SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THỪA THIÊN - HUẾTRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN QUẢNG ĐIỀN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: SỰ THỂ HIỆN PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ TỐ HỮU TRONG TÁC PHẨM VIỆT BẮC NGƯỜI
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THỪA THIÊN - HUẾ
TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN QUẢNG ĐIỀN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI: SỰ THỂ HIỆN PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ TỐ HỮU TRONG TÁC
PHẨM VIỆT BẮC
NGƯỜI THỰC HIỆN: PHAN TRẦN THANH TÚ
Trang 2MỤC LỤC
Trang
PHẦN I: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ……….1
1 Lí do chọn đề tài: ……….….1
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: ……… 1
3 Phương pháp nghiên cứu:……… 2
4 Đóng góp của đề tài: ……….2
5 Cấu trúc của đề tài: ……… 2
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ………3
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TÁC GIẢ TỐ HỮU VÀ TÁC PHẨM VIỆT BẮC ………3
1.1 Tác giả Tố Hữu: ……….3
1.2 Tác phẩm Việt Bắc: ……… 4
1.3 Một vài lưu ý quan trọng khi nghiên cứu về tác giả Tố Hữu và tác phẩm Việt Bắc: ……… 4
CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ PHONG CÁCH HỌC TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC ……… 6
2.1 Điểm qua một số công trình nghiên cứu văn học lớn ở Việt Nam vận dụng lí thuyết phong cách học: ………6
2.2 Nhận diện khái niệm Phong cách trong nghiên cứu văn học: ……… 7
CHƯƠNG 3: SỰ THỂ HIỆN ĐẶC TRƯNG PHONG CÁCH CỦA NHÀ THƠ TỐ HỮU TRONG TÁC PHẨM VIỆT BẮC ……… 8
3 1 Những tiếng lòng đồng vọng của kẻ ở - người đi: ……… 8
3.2 Tiếng lòng người cán bộ về xuôi: ………13
3.3 Không gian kháng chiến Việt Bắc và lời ca ngợi Đảng, Bác Hồ 20
PHẦN III: KẾT LUẬN ………23
PHẦN IV: TÀI LIỆU THAM KHẢO ………24
LỜI CAM ĐOAN ……….25
Trang 3PHẦN I: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1 Lí do chọn đề tài:
Việc giảng dạy tác phẩm Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu trong chương trìnhNgữ văn khối lớp 12 có một ý nghĩa quan trọng đặc biệt Đây không đơn thuần làviệc giảng dạy, học tập một tác phẩm nghệ thuật mà còn là sự tìm hiểu và nhậnthức sâu sắc về những chặng đường quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam vàbồi dưỡng lòng yêu nước cho học sinh – thanh niên
Tuy nhiên, đoạn trích được học trong sách giáo khoa lại rất dài về dunglượng (đến 10 khổ thơ dài) nên việc tìm hiểu trên lớp của học sinh dưới sự hướngdẫn của giáo viên gặp nhiều khó khăn Nhất là thời lượng giảng dạy trên lớp khôngcho phép đi sâu phân tích kỹ từng khổ thơ, nhưng nhiều đề thi trong những nămqua lại yêu cầu học sinh phân tích từng khổ Do vậy, học sinh làm bài sẽ gặp một
số khó khăn nhất định
Để giúp học sinh dễ dàng hơn trong học tập tác phẩm hay nhưng không hề
dễ phân tích này, chúng tôi mạnh dạn chọn và giải quyết đề tài “Sự thể hiện phongcách nghệ thuật thơ Tố Hữu qua tác phẩm Việt Bắc” Đề tài của chúng tôi nhằm hỗtrợ thêm cho các giáo viên khi giảng dạy tác phẩm này đồng thời cũng là nguồn tài
liệu hữu ích cho học sinh khi học tác phẩm Việt Bắc Chúng tôi kết hợp phân tích, bình giảng tác phẩm lớn này theo từng khổ thơ được trích trong sách giáo khoa, đồng thời kết hợp chỉ ra đặc trưng phong cách của nhà thơ Tố Hữu.
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu cơ bản của chúng tôi là 10 khổ thơ của bài thơ ViệtBắc được trích trong sách giáo khoa ngữ văn 12 (chương trình chuẩn) Đồng thời,chúng tôi, trong quá trình nghiên cứu, có mở rộng đối tượng khảo sát ra toàn bộ bàithơ Việt Bắc và tập thơ Việt Bắc cùng các tập thơ khác của Tố Hữu
Trang 43 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện chuyên đề, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơbản như Phong cách học, Thi pháp học, Xã hội học tác giả… cùng các thao tác bổtrợ như so sánh – đối chiếu, phân loại, phân tích…
4 Đóng góp của đề tài:
Chuyên đề dự kiến có những đóng góp cơ bản: Chỉ ra những đặc sắc nộidung và nghệ thuật của bài thơ Việt Bắc trong mối liên hệ với đặc trưng phongcách của nhà thơ Tố Hữu; làm tài liệu học tập hữu hiệu cho học sinh và tư liệutham khảo cho giáo viên khi học tập – giảng dạy bài thơ Việt Bắc
5 Cấu trúc của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, chuyên đề được cấu trúcthành các chương:
Chương 1: Khái quát về tác giả Tố Hữu và tác phẩm Việt Bắc
Chương 2: Khái quát về phong cách học trong nghiên cứu văn học
Chương 3: Sự thể hiện đặc trưng phong cách của nhà thơ Tố Hữu trong tácphẩm Việt Bắc
Trang 5PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TÁC GIẢ TỐ HỮU VÀ TÁC PHẨM VIỆT BẮC
Những thông tin về tác giả Tố Hữu và tác phẩm Việt Bắc là vấn đề không cótính mới đối với những chuyên đề như chúng tôi đang thực hiện Do vậy chúng tôichỉ trình bày hết sức vắn tắt và khúc chiết những chi tiết quan trọng mà khi giảngdạy cũng như khi làm bài học sinh không thể không nói Những thông tin sau chỉ làkhái lược
1.1 Tác giả Tố Hữu:
Tố Hữu sinh năm 1920, tên thật là Nguyễn Kim Thành, quê ở làng Phù Lai,
xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế Nhà thơ xuất thân trong mộtgia đình nhà nho nghèo Cha và mẹ sớm đã truyền cho ông tình yêu với văn học.Năm 1938, ông được kết nạp Đảng và từ đó hiến dâng đời mình cho cách mạng.Năm 1939, ông bị bắt và bị giam qua nhiều nhà tù ở miền Trung và Tây Nguyên.Đến năm 1942, Tố Hữu vượt ngục ra Thanh Hoá, tiếp tục hoạt động cách mạng.Tháng Tám năm 1945, Tố Hữu lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền
ở Huế Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ, Tố Hữu liên tục giữ nhữngchức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Với những cốnghiến lớn lao cho nghệ thuật và lịch sử dân tộc, năm 1996 Tố Hữu được Nhà nướcphong tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt 1
Con đường nghệ thuật của Tố Hữu gắn liền với những chặng đường vàngson của cách mạng Việt Nam Các tập thơ của ông đều gắn với những mốc son của
lịch sử dân tộc: Từ ấy (19371946), Việt Bắc (1947 1954), Gió lộng (1955 1961), “Ra trận” (1962 - 1971), “Máu và hoa” (1972 – 1977), “Một tiếng đờn” (1992) và “Ta với ta” (1999).
Trang 6-1.2 Tác phẩm Việt Bắc:
Bài thơ “Việt Bắc” ra đời trong hàn cảnh lịch sử hết sức đặc biệt Sau khichiến thắng Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết,tháng 10 năm 1954, Trung ương Đảng quyết định rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ
đô Hà Nội Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ
“Việt Bắc”
“Việt Bắc” là một đỉnh cao tiêu biểu cho tư tưởng và phong cách nghệ thuật
thơ Tố Hữu, đồng thời cũng là tác phẩm xuất sắc của văn học Việt Nam thời kìkháng chiến chống Pháp Nhan đề bài thơ được trang trọng lấy làm nhan đề cho tậpthơ “Việt Bắc” xuất bản năm 1954
Về kết cấu, bài thơ được xây dựng theo diễn biến tự nhiên của tâm trạng hoàiniệm Từ hiện tại với cuộc chia li kẻ ở - người đi, tác giả hồi tưởng về quá khứ ântình của “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” và cùng nhau hướng tới tương laitươi sáng của đất nước Đoạn trích có thể chia làm hai phần: Phần thứ nhất từ đầu
đến “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa” nói về tâm trạng bùi ngùi, lưu luyến,
nỗi niềm của người ở lại Phần còn lại bày tỏ niềm thương nhớ của người cán bộcách mạng về xuôi
1.3 Một vài lưu ý quan trọng khi nghiên cứu về tác giả Tố Hữu và tác phẩm Việt Bắc:
Khi nghiên cứu tác giả Tố Hữu chúng ta không thể không chú ý vài điềuquan trọng Dòng văn học cách mạng Việt Nam chuyển qua các giai đoạn với cácloại tác phẩm và tác giả có sự khác biệt về tư tưởng và cảm hứng Sự vận động từthơ văn của phong trào Đông Du, Duy Tân Đông Kinh Nghĩa Thục đến thơ văn củaphong trào chống thuế tại Trung Kì (Trung Kì dân biến) đến thơ văn trong tù rồithơ của các nhà cách mạng vô sản là sự vận động tích cực theo sự phát triển củacách mạng Việt Nam mà Tố Hữu lại nằm ở giai đoạn đích sau cùng Qua trườnghợp Tố Hữu chúng ta thấy giai đoạn nhà thơ sống chính là giai đoạn tư duy thơ đổikhác dưới ngọn bút của các nhà cách mạng: “từ một lối tư duy thơ hướng về các
Trang 7mẫu mực cổ xưa, người ta hướng vào tương lai và thực trạng trước mắt Từ vănchương ngôn chí, thù tạc tỏ lòng, văn chương tiến than chuyển sang văn chươngtrình bày hiện thực, tuyên truyền, kêu gọi cách mạng Từ văn chương nói với trờiđất, với kẻ tri kỉ, tri âm vốn hiếm hoi và mang tính cá nhân, xuất hiện văn chươnghướng tới đông đảo quần chúng; từ một nền văn chương mang tính chất trí thứcquý tộc chuyển sang nền văn học đại chúng bình dân Từ văn chương chữ Hán làchủ yếu chuyển sang nền văn học tiếng Việt hiện đại Thi liệu đổi thay, chức năngthể loại cũng khác” [3; 24] Và do vậy, Tố Hữu hội đủ điều kiện “kết hợp hài hòa tưtưởng cách mạng cao đẹp, sáng rõ nhất của thời đại với hình thức ngôn ngữ thơtiếng Việt hiện đại và không ngừng đổi mới, làm phong phú cho nó” [3;27].
Trang 8CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT VỀ PHONG CÁCH HỌC TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC 2.1 Điểm qua một số công trình nghiên cứu văn học lớn ở Việt Nam vận dụng lí thuyết phong cách học:
Đến nay, ở Việt Nam ta, việc vận dụng lí thuyết phong cách học trongnghiên cứu văn học không còn là mới mẻ nữa Nhiều nhà nghiên cứu và nhiều nhànghiên cứu lớn đã dung lí thuyết Phong cách học trong tiếp cận nghiên cứu tácphẩm văn học và đạt những hiệu quả vô cùng to lớn Chúng ta có thể kể một sốcông trình như “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều” của Giáo sưPhan Ngọc; loạt công trình liên tiếp của tác giả thời danh Đỗ Lai Thúy như “HồXuân Hương hoài niệm phồn thực”, “Bút pháp của ham muốn”, “Phê bình văn học– con vật lưỡng thê ấy”, “Mắt thơ”, rồi gần đây nhất là “Thơ như là mỹ học của cáckhác”
Công trình “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều” là côngtrình có thể xem là đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về phong cách học ở Việt Nam,
có thể xem đó là công trình có tính khai phá cho một phương pháp nghiên cứu vănhọc mới được áp dụng vào Việt Nam Giáo sư Phan Ngọc, qua việc khảo sátTruyện Kiều ở những nội dung lớn như Tư tưởng của Truyện Kiều, Phương pháp
tự sự của Nguyễn Du, thủ pháp phân tích tâm lý trong Truyện Kiều, bố cục, câuthơ, ngôn ngữ và ngữ pháp của Truyện Kiều đã cho người đọc thấy được ưu việtlớn của phương pháp Phong cách học trong nghiên cứu văn học Việc áp dụngphương pháp này đã giúp Giáo sư Phan Ngọc làm rõ cống hiến thiên tài củaNguyễn Du trong Truyện Kiều
Loạt công trình của Đỗ Lai Thúy đã khắc sâu thêm ảnh hưởng của phươngpháp Phong cách học trong lòng độc giả Việt Nam Chớ tưởng rằng Đỗ Lai Thúychỉ áp dụng phương pháp Phân tâm học trong các công trình của mình Qua việcnhận định có tính định hướng “Phong cách chính là sự lệch chuẩn”, Đỗ Lai Thúy
đã đi tìm sự “lệch chuẩn” đáng ngợi ca trong sáng tác của nhiều tác giả
Trang 92.2 Nhận diện khái niệm Phong cách trong nghiên cứu văn học:
Theo Giáo sư Phan Ngọc Phong cách học là “khoa học khảo sát các kiểu lựachọn và giá trị biểu cảm của các kiểu lựa chọn ấy” Nhiệm vụ của Phong cách học
là “khảo sát các kiểu thay thế, nhằm đưa ra những phán đoán về giá trị, trong lúc đócác bộ môn khác của ngôn ngữ học đưa ra những phán đoán về hiện thực … Phongcách là một cấu trúc hữu cơ của tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành mộtcách lịch sử, và chứa đựng một giá trị lịch sử có thể cho phép ta nhận diện một thờiđại, một thể loại, một tác phẩm hay một tác giả… Trong phong cách có nội dung,nhưng nội dung được xây dựng theo cái hình thức riêng thích hợp với phong cách”[2;27]
Như vậy, theo Phan Ngọc, Phong cách không phải bao giờ cũng trùng khítvới thời đại Một thời đại “chỉ có phong cách của nó khi nghệ thuật của nó đạt đếnmột trình độ tiêu biểu không lặp lại ở các thời đại khác Mỗi thời đại chỉ có đượcphong cách của mình sau khi đã có được một cách khám phá riêng cho nó mà đờitrước chưa có” Phong cách cũng không đồng nhất với thể loại Bởi “thể loại cũngđạt đến một cách nhìn riêng của nó, lúc đó mới có phong cách” Hiện tượng phongcách tác giả lại càng hiếm hơn nữa Một tác giả chỉ có thể có một phong cách riêngkhi “đọc một vài câu, người ta đoán biết tác giả là ai, khi phong cách mà tác giảxây dựng góp phần vào truyền thống văn học, trở thành mẫu mực cho nhiều ngườinoi theo và học tập” [2;29] Với cách hiểu phong cách như thế, ta sẽ dễ dàng tìmthấy đặc trung phong cách của Tố Hữu – lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam
Trang 10CHƯƠNG 3
SỰ THỂ HIỆN ĐẶC TRƯNG PHONG CÁCH CỦA NHÀ THƠ TỐ HỮU
TRONG TÁC PHẨM VIỆT BẮC
3 1 Những tiếng lòng đồng vọng của kẻ ở - người đi:
Khổ 1: Lời của người ở lại
Trong cảnh chia tay dùng dằng, lưu luyến, bịn rịn giữa người đi và kẻ ở,người ở lại đã mở lời trước với câu hỏi xiết bao ân tình:
“Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”
Trong khổ thơ này, “mình” là người ra đi, là người cán bộ kháng chiến chiatay Việt Bắc, “ta” là người ở lại, là đồng bào Việt Bắc và cả thiên nhiên núi rừngViệt Bắc sâu nặng ân tình Để diễn tả tình cảm lưu luyến, bịn rịn giữa người đi và
kẻ ở, Tố Hữu đã sử dụng lối xưng hô mình - ta quen thuộc trong ca dao Đại từmình - ta cũng chính là hai nửa yêu thương trong ca dao tình yêu đôi lứa:
“Mình về ta chẳng cho về
Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ”
Lối xưng hô này đã tạo nển sắc thái tình cảm thân mật, đằm thắm như tìnhyêu đôi lứa giữa người cán bộ cách mạng và nhân dân Việt Bắc Như vậy, vấn đề
có tính chính trị được Tố Hữu trình bày trong bài thơ không khô khan mà lại rất dễ
đi vào lòng người
Với khổ thơ đầu, chỉ có bốn dòng thơ nhưng lại có tới hai câu hỏi luyến láytrong khắc khoải, dồn dập: “mình về mình có nhớ ta”, “mình về mình có nhớkhông?” Thực ra, hỏi chỉ là cách mà người ở lại bày tỏ nỗi lòng Hỏi người có nhớkhông chính là ngầm bảo ta rất nhớ người Việt Bắc hỏi người đi nhưng cũng muốnthể hiện lòng mình nhớ người đi da diết Hỏi “nhớ không” là đã hàm nghĩa lời nhắngửi, nhắc nhở người về chớ quên
Trang 11Trong cảm xúc bùi ngùi đưa tiễn, người ở lại nhắc nhở người ra đi đừng
quên “mười lăm năm” đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi; đừng quên Việt Bắc là
“quê hương cách mạng”, là cội nguồn, là thủ đô kháng chiến Những cây, núi, sông, nguồn không chỉ là thiên nhiên mà còn là nguồn cội, như lời ca dao về công
sinh thành của cha mẹ mà dân gian từng ca ngợi:
“Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
Khổ 2: Tiếng lòng của người ra đi
Đáp lại những câu hỏi của người miền núi la tiếng lòng của người ra đi
“Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuân trong dạ, bồn chồn bước đi”
Đây không phải là câu trả lời trực tiếp mà chỉ là lời độc thoại nội tâm Người
đi như nói với chính mình để qua đó bộc bạch nỗi lòng lưu luyến Với việc sử dụng
từ phiếm chỉ “tiếng ai” đã làm tứ thơ mờ hóa trong cảm xúc bồi hồi của người đi kẻ
ở “Tiếng ai” trong câu thơ cũng là tiếng người ở lại vang vọng, khơi gợi nỗi nhớcủa người đi
Người cán bộ kháng chiến giã từ Việt Bắc với nỗi nhớ lưu luyến, tiếc nuối,bâng khuâng Những trạng thái cảm xúc ấy dồn nén lại , làm ngập ngừng bướcchân Tố Hữu đã sử dụng nhiều từ láy “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” đểdiễn tả tâm trạng bịn rịn, lưu luyến lúc chia tay Ta - mình dường như bịn rịn trongcảm giác “người ơi người ở đừng về” nghe sao xao xuyến, cuộn xoáy tâm hồn
Hai câu thơ tiếp theo, nhà thơ đã sử dụng thành công phép hoán dụ để chỉhình ảnh con người Việt Bắc:
“Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay ”
Mười lăm năm trước trong đói nghèo, Việt Bắc đã đón nhận và cưu mangngười cách mạng Mười lăm năm sau, những người dân Việt Bắc, vẫn chiếc áo
Trang 12chàm ấy tiễn đưa người cán bộ về xuôi Nghĩa tình biết nói mấy cho vừa Dấu chấmlững khép hờ câu thơ đã thể hiện sự dùng dằng, lưu luyến giữa người đi và kẻ ở.
“Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay ” là câu thơ có giá trị biểu cảm
lớn Không nói nhưng đã nói rất nhiều bởi lẽ không biết nói gì không phải là không
có gì để nói mà chính bởi cõi lòng tràn ngập vô vàn điều muốn nói nhưng nghẹnngào không thể nói lên lời
Khổ 3: Người ở lại gợi nhắc ân tình
Nhớ Việt Bắc là nhớ những tháng ngày gian khổ Ở khổ thơ thứ 3, người ởlại, trong nỗi lưu luyến bồi hồi, đã gợi lại kỉ niệm trong những năm tháng thiết thamặn nồng ở chiến khu:
“Mình đi có nhớ những ngày
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?”
Toàn bộ khổ thơ này, Tố Hữu đã sử dụng một loạt câu hỏi vang lên dồn dập:
“mình đi có nhớ”, “mình về có nhớ” Bao nhiêu cặp lục bát là bấy nhiêu câu hỏi
Và cứ sau một câu hỏi lại là một câu giãi bày liên tục, khắc khoải Một câu hỏi đặt
ra lại kèm theo một lời nhắn nhủ, gợi lại kỉ niệm Việt Bắc nhắn nhủ người đi hãynhớ về những tháng ngày gian khổ nhưng ấm áp nghĩa tình giữa người cán bộkháng chiến và nhân dân nơi đây
Trong lời nhắn gửi của Việt Bắc, có sự gợi nhắc về thiên nhiên luôn gắn bóvới con người:
“Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù”
Nhớ về Việt Bắc, xin đừng quên cảnh thiên nhiên mang nét đặc trưng củarừng núi: thiên nhiên khắc nghiệt mưa nguồn thác lũ, sương mù giăng phủ bảnlàng, mây che mờ mịt nhưng thân thuộc và gắn bó biết bao bởi vì thiên nhiên ấy đãtừng chở che con người
Trang 13Nhớ về Việt Bắc, xin đừng quên những tháng ngày gian khổ, trường kìkháng chiến với biết bao tình nghĩa đã có với nhau:
“Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?”
Hình ảnh “miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai” như làm ta liên tưởng đến âm hưởng trầm hùng của những trái tim “biết trồng tre đợi ngày thành gậy/ đi trả thù mà không sợ dài lâu” Yêu quí biết bao nhiêu một Việt Bắc nghèo khó
nhưng luôn dung chứa trong mình những tình cảm lớn với tổ quốc, nhân dân
Trong nỗi nhớ thương dâng đầy, người ở lại tiếp tục bật lên lời nhắn nhủ:
“Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bụi để rụng, măng mai để già”
“Rừng núi nhớ ai” hay người ở lại nhớ người đi khôn xiết? Trong câu nói lấplửng của Việt Bắc như có chút dỗi hờn, trách móc nhẹ nhàng mà đầy yêu thương.Người đi rồi, trám rụng, măng già, cỏ cây buồn khô héo
Người ở lại vẫn tiếp tục gợi nhớ: mình đi đừng quên bản làng, đất đai, cỏcây, đừng quên nghĩa tình “mười lăm năm ấy”:
“Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son Mình về, còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh”
Bởi bản làng, núi non là nơi chứng kiến biết bao ân tình, nơi nuôi dấu và vun
đắp những “tấm lòng son”, nơi chứng kiến sự sinh thành và lớn lên của cách mạng
từ buổi đầu Việt Minh, những ngày kháng Nhật
Đai từ “mình” xuất hiện nhiều lần trong khổ thơ thứ ba, nhưng đến hai câucuối của khổ thơ, Tố Hữu đã sử dụng cách xưng hô đầy sáng tạo:
“Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?”