ngày 12/5/1994, UBND huyện Vị Thanh ban hành Quyết định số14/QĐ.UBH.94 nội dung: Công nhận quyền sử dụng đất diện tích 10.000m2của
bà Nguyễn Thị Hồng Thanh và ông Trần Văn Bảy; Bác đơn yêu cầu xin lại đấtđối với ông Nguyễn Văn Tuấn nhưng ông Tuấn không chấp hành giao đất theoquyết định Ngày 24/9/1994, UBND xã Vị Bình ban hành Quyết định số181/QĐ.UBX.94 về việc xử phạt hành chính hộ ông Nguyễn Văn Tuấn 20.000đồng do không chấp hành Quyết định nêu trên Ông Tuấn không thống nhất tiếptục khiếu nại
Ngày 17/01/1996, Thanh tra huyện Vị Thanh kết hợp UBND xã Vị Bình
tổ chức họp dân Qua ghi nhận đa số ý kiến đồng ý giải quyết đất tranh chấp cho ông Tuấn
Ngày 17/6/1996, Thường trực HĐND huyện Vị Thanh mời một số nhânchứng đến xã Vị Bình để chất vấn gồm: ông Ngôn, ông Nguyễn Văn Thoại, ôngNguyễn Văn Sang, ông Võ Văn Tới (từ tháng 6/1977 làm Tài chính ấp), cácông lại cho rằng các biên bản lập tại Thanh tra huyện không đúng ý kiến của cácông
Ngày 19/6/1996, Thường trực HĐND huyện Vị Thanh tiếp tục xác minh ông Nguyễn Văn Ân cho rằng có việc sang bán xảy ra trước khi vào Tập đoàn; Ông Nguyễn Văn Thẳng, ông Lê Hoàng Buôl, ông Trần Văn Đất nguyên là cán
bộ trong Ban quản lý Tập đoàn (cũ) xác định trong Tập đoàn không ai cắt đấtcủa ông Trần Văn Bảy cũng không ai cấp đất cho ông Nguyễn Văn Tuấn; Ông
Trang 9Lê Văn Nhựt nguyên là Tập đoàn phó Tập đoàn 1 cho rằng sau tiếp thu (năm1975) khoảng 1 năm thì ông thấy ông Tuấn canh tác phần đất tranh chấp đến khi mang đất vào Tập đoàn sản xuất.
Ngày 09/5/1998, Thường trực HĐND tỉnh Cần Thơ cùng các ngành chức năng của tỉnh, huyện và UBND xã Vị Bình, tiến hành họp dân lấy các ý kiến: Ông Bùi Văn Nghĩa nguyên là tập đoàn trưởng năm 1978 cho rằng chính ông Tuấn là người đưa đất vào tập đoàn; ông Nguyễn Văn Thoại nguyên Thư ký tập đoàn 1 từ năm 1978 đến năm 1979 chính ông Tuấn là người sử dụng phần đất tranh chấp trên
Từ những cơ sở trên, ngày 30/10/1998, Chủ tịch UBND tỉnh Cần Thơ ban hành Quyết định số 2939/1998/QĐ.Ct.NC có nội dung: Công nhận Quyết định số 14/QĐ.UBH.94 ngày 12/5/1994 của UBND huyện Vị Thanh; giao UBND huyện Vị Thanh thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 818/GCN ngày 08/10/1989 đã tạm cấp cho ông Nguyễn Văn Tuấn; Giao quyền
sử dụng diện tích 10.000m2đất nông nghiệp tọa lạc tại ấp 2, xã Vị Bình,
huyện Vị Thanh cho bà Nguyễn Thị Hồng Thanh
Do quyết định nêu trên diện tích chưa chính xác, nên ngày 08/7/1999 Chủ tịch UBND tỉnh Cần Thơ ban hành Quyết định số 1711/QĐ.NC về việc điều chỉnh Điều 1 Quyết định số 2939/1998/QĐ.Ct.NC ngày 30/10/1998 của Chủ tịch UBND tỉnh Cần Thơ như sau: Giao quyền sử dụng diện tích 13.659m2đất tại
ấp 2, xã Vị Bình, huyện Vị Thanh, cho bà Nguyễn Thị Hồng Thanh
Ngày 19/8/1999, UBND huyện Vị Thanh cấp Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất trên diện tích 13.659m2cho hộ bà Nguyễn Thị Hồng Thanh Gia đình ông Tuấn không chấp hành quyết định, không giao đất và tiếp tục khiếu nại
Ngày 10/10/2002, Thanh tra tỉnh Cần Thơ cùng với Sở Địa chính, Sở Xây dựng, kết hợp với UBND huyện Vị Thủy làm việc với Đảng ủy và UBND xã Vị Bình và 23 người dân tham gia cuộc họp đều thống nhất đề nghị xem xét giao hết đất tranh chấp cho ông Nguyễn Văn Tuấn canh tác Thanh tra tỉnh động viên gia đình ông Tuấn giao lại một phần đất cho bà Thanh sản xuất, nhưng ông Tuấnkhông thống nhất
Trang 10Ngày 19/5/2003, Thanh tra tỉnh Cần Thơ có Tờ trình số 40/TTr.TTr vềviệc thực hiện kết luận tại cuộc họp xét khiếu nại ngày 03/9/2002 của UBNDtỉnh Cần Thơ giao Thanh tra tỉnh tổ chức hòa giải hai hộ Nguyễn Thị HồngThanh và Nguyễn Văn Tuấn theo hướng chia đôi diện tích 13.659m2nhưngkhông thành.
Ngày 15/7/2003,Văn phòng UBND tỉnh Cần Thơ có Công văn
số 373/VP.UB về việc thông báo kết luận của ông Võ Thanh Tòng Phó Chủtịch Thường trực UBND tỉnh tại cuộc họp xét khiếu nại ngày 01/7/2003, giaoUBND huyện Vị Thủy trao đổi với Huyện ủy thống nhất hướng giải quyết vụtranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Tuấn với bà Nguyễn ThịHồng Thanh nêu trên
Ngày 28/10/2003, Thanh tra tỉnh Cần Thơ có Tờ trình số 95/TTr.TTr, về việc thực hiện Công văn số 373/VP.UB nêu trên, ngày 19/9/2003 UBND huyện
Vị Thủy tổ chức cuộc họp bao gồm đại diện Huyện ủy, HĐND, UBND huyện cùng các ngành chức năng của huyện, đại diện Cấp ủy, HĐND, UBND xã Vị Bình, Chi bộ và Trưởng ấp 2, xã Vị Bình tham dự đóng góp ý kiến và xin quan điểm giải quyết Cuộc họp có mời các thành viên Tổ 2 - Đoàn công tác liên ngành của tỉnh dự Sau khi trao đổi bàn bạc có 11 ý kiến đóng góp, trong đó có 7
ý kiến, kiến nghị UBND tỉnh giải quyết đất tranh chấp cho ông Nguyễn Văn Tuấn là phù hợp, có 3 ý kiến không đề xuất giải quyết Cuối cùng cuộc họp thống nhất kiến nghị giải quyết đất cho ông Nguyễn Văn Tuấn canh tác, bác đơn
bà Thanh
Ngày 19/3/2012, ông Nguyễn Văn Tuấn trình bày: Thời điểm vào Tập đoàn gia đình ông có 7 khẩu (2 lao động chính, còn lại thuộc dạng ăn theo) Ông nhận đất do giao khoán thiếu diện tích nên nhận thêm phần đất ông 5 Phụng canh tác đến năm 1989 thì trả lại hộ đất gốc Phần đất tranh chấp có 2 mảnh, một mảnh khoảng 10.000m2, mảnh còn lại trên 3.000m2, có con kênh ở giữa Hiện tại phần đất này đã cho 2 người con Nguyễn Văn Đông (5 khẩu) cất nhà ở, lên vườn
và còn gần 1 công ruộng, ông Nguyễn Văn Đa (4 khẩu) đầu ngoài kênh cất nhà
ở, lên vườn, còn lại
hơn 5 công ruộng Hiện tại ông có 5 công vườn (ngoài phần tranh chấp) đã cho
Trang 11người con, 5 công ruộng tại xã Vị Bình và 3 công tại xã Hòa Hưng Việc đóng thuế
số lượng bao nhiêu ký và vào Tập đoàn năm nào ông không nhớ Khi vàoTập đoàn, ông Tư Xiều (hiện đã chết) có mời ông lên Vị Thanh họp và ký tênđưa đất vào tập đoàn Lúc đó ông Trưởng làm Thư ký Ông Tuấn khẳng địnhphần đất này không bị cắt xâm canh Hiện tại hộ ông có 5 khẩu
Ngày 22/3/2012, Đoàn kiểm tra trực tiếp đến phần đất đang tranh chấp đo đạc, khảo sát và ghi nhận hiện trạng thực tế trên đất Phần đất này ông Tuấn đã cho 2 người con Nguyễn Văn Đa và Nguyễn Văn Đông
về việc hướng dẫn giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất trong tỉnh
2.1.1 Phân tích nguyên nhân và hậu quả
Xét thấy toàn bộ chủ trương, chính sách, pháp luật về đất đai khi áp dụng
để giải quyết vụ khiếu nại trên của từng cấp lại khác nhau, không thống nhất Quyết định số 2939/1998/QĐ.Ct.NC ngày 30/10/1998 của Chủ tịch UBND tỉnh Cần Thơ đa số người dân địa phương không đồng tình Còn đối với hộ ông Nguyễn Văn Tuấn không chấp hành quyết định giải quyết, vẫn tiếp tục khiếu nại Như vậy thì nguyên nhân chính do đâu? Lý do tại sao?
2.1.2 Nguyên nhân
Đầu tiên là sự yếu kém của các cấp chính quyền trong giải quyết vụ việc trên Việc vận dụng các chủ trương, chính sách pháp luật về đất đai giữa các cấp chính quyền chưa có sự thống nhất, các chứng cứ do các bên cung cấp chưa thuyết phục Kết quả xác minh giữa các cấp chính quyền còn mâu thuẫn với nhau nên mỗi
cấp giải quyết theo một cách khác nhau dẫn đến vụ việc khiếu nại kéo