Vì vậy, việc dạy học các từ Hán Việt rất quan trọng không những giúphọc sinh hiểu thêm về sự phong phú của tiếng Việt mà còn giúp các em sửdụng từ ngữ một cách tinh tế.. Ở tiểu học, việc
Trang 1PHÒNG GD - ĐT HUYỆN ĐÔNG ANH
TRƯỜNG TIỂU HỌC NGÔ TẤT TỐ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG BẢN ĐỒ,
LƯỢC ĐỒ, BIỂU ĐỒ, BẢNG SỐ LIỆU ĐỊA LÍ
CHO HỌC SINH LỚP 5
Lĩnh vực/ Môn: Địa lí Cấp học: Tiểu học Tên tác giả: Tạ Tuấn Anh Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Ngô Tất Tố Chức vụ: Giáo viên
NĂM HỌC: 2018 - 2019
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC
A ĐẶT VẤN ĐỀ
I Lí do chọn đề tài
II Đối tượng và khách thể nghiên cứu
III Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
IV Phương pháp nghiên cứu
V Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Cơ sở lí luận
II Cơ sở thực tiễn
III Các biện pháp đã tiến hành
1 Biện pháp giúp học sinh sử dụng hiệu quả bản đồ, lược đồ
2 Biện pháp giúp học sinh sử dụng hiệu quả biểu đồ, bảng số liệu
3 Biện pháp giúp học sinh sử dụng hiệu quả tranh ảnh
Trang 3A ĐẶT VẤN ĐỀ
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong Tiếng Việt, các từ Hán Việt chiếm một phần khá lớn Các từ HánViệt được hình thành do sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán và Việt Tuy nhiên, theothời gian, cùng với sự phát triển của ngôn ngữ, những từ ngữ Hán Việt đã khác
xa so với ngôn ngữ Trung Hoa hiện đại Nó trở thành một bộ phận của tiếngViệt Vì vậy, việc dạy học các từ Hán Việt rất quan trọng không những giúphọc sinh hiểu thêm về sự phong phú của tiếng Việt mà còn giúp các em sửdụng từ ngữ một cách tinh tế
Ở tiểu học, việc dạy các từ Hán Việt được lồng ghép trong phân môn Luyện
từ và câu trong các bài Mở rộng vốn từ qua các chủ điểm như: Nhân dân, Hoà bình, Hữu nghị - Hợp tác…Vậy, làm thế nào để giúp các em hiểu và biết cách
dùng các từ Hán Việt một cách phù hợp mà không quá nặng về kiến thức líluận? Thực tế thì từ Hán Việt là một đối tượng khó dạy bởi nó liên quan đếnmặt ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài này đểviệc dạy học từ Hán Việt cho học sinh lớp 4 thực sự có hiệu quả
Liên quan đến đề tài này có nhiều công trình nghiên cứu, sách giáo khoa,sách tham khảo, tạp chí chuyên ngành bàn luận về từ Hán Việt trên nhiều khíacạnh khác nhau Những công trình đó chủ yếu đề cập đến những vấn đề chung
về cấu tạo và ngữ nghĩa của từ Hán Việt nhằm cung cấp những tri thức đểdùng đúng lớp từ và quan trọng nhất là giữ gìn, phát huy sức mạnh của TiếngViệt, đáp ứng tốt yêu cầu của thời đại Sự quan tâm nghiên cứu về từ Hán Việttương đối phong phú, đều khắp các mặt, nhưng về phương pháp giảng dạy từHán Việt cho học sinh Tiểu học trong phân môn Luyện từ và câu và khảo sátkhả năng nhận biết, giải nghĩa từ Hán Việt qua phân môn Luyện từ và câu chohọc sinh lớp 4 là một vấn đề chưa ai bàn đến Để hiểu hơn về từ Hán Việt,cách giải nghĩa từ Hán Việt, để thấy được cái hay cái đẹp của việc sử dụng từ
Hán Việt, tôi xin mạnh dạn được tìm hiểu về đề tài “Phương pháp dạy học từ
Hán Việt trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4”.
II ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ:
1 Đối tượng:
- Phương pháp dạy từ Hán Việt trong giờ học Luyện từ và câu lớp 4
2 Khách thể:
- Học sinh lớp 4 lớp tôi chủ nhiệm
III MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
1 Mục đích nghiên cứu:
Đánh giá thực trạng vấn đề dạy và học từ Hán Việt là một vấn đề hết sứcphức tạp, phức tạp ở chỗ năng lực truyền đạt của giáo viên và khả năng hiểucủa học sinh về lớp từ này Nên tôi đề xuất một số biện pháp giúp học sinh lớp
4 hiểu và sử dụng tốt từ Hán Việt trong phân môn Luyện từ và câu góp phầnnâng cao chất lượng, tạo niềm tin, phát huy tính ham học, thích khám phá điềumới lạ cho học sinh
2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc dạy từ Hán Việt trong giờ học Luyện từ vàcâu lớp 4 ở Tiểu học
- Nghiên cứu thực trạng dạy từ Hán Việt trong giờ học Luyện từ và câu lớp 4
Trang 4IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng kết hợp các phương pháp:
- Phương pháp đọc sách, tài liệu
- Phương pháp tổng hợp lí luận thực tiễn
- Phương pháp khảo sát, điều tra, thống kê, phân loại và so sánh tư liệu
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ
- Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm
V GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Trang 5B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Trước đây trên địa bàn của nước Văn Lang cổ đại có một ngôn ngữ bản địa,
từ vựng của ngôn ngữ này có nhiều đặc tính chung của từ vựng của nhiều ngônngữ Đông Nam Á lân cận như tiếng Thái, tiếng Khme… Đó là những vốn từ
thuần Việt cho đến nay vẫn còn được sử dụng Tiếp đó do cuộc xâm lược của
các triều đại phong kiến Trung Quốc kéo dài hàng ngàn năm với một khối lượnglớn từ Hán đã du nhập vào và được dân tộc Việt Nam tiếp thu, làm phong phúthêm nhưng không làm mất đi bản sắc của mình Có thể chia quá trình thâmnhập của tiếng Hán thành hai thời kì thời kì trước và sau sự đô hộ của phong
kiến nhà Đường Các từ thâm nhập vào Tiếng Việt vào thời kì trước được phát
âm theo hệ thống ngữ âm Hán cổ khác với ngữ âm Hán Việt thâm nhập vào thời
kì sau Ở thời kì trước, từ gốc Hán xâm nhập vào kho từ vựng chủ yếu bằngkhẩu ngữ tự nhiên (lời nói hằng ngày) Ở thời kì sau, từ gốc Hán xâm nhập vàokho từ vựng Tiếng Việt bằng cả hai con đường khẩu ngữ tự nhiên và con đườngsách vở Dù bằng con đường nào thì từ gốc Hán khi nhập vào vốn từ Tiếng Việtcũng phải chịu sự chi phối của quy luật ngữ âm Tiếng Việt Do đó chúng có sựthay đổi về mặt ngữ âm, đó là điều kiện để tạo nên lớp từ Hán Việt trong TiếngViệt
Từ Hán đã được Việt hoá là lớp từ mượn ở tiếng Hán nhưng đã được Việthoá hoàn toàn Hiện nay trong Tiếng Việt tồn tại song song cả từ gốc Hán lẫn từthuần Việt đồng nghĩa, nhưng có sắc thái biểu cảm khác nhau Chẳng hạn: phụ
nữ - đàn bà, nhi đồng – trẻ con, hoả xa – xe lửa, lực – sức, đao – dao, sang –giường, không phận – vùng trời, đại – đời, ấn – in, long – rồng
Ngoài những từ thâm nhập thời kì thứ hai đã được Việt hoá, đại bộ phậnnhững yếu tố Hán Việt còn lại vẫn giữ cách phát âm cũ, chưa được Việt hoá,còn mang đậm màu sắc ngoại lai Ví dụ: xá xíu, sủi cảo, tào phớ, xì dầu, vằnthắn, bát bảo lường xà…
1 Khái niệm từ Hán Việt
Từ Hán Việt được giải thích là từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán,
đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ
âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt, còn gọi là từ Việt gốc Hán (Theo từđiển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học – NXB Giáo dục)
Theo lời giải thích trên thì từ Hán Việt và từ gốc Hán Việt là hai kháiniệm có nội dung hoàn toàn khác nhau nhưng không nên hiểu từ Hán Việt làtoàn bộ các từ Việt gốc Hán, không phải mọi từ mượn tiếng Hán đều là từ HánViệt Nhập vào tiếng Việt các từ Hán Việt một lần nữa chịu sự chi phối của quyluật ngữ âm tiếng Việt Các từ Hán Việt ở mặt ngữ âm lại hình thành nên cáccặp đồng nghĩa giữa từ Hán Việt với các biến thể ngữ âm của chúng
Ví dụ: Sinh/Sanh
Bảo/BiểuQuá trình thâm nhập vào Tiếng Việt do những nguyên nhân xã hội nhưcách đọc kiêng, tránh thói quen mà làm cho một số từ Hán Việt lại có thêm cáchđọc trệch khỏi cách đọc Hán Việt Điều đáng chú ý là những cách đọc khôngđúng với cách đọc Hán Việt đó lại trở nên thông dụng còn cách đọc Hán Việtcòn lại được dùng rất hạn chế thậm chí không còn được sử dụng
Trang 6Ví dụ: Sát/Thát
Trá/CháMuốn sử dụng từ Hán Việt không những phải hiểu rõ nghĩa của từ mà cònphải thấu hiểu giá trị phong cách của chúng Từ Hán Việt có các giá trị sau:
a Sắc thái trang trọng
Từ Hán Việt tạo sắc thái trang trọng, trang nghiêm
So sánh với các từ thuần Việt tương ứng:
Từ thuần Việt Từ Hán Việt
Do sắc thái trang trọng nên từ Hán Việt thường được sử dụng nhiều trong cácvăn bản hành chính, khoa học
a.Vị trí của phân môn Luyện từ và câu
Từ và câu có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ Vai tròcủa từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ quyết định tầm quan trọng của việc dạyhọc Luyện từ và câu ở Tiểu học Việc dạy Luyện từ và câu nhằm mở rộng, hệthống hoá làm làm phong phú vốn từ của học sinh, cung cấp cho học sinh nhữnghiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và sửdụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình, đồng thời giúp chohọc sinh có khả năng hiểu các câu nói của người khác Luyện từ và câu có vaitrò hướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết, phát triển ngôn ngữ và trítuệ các em
b.Nhiệm vụ của dạy học từ Hán Việt trong phân môn Luyện từ và câu
Mục tiêu của phân môn Luyện từ và câu là rèn luyện và phát triển kỹnăng giao tiếp cho học sinh Tiểu học thông qua việc phát triển vốn từ, rèn luyện
kĩ năng sử dụng từ chính xác, rèn luyện kĩ năng tạo lập câu và sử dụng câu phùhợp với tình huống giao tiếp Một trong những nhiệm vụ chính của Luyện từ vàcâu là giúp học sinh thực hành làm giàu vốn từ Các từ Hán Việt không những
có số lượng hết sức phong phú mà còn có vai trò ngữ nghĩa rất quan trọng tronggiao tiếp ngôn ngữ của người Việt từ xưa đến nay và cả sau này Vì thế trong
Trang 7nhà trường các cấp, nhiệm vụ của việc dạy học từ Hán Việt bao gồm nhữngnhiệm vụ cụ thể sau:
*Dạy nghĩa của từ
Làm cho học sinh nắm nghĩa của từ Hán Việt để thêm vào vốn từ của các
em những từ mới, giúp các em hiểu được giá trị của từ mới đó Dạy từ Hán Việtphải hình thành cho học sinh khả năng phát hiện ra những từ Hán Việt trong vănbản cần tiếp nhận, nắm một số thủ thuật giải nghĩa từ, làm rõ sắc thái của từtrong các ngữ cảnh
*Hệ thống hoá vốn từ
Dạy học sinh biết cách sắp xếp các từ một cách có hệ thống trong trí nhớ
để tích luỹ từ được nhanh chóng và tạo ra tính thường trực của từ, tạo điều kiệncho các từ đi vào hoạt động lời nói được thuận lợi Công việc này hình thành ởhọc sinh kĩ năng đối chiếu từ trong hệ thống hàng dọc của chúng, đặt từ trong hệthống liên tưởng cùng chủ đề, đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, cùng cấu tạo…,tức là kĩ năng liên tưởng đến để huy động vốn từ
*Tích cực hoá vốn từ Hán Việt
Dạy cho học sinh sử dụng từ Hán Việt, phát triển kĩ năng sử dụng từ HánViệt trong lời nói và bài viết của học sinh, đưa từ vào trong vốn từ tích cực đượchọc sinh dùng thường xuyên Tích cực hoá vốn từ tức là dạy học sinh biết dùng
từ Hán Việt trong hoạt động nói năng của mình
*Cung cấp một số kiến thức về từ Hán Việt
Phân môn Luyện từ và câu cung cấp cho học sinh một số kiến thức về từHán Việt phổ biến, cần thiết và vừa sức với các em Phân môn này trang bị chohọc sinh những hiểu biết về cấu trúc của từ Hán Việt, quy luật hình thành hànhchức của chúng Cụ thể đó là các kiến thức về cấu tạo từ, nghĩa của các từ, cáclớp từ, từ loại của từ Hán Việt
Ngoài ra, Luyện từ và câu còn có nhiệm vụ rèn luyện tư duy và giáo dụcthẩm mĩ cho học sinh về từ Hán Việt
II CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Trong Sách giáo khoa Tiếng Việt 4, từ Hán Việt xuất hiện nhiều trong cácvăn bản Tập đọc, chủ yếu các văn bản thuộc thể loại chính trị, khoa học và nghịluận Bên cạnh đó, phân môn Luyện từ và câu từ Hán Việt cũng xuất hiện vớimột lượng khá lớn, đặc biệt trong các tiết học Mở rộng vốn từ Ở cấp Tiểu học,dạy học từ Hán Việt không được dạy thành tiết học riêng mà nó được lồng ghépvới các tiết học Để có cơ sở thực tiễn về việc dạy học từ Hán Việt cho học sinhlớp 4 trong giờ học Luyện từ và câu, tôi đã thống kê từ Hán Việt trong các bàihọc Luyện từ và câu; làm một cuộc khảo sát về khả năng nhận biết và hiểu từHán Việt của học sinh Từ đó, tôi sẽ đề xuất một số phương pháp để dạy từ HánViệt sao cho hiệu quả
Qua khảo sát ta thấy, từ Hán Việt xuất hiện khá nhiều ở các bài Luyện từ
và câu, các từ Hán Việt ở nhiều lĩnh vực khác nhau, khá phong phú và đa dạng.Trong các bài Luyện từ và câu lớp 4 tập 1 có khoảng 170 từ Hán Việt, ở tập 2 cókhoảng 100 từ Hán Việt Như vậy, riêng phân môn Luyện từ và câu đã cung cấpcho các em một lượng từ Hán Việt khá lớn, khoảng 270 từ Lượng từ này chủyếu là từ Hán Việt khá phổ biến mà các em đã nhiều lần nghe thấy, nhìn thấychiếm vị trí quan trọng trong việc biểu đạt nội dung văn bản Tuy nhiên, các em
Trang 8vẫn chưa hiểu hết được nghĩa của các từ Hán Việt, giá trị phong cách, cũng nhưcách sử dụng từ Hán Việt như thế nào cho đúng, cho phù hợp Trong đề tài sángkiến kinh nghiệm này, tôi không đi sâu tìm hiểu giá trị nghệ thuật của từ HánViệt mà chỉ nghiêng về cách giải nghĩa của từ Hán Việt trong các bài tập Luyện
từ và câu
THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG NHẬN BIẾT VÀ GIẢI NGHĨA TỪ HÁN VIỆT CỦA HỌC SINH LỚP 4
Đầu năm, tôi đã tiến hành khảo sát khả năng nhận biết và giải nghĩa một
số từ Hán Việt của học sinh lớp tôi chủ nhiệm Kết quả như sau: Số học sinh 49
BẢNG THỐNG KÊ THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG NHẬN BIẾT VÀ GIẢI
NGHĨA TỪ HÁN VIỆT CỦA HỌC SINH LỚP 4
nhận ra
từ Hán Việt
Số HS nhầm lẫn
Số HS Không xác định được từ Hán Việt
Cho những từ sau: Thái hậu, cô dâu, trẻ
em, chiến sĩ, binh khí, nước nhà, quốc gia,
cơ đồ, người đẹp, phụ nữ, công nhân, dân
cày, học sinh, loài người Những từ nào là
từ Hán Việt, từ nào là từ thuần Việt?”
28(57,1%)
12(24,5%)
9(18,4%)
Đây là dạng bài nhận diện từ Hán Việt trong các từ thuần Việt và Hán Việt
Đề đưa ra có 8 từ Hán Việt là Thái hậu, chiến sĩ, binh khí, quốc gia, cơ đồ, phụ
nữ, công nhân, học sinh; có 6 từ thuần Việt là cô dâu, trẻ em, nước nhà, người đẹp, dân cày, loài người Sau thời gian điều tra cho thấy các em hầu hết chỉ
nhận ra nhiều nhất 5 từ Hán Việt, ít nhất là 2 từ Hán Việt Tỉ lệ học sinh nhận ra
từ Hán Việt còn thấp, tỉ lệ học sinh nhầm lẫn và không xác định được từ HánViệt khá cao, các em học sinh ở nhóm này khá lúng túng khi làm phiếu điều tra
Lý do là vì các em chưa được hình thành phương pháp học từ Hán Việt, chưađược tiếp xúc nhiều với từ Hán Việt Và một lý do nữa từ Hán Việt du nhập vàonước ta từ rất lâu, nó hoà lẫn vào từ thuần Việt và trở thành một bộ phận khăngkhít trong hệ thống từ vựng Tiếng Việt, do đó việc nhận ra từ Hán Việt còn khókhăn với các em là điều dễ hiểu Còn học sinh ở nhóm nhận ra từ Hán Việt chủyếu là những em học khá giỏi, có trí nhớ tốt, ham học hỏi nên các em có thểnhận ra được một số từ Hán Việt Tuy nhiên, ở nhóm học sinh nhẫm lẫn, các em
hay nhầm lẫn từ chiến sĩ, học sinh là từ thuần Việt và từ dân cày là từ Hán Việt Trong số đó, các từ Thái hậu, cơ đồ là được các em nhận ra là từ Hán Việt
chiếm tỉ lệ cao nhất
Việc nhận ra từ Hán Việt riêng rẽ đã khó đối với các em, nên việc nhận ra
từ Hán Việt trong văn bản còn khó hơn Từ Hán Việt du nhập vào nước ta đã từrất lâu, nó hoà lẫn vào từ thuần Việt và trở thành một bộ phận trong hệ thống từTiếng Việt Chúng trở thành ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày, được sử dụng phổbiến, gần gũi, quen thuộc với các em nên xác định nó là khó khăn, không tránhkhỏi nhầm lẫn
Trang 9Loại bài: Giải nghĩa từ Hán Việt
Tìm hiểu khả năng giải nghĩa từ Hán Việt của học sinh, tôi đưa ra cácphiếu điều tra gồm các loại bài tập: tìm từ đồng nghĩa, đặt câu với từ Hán Việt,tìm các từ chứa yếu tố Hán Việt
Trong phiếu khảo sát thứ nhất tôi yêu cầu học sinh giải nghĩa và tìm từ
đồng nghĩa với các từ : hiền minh, nhân tài, cống hiến, sáng kiến, khích lệ Ở loại bài tập này, hầu hết các em không tìm được từ đồng nghĩa với từ hiền minh, sáng
kiến Với từ hiền minh các em thường hiểu là hiền lành, thông minh nên khi tìm
từ đồng nghĩa các em đã tìm sai với từ này mà nghĩa chính xác của nó là đức độ,
sáng suốt Với từ sáng kiến, các em chưa hiểu rõ nghĩa của từ nên chỉ có một số ít
em tìm được từ đồng nghĩa với từ này Còn với các từ nhân tài, cống hiến, khích
lệ các em làm khá tốt khi tìm được từ đồng nghĩa lần lượt là tài năng, đóng góp, động viên.
Điều đặc biệt là dù có em không giải được những từ đã cho nhưng các emvẫn tìm được từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với các từ đó và có những em tìmhiểu đúng từ, nhưng khi tìm từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa lại sai hoặc không tìmđược
Ở loại bài tập thứ 2, tôi yêu cầu học sinh đặt câu với các từ Hán Việt công
chúa, hoạ sĩ, phần tử, thuyết phục Loại bài tập này các em làm khá tốt Tuy
nhiên, riêng từ phần tử các em còn chưa hiểu được nghĩa của nó nên việc đặt
câu với từ này các em gặp nhiều khó khăn nhất, ít em đặt câu đúng với từ này
Ở phiếu điều tra thứ 3, tôi yêu cầu các em tìm các từ ghép có các yếu tố
Hán Việt sau : nhân (nhân dân), hữu (hữu nghị), sĩ (chiến sĩ), vô (vô lý) Loại
bài tập này, các em làm khá tốt khi tìm được nhiều từ có yếu tố Hán Việt Tuynhiên khi yêu cầu các em giải thích nghĩa của yếu tố Hán Việt thì chỉ một số ítcác em giải thích được, còn lại các em không hiểu hoặc không biết nghĩa của cácyếu tố đó
Qua 3 loại bài tập khảo sát về giải nghĩa từ Hán Việt tôi thấy hầu như các
em không có hứng thú học, tìm hiểu về từ Hán Việt, các em cho rằng từ HánViệt là quá khó và khô khan Chính vì thế việc nhận biết từ Hán Việt và hiểunghĩa từ Hán Việt là rất khó khăn Việc xác định nghĩa của từ Hán Việt cònnhiều em xác định nhầm lẫn, xác định sai, chủ yếu dựa vào phán đoán, cảmnhận mơ hồ hoặc nhớ nghĩa của từ một cách máy móc mà chưa thật sự hiểuđúng, hiểu sâu, hiểu rõ nghĩa của từ
Như vậy rất nhiều em vốn từ Hán Việt còn nghèo, khả năng giải nghĩa từHán Việt của các em còn yếu mặc dù từ Hán Việt đưa ra khảo sát đều là những
từ học sinh đã được học, được biết qua sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học
Trang 10III CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH:
Như chúng ta đều biết, về bản chất, dạy học từ Hán Việt cũng không khác gìdạy học các đơn vị từ vựng khác Tuy nhiên, do đặc thù của lớp từ Hán Việttrong các tài liệu về phương pháp dạy học Tiếng Việt, vấn đề dạy học từ HánViệt vẫn được tách thành một môn riêng với những lưu ý thiết thực Còn trongSách Giáo Khoa Tiếng Việt 4, việc dạy học từ Hán Việt được tích hợp với cácphân môn, giáo viên lồng ghép kiến thức về từ Hán Việt để học sinh có vốn kiếnthức vững vàng về từ vựng Tiếng Việt Cụ thể trong phân môn Luyện từ và câu,dạy học từ Hán Việt được tích hợp khá rõ nét ở các bài tập dạy nghĩa từ, phânloại từ, làm giàu vốn từ Để có được phương pháp dạy, giáo viên cần nắm rõmột số cách nhận diện từ Hán Việt và giải nghĩa từ Hán Việt
1 Biện pháp nhận diện từ Hán Việt cho học sinh Tiểu học
Do từ Hán Việt xâm nhập vào Tiếng Việt từ rất lâu nên để nhận diện ra từHán Việt là rất khó Tuy nhiên, giáo viên vẫn có thể giúp học sinh nhận ra từHán Việt bằng một số mẹo khá đơn giản Tuy không phải là chính xác trong mọitrường hợp nhưng những cách này có thể giúp các em nhận ra phần lớn từ HánViệt
- Căn cứ vào mặt ngữ âm: Các từ Hán Việt thường nghe “lạ” nên khi đọchoặc nhìn thấy một từ nào đó mà các em chưa từng được nghe hoặc ít nghe thì
từ đó khả năng lớn là từ Hán Việt
- Căn cứ vào mặt ngữ pháp: Các từ ngữ Hán Việt chưa bị Việt hoá hoàntoàn thường có cấu trúc ngược cú pháp Việt Cụ thể, yếu tố phụ đứng trước, yếu
tố chính đứng sau Ví dụ: lục quân, hải phận, giáo viên,…
Đối với các từ ghép đẳng lập Hán Việt thường thường ta không thể thay
đổi trật tự giữa các thành tố, trừ một vài trường hợp ngoại lệ như: đơn giản thành giản đơn, tranh đấu thành đấu tranh.
- Căn cứ về mặt ngữ nghĩa: Các từ ngữ Hán Việt thường có ý nghĩa kháiquát, trừu tượng; có tính mơ hồ về nghĩa
- Căn cứ về mặt phong cách: Các từ ngữ Hán Việt thường có sắc tháitrang trọng, cổ kính, tĩnh tại; nó thường được dùng trong phong cách sách vở Vìthế, từ Hán Việt thường xuất hiện nhiều trong các văn bản khoa học, nghị luận,chính trị
Dựa vào những cách nhận diện trên, giáo viên cần phải cho các em thựchành và luyện tập nhiều trên các loại bài tập để thành kĩ năng nhận diện từ HánViệt Khi đã có kĩ năng, việc nhận biết ra từ Hán Việt đối với các em sẽ trở nên
dễ dàng và đơn giản hơn
2 Biện pháp giải nghĩa từ Hán Việt
2.1 Giải nghĩa từ Hán Việt bằng trực quan
Giải nghĩa từ Hán Việt bằng trực quan tức là biện pháp đưa ra vật thật,tranh ảnh, sơ đồ, mô hình cử chỉ, động tác, cách mô tả để giải nghĩa
Khi giải nghĩa từ Hán Việt bằng trực quan thì giáo viên vẫn phải kết hợpvới lời giảng giải, giải thích để giúp học sinh hiểu nghĩa của từ rõ hơn Với một
số từ Hán Việt nếu giáo viên giải nghĩa bằng cách này sẽ có tác dụng, hiệu quảrất lớn đối với việc hiểu nghĩa từ của học sinh
Trang 11Ví dụ: Từ chiến hạm, giáo viên có thể sưu tầm tranh ảnh về những con
tàu, chiếc thuyền dùng để chiến đấu, kết hợp với lời nói để giảng giải cho học
sinh hiểu nghĩa của từ chiến hạm.
2.2 Giải nghĩa từ Hán Việt bằng cách dựa vào ngữ cảnh
Đây là cách giải nghĩa từ Hán Việt cũng được áp dụng khá nhiều và đemlại hiệu quả cao Trong Sách giáo khoa Tiếng Việt 4, có rất nhiều từ Hán Việt
mà nếu giáo viên giải nghĩa theo cách chiết tự thì sẽ không tìm được nghĩa của
từ Do đó, giáo viên có thể đưa từ cần giải nghĩa vào trong ngữ cảnh thì học sinh
sẽ hiểu nghĩa của từ một cách dễ dàng và rõ nét hơn Với cách giải nghĩa từ HánViệt dựa vào ngữ cảnh còn giúp học sinh phân biệt được hiện tương đồng âm
Ví dụ: Từ hi sinh, giáo viên cần đặt từ trong ngữ cảnh là cuộc chiến đấu
bảo vệ Tổ quốc, các anh đã anh dũng hi sinh để bảo vệ Tổ quốc để học sinh có
thể hiểu nghĩa từ hi sinh không chỉ nó mang nghĩa là đã chết mà nó còn mang một sắc thái trang trọng, tôn nghiêm.
2.3 Giải nghĩa từ Hán Việt theo cách giải nghĩa từng tiếng trong từ
Chúng ta đều biết từ Hán Việt phần lớn là từ ghép Do đó khi giải nghĩa
từ Hán Việt người ta có thể dùng phương pháp này Đây là cách thường áp dụngnhiều nhất trong việc giải nghĩa một từ Hán Việt Tức là ta tách một từ Hán Việtthành các yếu tố sau đó giải quyết nghĩa của từng yếu tố Hán Việt rồi ghépnghĩa của từng yếu tố ta được nghĩa của từ Hán Việt
Chẳng hạn, giang sơn: giang là sông, sơn là núi; giang sơn là sông núi…
Việc giải nghĩa bằng cách này giúp học sinh nắm vững được nghĩa gốccủa từ, có cơ sở hiểu từ chắc chắn, qua đó thấy được quá tình phát triển của từ
Phương pháp giải nghĩa từ Hán Việt bằng cách giải nghĩa từng tiếng trong
từ còn làm cho học sinh phân biệt được các từ ghép có dạng láy với các từ láymột cách dễ dàng hơn Mặt khác, nó còn tác động đắc lực trong việc phân biệthiện tượng đồng âm
Ví dụ bài Mở rộng vốn từ: Tài năng ( SGK Tiếng Việt 4- Tập 2)
Phân loại các từ sau theo nghĩa của tiếng tài
a, Tài có nghĩa là “ có khả năng hơn người bình thường”
b, Tài có nghĩa là “tiền của”
2.4 Giải nghĩa từ Hán Việt bằng cách tìm từ đồng nghĩa thay thế, tìm từ trái nghĩa để phủ định
Khi giải nghĩa một số từ Hán Việt, người ta rất hay dùng cách này Vớiviệc giải nghĩa từ Hán Việt bằng cách tìm từ đồng nghĩa còn có tác dụng giúphọc sinh huy động vốn từ nhanh, thấy được mối liên hệ về nghĩa giữa các từ vớinhau, biết nghĩa từ này thì sẽ hiểu được nghĩa của từ kia
Ví dụ: Mở rộng vốn từ Nhân hậu- Đoàn kết ( SGK Tiếng Việt 4- tập 1)Tìm các từ ngữ:
a, Thể hiện lòng nhân hậu, tình cảm yêu thương đồng loại