1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐƯỜNG lối PHÁT TRIỂN KINH tế và THÀNH tựu của ĐẢNG TA từ năm 1986 đến NAY

51 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đường lối phát triển kinh tế và thành tựu của Đảng ta từ năm 1986 đến nay
Tác giả Võ Thị Quỳnh Như, Nguyễn Văn Toàn, Lê Hoài Lâm, Huỳnh Thị Diễm Quỳnh, Nguyễn Thành Đạt, Lê Minh Quốc, Lê Trung Dũng, Võ Thị Ái My
Người hướng dẫn PTS. Trịnh Thị Mai Linh
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Kĩ Thuật TPHCM
Chuyên ngành Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Thể loại Tiểu Luận Cuối Kỳ
Năm xuất bản 2020 – 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 369,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nguồn viện trợ kinh tế từ các nước xã hội chủ nghĩa và do sự yếu kém của cơ chế quản lý kinh tế, kế hoạch hóa tập trung.Trước bối cảnh đó, Nhà nước Việt Nam chính thức khởi xướng công cu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KĨ THUẬT TPHCM

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ THÀNH TỰU CỦA ĐẢNG TA TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ

(Môn học: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM)

Trang 2

DANH SÁCH SINH VIÊN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Họ và tên

1 Võ Thị Quỳnh Như

2 Nguyễn Văn Toàn

3 Lê Hoài Lâm

4 Huỳnh Thị Diễm Quỳnh

5 Nguyễn Thành Đạt

6 Lê Minh Quốc

7 Lê Trung Dũng

8 Võ Thị Ái My

Tên đề tLi: Đường lối phát triển kinh tế và thành tựu của Đảng ta từ năm 1986 đến nay Thời gian thực hiện: 1 tháng

NHÂRN XÉT CỦA GIẢNG

VIÊN

Tp Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 05 năm 2021

GiUng viên hưXng dZn

Trịnh Thị Mai Linh

Trang 3

BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ

Võ Thị Quỳnh Như

Nguyễn Văn Toàn

Lê Hoài Lâm

Huỳnh Thị Diễm Quỳnh

Lời đầu tiên, nhóm 8 chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất đến

giảng viên bộ môn của chúng em – cô Trịnh Thị Mai Linh Trong quá trình học tập và tìm

Trang 5

hướng dẫn rất tận tình và tâm huyết của cô; cùng với đó là cách giảng dạy mới lạ, luôn tạo

sự hào hứng và thích thú cho sinh viên trong suốt quá trình học mà cô mang lại Thông quabài tiểu luận này, nhóm em xin trình bày lại những gì mà nhóm đã tìm hiểu về vấn đề nàytrong lịch sử nhà nước ta gửi đến cô

Bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là môn học thú vị, vô cùng bổ ích và đặcbiệt là giúp sinh viên bổ sung thêm những kiến thức tưởng chừng như đã cũ, nhưng thực ralại vô cùng quan trọng và ý nghĩa với mỗi sinh viên Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn nhiềuhạn chế và khả năng tiếp thu thực tế còn nhiều bỡ ngỡ Mặc dù em đã cố gắng hết sứcnhưng chắc chắn bài tiểu luận khó có thể tránh khỏi những thiếu sót và nhiều chỗ còn chưachính xác, kính mong cô xem xét và góp ý để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn

Cuối cùng, một lần nữa xin gửi lời cảm ơn đến cô và bộ môn Xin chúc cô Mai Linhluôn mạnh khỏe và tràn đầy năng lượng, để có thể mang đến cho sinh viên những kiến thứcthiết thực và quý báu!

MỤC LỤ

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Lý Do Chọn Đề TLi 4

Trang 6

2 Lịch Sử Nghiên Cứu Vấn Đề 4

3 Phương Pháp Nghiên Cứu Vấn Đề 9

4 Bố Cục Tiểu Luận 11

5 Đóng Góp Của Đề TLi 11

PHẦN NỘI DUNG 13

CHƯƠNG 1: ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ THÀNH TỰU CỦA ĐẢNG TA TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY ………13

CHƯƠNG 2: ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ V CỦA ĐẢNG VÀ CÁC BƯỚC ĐỘT PHÁ TIẾP TỤC ĐỔI MỚI KINH TẾ (1982 – 1986) 24

2.1 Đường lối phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 1986 – 1996 2.2 Đường lối phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 1996 - 2001 2.3 Đường lối phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 2001 – nay CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG VẤN ĐỀ VÀO THỰC TIỄN 32

3.1 Khống chế vL đẩy lùi lạm phát 3.2 Kinh tế tăng trưởng liên tục, cơ cấu có sự chuyển dịch tích cực 3.3 Cân đối của nền kinh tế 3.4 Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hưXng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn sUn xuất vXi thị trường 3.5 Thực hiện có kết quU chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thLnh phần, phát huy ngLy cLng tốt hơn tiềm năng của các thLnh phần kinh tế CHƯƠNG 4: VẬN DỤNG VẤN ĐỀ VÀO THỰC TIỄN - TÌNH HÌNH KINH TẾ NƯỚC TA HIỆN NAY……… ………

Trang 8

nguồn viện trợ kinh tế từ các nước xã hội chủ nghĩa và do sự yếu kém của cơ chế quản lý kinh tế, kế hoạch hóa tập trung.

Trước bối cảnh đó, Nhà nước Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mớinền kinh tế từ năm 1986 Việt nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổi mới về tưduy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đadạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện mở cửa, hội nhập quốc

tế Con đường đổi mới đó đã giúp Việt nam giảm nhanh được tình trạng nghèo đói,bướcđầu xây dựng nền kinh tế công nghiệp hóa đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đi đôivới nợ công bằng tương đối trong xã hội

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đường lối kinh tế của ĐUng khi đất nưXc hoLn toLn giUi phóng đến nay

Nếu đánh giá một cách tổng thể về đường lối kinh tế của Đảng ta kể từ khi đất nướchoàn toàn giải phóng đến nay có thể thấy có sự khác nhau giữa 2 giai đoạn trước và sau đạihội VI năm 1986 Ở thập kỉ đầu tiên cả nước thống nhất đi lên CNXH, đường lối kinh tếcủa Đảng ta có nhiều điểm không hợp lý, không phù hợp với điều kiện, tình hình của nước

ta Bước vào thời kì đổi mới (từ năm 1986), Đảng ta đã đưa ra được một đường lối kinh tếđúng đắn, đường lối kinh tế đó vừa gắn liền với những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, vừa có sự phát triển sáng tạo, phù hợp với điều kiện , hoàn cảnh nước ta Nhờ cóđường lối kinh tế đúng đắn đó đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng: đấtnước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội, tăng trưởng kinh tế luôn ở mứccao (năm 2004 là 7,7 %), tình hình chính trị ổn định, quốc phòng an ninh vững chắc, đờisống nhân dân không ngừng được cải thiện (tính đến 31/12/2002 là khoảng 500 USD/người, vị thế đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế…Những thành tựu đóchính là cơ sở để khẳng định đường lối kinh tế đúng đắn của đảng ta trong giai đoạn hiệnnay

Đường lối đổi mXi của ĐUng CSVN từ 1986 đến nay

Trang 9

Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hộitrên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đổi mới toàn diện, đồng bộ,

có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp; đổi mới phải vì lợi ích của nhândân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thựctiễn, nhạy bén với cái mới; phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức khai thác ngoại lực,kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới; đổi mới và hoànthiện phương thức lãnh đạo, bảo đảm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu củaĐảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dânchủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân

Quan điểm của ĐUng về đổi mXi kinh tế ở Việt Nam từ 1986 đến nay

Trên lĩnh vực kinh tế, Đảng ta đề ra chủ trương đổi mới cơ cấu kinh tế, thừa nhận sựtồn tại của nhiều thành phần kinh tế Thực hiện ba chương trình kinh tế lớn: lương thực-thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Từ quan điểm, chủ trương đổi mới, kinh tếViệt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, Việt Nam từ một trong những nướcnghèo, kém phát triển, với thu nhập bình quân đầu người khoảng 100 USD trở thành mộtnước thoát nghèo với thu nhập bình quân đầu người đạt 2.228 USD năm 2015 Trong suốt

30 năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng cao

Quan điểm và chính sách đổi mới về kinh tế do Đại hội VI của Đảng đem lại nhữngthành tựu quan trọng: nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã được hình thành, tạo cơ sở

và nền tảng để Đại hội VII khẳng định tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thànhphần và đổi mới quản lý kinh tế Từ đó, đất nước ta tiếp tục đạt được nhiều thành tựu trênlĩnh vực kinh tế-xã hội, đồng thời là cơ sở để Đảng ta tiếp tục hoạch định đường lối kinh tếqua các kỳ đại hội sau

Với quyết sách chiến lược, độc đáo, sáng tạo về đổi mới cơ cấu kinh tế tại đại hội

VI tiếp tục được kế thừa, phát triển tại Đại hội XII của Đảng Cùng với đổi mới kinh tế,Đảng ta luôn đổi mới phương thức lãnh đạo nhằm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảngtrong quá trình thực hiện quyết sách về kinh tế Trong giai đọan hiện nay với tình hình thế

Trang 10

giới và trong nước có những thuận lợi và khó khăn mới, Đảng ta huy tính chủ động, sángtạo đề ra, thực hiện những quyết sách chiến lược vượt qua nguy cơ, thách thức, chớp thời

cơ nhằm đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh

Khẳng định đường lối đổi mXi đúng đắn của ĐUng

Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ năm

1986 đến nay đã trải qua gần 30 năm Đó là một công trình vĩ đại của Đảng và nhân dân tatrong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Ngay từthời điểm đó cũng như trong suốt quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn xácđịnh đúng đắn đường lối, chủ trương đổi mới, hình thức, bước đi và cách tiến hành phùhợp

Do vậy, công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta từng bước thu đượcnhững thành tựu ngày càng to lớn Qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã vượt qua khủnghoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thunhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế Kinh

tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hìnhthành, phát triển Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường Vănhoá - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thayđổi Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng Đại đoàn kết toàn dântộc được củng cố và tăng cường Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền

và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên;độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữvững Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của ViệtNam trên trường quốc tế được nâng cao

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ 1986 đến nay

Ngay từ Đại hội VI, Đảng ta khẳng định đối với nước ta, đổi mới là yêu cầu bức

Trang 11

sinh khí mới trong xã hội, làm xoay chuyển tình hình, đưa đất nước tiến lên Trong quátrình đổi mới Đảng ta nhận thức ngày càng cụ thể, sát thực tế hơn tính tất yếu, mục tiêu,bản chất, đặc trưng, cấu trúc, thể chế và cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường, địnhhướng XHCN Trong Cương lĩnh năm 1991 và Văn kiện Đại hội VII, Đảng ta xác địnhphát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sựquản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Những năm tiếp theo, Đảng ta đã nhận thức

rõ kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường là phương thức, điều kiện tất yếu để xây dựng chủnghĩa xã hội; từ chỗ áp dụng cơ chế thị trường tiến đến phát triển kinh tế thị trường, đưa raquan niệm và từng bước cụ thể hóa mô hình và thể chế kinh tế thị trường định hướngXHCN Từ Đại hội IX, Đảng ta khẳng định, phát triển nền kinh tế thị trường định hướngXHCN là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ với nhiều hình thức sở hữu, nhiềuthành phần kinh tế, nhiều hình thức tổ chức kinh doanh và phân phối Tiếp đó, Đại hội Xcủa Đảng đã tiếp tục cụ thể hóa về định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở ViệtNam Với Nghị quyết Trung ương 6 (khóa X), các vấn đề về mô hình, bản chất, đặc trưngcủa nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã được làm sáng tỏ Và tới Đại hội XI, thểchế kinh tế thị trường định hướng XHCN tiếp tục được hoàn thiện với quan niệm: Nềnkinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phầnvận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng

Đặc biệt Đảng ta nhận thức rõ hơn nội dung và các yếu tố bảo đảm định hướngXHCN trong nền kinh tế thị trường với mục tiêu xuyên suốt là "dân giàu, nước mạnh, dânchủ, công bằng, văn minh"; giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, từng bước hoàn thiện quan

hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; bảo đảm tăngtrưởng kinh tế gắn với thực hiện công bằng xã hội… Nền kinh tế thị trường định hướngXHCN ở nước ta có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chứckinh doanh Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể không ngừngđược củng cố và phát triển, kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế,kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển Các thành phần kinh tế

Trang 12

hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh

3. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu gắn vXi lý luận thực tiễn

Nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn là bộ phận cấu thành quan trọng nhất củacông tác lý luận nói chung Để làm tốt công tác này, trước hết, cần nhận thức rõ mối quan

hệ biện chứng giữa lý luận và nghiên cứu lý luận với thực tiễn và tổng kết thực tiễn Chỉtrong môi trường dân chủ thì nghiên cứu lý luận mới có thể tìm tòi, khám phá, phát hiện ranhững vấn đề đòi hỏi phải tổng kết thực tiễn để kiểm chứng, chứng minh, khẳng định haybác bỏ.Cũng chỉ trong môi trường dân chủ thực sự thì tổng kết thực tiễn mới nhìn thẳngvào sự thật, mới dám rút ra những kết luận trái với mong muốn của các chủ thể nhưngkhách quan, trên cơ sở đó, giải đáp và trả lời được về mặt lý luận Nhiều năm qua, giữaBan Tuyên giáo Trung ương và Hội đồng Lý luận Trung ương đã có những cố gắng phốihợp trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Hai bên đã tổ chức nhiều đề tài nghiêncứu khoa học, nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm Tuy nhiên, chất lượng các sản phẩm đạt đượcchưa cao Có những công trình được nghiệm thu với mức đánh giá cao nhưng ít đi vàocuộc sống

Phương pháp logic

Phương pháp lô-gic là phương pháp sử dụng các luận điểm khoa học nhằm xem xét,nghiên cứu, khái quát, lý giải các sự kiện lịch sử Từ đó, đánh giá, rút ra kết luận, chỉ ra bảnchất, khuynh hướng tất yếu, quy luật vận động của lịch sử

Để đảm bảo vận dụng phương pháp lô-gic trong công tác nghiên cứu, biên soạnlịch sử Đảng bộ, đòi hỏi người viết phải đánh giá những thành tựu cũng như hạn chế,khuyết điểm của Đảng bộ địa phương lãnh đạo phong trào cách mạng; nêu đúng mức

Trang 13

đóng góp của Đảng bộ và Nhân dân địa phương đối với phong trào cách mạng của Đảng bộcấp trên và cả nước.

Phương pháp lịch sử

Phương pháp lịch sử là phương pháp xem xét và trình bày quá trình phát triển củacác sự kiện lịch sử, phong trào cách mạng theo một trình tự liên tục, trong mối liên hệ tácđộng lẫn nhau của chúng Yêu cầu đối với phương pháp lịch sử là đảm bảo tính liên tục vềthời gian của các sự kiện, phong trào; làm rõ điều kiện, đặc điểm phát sinh, phát triển vàbiểu hiện của chúng; làm sáng tỏ các mối liên hệ đa dạng của chúng với các sự kiện, phongtrào khác Qua đó, chúng ta sẽ thấy trong quá trình hình thành, phát triển và lãnh đạo củacác Đảng bộ có sự liên hệ và tác động lẫn nhau trong suốt quá trình cách mạng để cùngthực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng Vận dụng đúng phương pháp lịch sử giúp chúng takhôi phục sự thật lịch sử một cách chân thực, khách quan Phương pháp lịch sử có vai tròquan trọng Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng riêng lẻ phương pháp lịch sử thì công trình nghiêncứu, biên soạn sẽ rơi vào tình trạng chất đống sự kiện, không khái quát, đúc kết, chỉ rađược những thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm; cần phải kết hợp phương pháp lô-gic nhằm bổ sung, hỗ trợ cho nhau Việc vận dụng đúng hai phương pháp này góp phầnlàm nên chất lượng của công trình

Phương pháp quy nạp

Quy nạp là quá trình rút ra nguyên lý chung từ sự quan sát một loạt những sự vậtriêng lẻ Điều kiện khách quan của quy nạp là tính lặp lại của một loại hiện tượng nàođó.Phương pháp quy nạp giúp cho việc khái quát kinh nghiệm thực tiễn về những cái riêng

để có được tri thức kết luận chung Quy nạp đóng vai trò lớn lao trong việc khám phá raquy luật, đề ra các giả thuyết Tuy nhiên, quy nạp cũng có những hạn chế của nó, nhất làđối với loại quy nạp phổ thông theo lối liệt kê giản đơn Thuộc tính chung được rút ra bằngquy nạp từ một số hiện tượng lại có thể không có ở tất cả các hiện tượng cùng loại

Trang 14

nếu nó không liên quan đến bản chất của hiện tượng và do các điều kiện bên ngoài quyđịnh Quy nạp chưa thể xác định được thuộc tính đó là tất nhiên hay ngẫu nhiên Để khắcphục hạn chế của quy nạp, cần phải có diễn dịch và bổ sung bằng diễn dịch.

Phương pháp nghiên cứu phân tích

Phân tích là phương pháp nghiên cứu, là sự phân chia cái chung, các bộ phân khácnhau nhằm nghiên cứu sâu sắc các sự kiện, mốc thời gian, quá trình; nhận biết các mốiquan hệ bên trong và sự phụ thuộc trong sự phát triển của các sự kiện, quá trình đó theochiều dài lịch sử Phân tích có nghĩa là chẻ vấn đề ra thành từng mảnh nhỏ, để hiểu đượcvấn đề từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài của những vấn đề đã xảy ra trong các thời kìtrước trong quá khứ .Lịch sử là môn học khá trừu tượng trong đó sử dụng câu chuyện đểkiểm tra và phân tích chuỗi các sự kiện trong quá khứ, và khách quan xác định các mô hìnhnhân quả đã ảnh hưởng đến các sự kiện trên Các nhà sử học đôi khi tranh luận về bản chấtcủa lịch sử và tính hữu dụng của nó bằng cách thảo luận nghiên cứu về chính lịch sử nhưmột cách để cung cấp “tầm nhìn” về những vấn đề hiện tại.Các kỹ năng suy nghĩ và lý luậnthì có lẽ kỹ năng phân tích được xem là quan trọng hơn cả Phương pháp phân tích giúpnhận thức vấn đề đúng đắn,sáng suốt về hiện thực lịch sử đấu tranh và lãnh đạo của Đảng

và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam

Phương pháp tổng hợp

Tổng hợp là quá trình ngược với quá trình phân tích, nhưng lại hỗ trợ cho quá trìnhphân tích để tìm ra cái chung cái khái quát.Từ những kết quả nghiên cứu từng mặt, phảitổng hợp lại để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn cái chung, tìm ra được bản chất, quy luậtvận động của đối tượng nghiên cứu Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp gắn bó chặtchẽ quy định và bổ sung cho nhau trong nghiên cứu, và có cơ sở khách quan trong cấu tạo,trong tính quy luật của bản thân sự vật Trong phân tích, việc xây dựng một cách đúng đắntiêu thức phân loại làm cơ sở khoa học hình thành đối tượng nghiên cứu bộ

Trang 15

phận ấy, có ý nghĩa rất quan trọng Trong nghiên cứu tổng hợp vai trò quan trọng thuộc vềkhả năng liên kết các kết quả cụ thể( có lúc ngược nhau) từ sự phân tích, khả năng trìutượng, khái quát nắm bắt được mặt định tính từ rất nhiều khía cạnh định lượng khác nhau.

Phương pháp so sánh đối chiếu

Phương pháp nghiên cứu nhờ so sánh mà vạch ra cái chung và cái đặc thù trong cáchiện tượng lịch sử, trình độ phát triển và xu hướng phát triển của các hiện tượng ấy Cáchình thức của phương pháp so sánh – lịch sử gồm: phương pháp đối chiếu, so sánh loạihình lịch sử, so sánh nguồn gốc phát sinh, so sánh trong đó ghi lại ảnh hưởng lẫn nhau củacác hiện tượng khác nhau Phương pháp so sánh – lịch sử được công nhận rộng rãi từ thế kỉ

19 và được áp dụng trong các khoa học khác nhau như sử học, ngôn ngữ học, dân tộc học,luật học, Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã sử dụng phương pháp này để nghiêncứu các hình thái kinh tế - xã hội, các kiểu kiến trúc kinh tế và chính trị khác nhau của cùngmột hình thái, các phong trào xã hội và các hệ tư tưởng

Phương pháp diễn dịch

Là quá trình vận dụng nguyên lý chung để xem xét cái riêng, rút qua kết luận riêng

từ nguyên lý chung đã biết Tuy nhiên, muốn rút ra kết luận đúng bằng con đường diễndịch thì tiền đề phải đúng và phải tuân theo các quy tắc lô-gic, phải có quan điểm lịch sử cụthể khi vận dụng cái chung vào cái riêng, diễn dịch là phương thứ xây dựng lý thuyết nhưtoán học… Phương pháp diễn dịch có ý nghĩa quan trọng đối với các khoa học lý thuyếtnhư toán học… Phương pháp diễn dịch bao gồm ba bộ phận: tiền đề, quy tắc xây dựng lô-gic và kết luận Tiền đề là những phán đoán để biết, chúng là căn cứ và lý do để suy luận

1. Bố cục tiểu luận

Lời cảm ơn Phần mở đầu:

-Lý do chọn đề tài

Trang 16

- Lịch sử nghiên cứu của vấn đề

- Phương pháp nghiên cứu vấn đề

- Bố cục tiểu luận

- Đóng góp của đề tài

Phần nội dung:

- Chương 1: Sự cấp thiết trong vấn đề phát triển nền kinh tế Việt Nam 1986

- Chương 2: Quá trình phát triển nền kinh tế Việt nam theo đường lối của ĐảngCSVN

- Chương 3: Những thành tựu của Đảng trong việc phát triển nền kinh tế Việt Nam từnăm 1986 đến nay

- Chương 4: Vận dụng vấn đề vào thực tiễn – tình hình kinh tế nước ta hiện nay

Phần kết luậnHình ảnh tư liệu Tài liệu tham khảo

2. Đóng góp của đề tLi

Đối vXi người học:

Giúp người học nắm được Đường lối, Cương lĩnh, những kiến thức có hệ thống vềquá trình phát triển đường lối đổi mới và phát triển kinh tế dưới sự lãnh đạo của Đảng

Thông qua những kiến thức đã trang bị giúp học viên có kỹ năng phân tích, tổnghợp và tư duy lý luận gắn liền với thực tiễn, phát huy tính năng động, sáng tạo Từ đó, kháiquát được tình hình kinh tế của nước ta trong bối cảnh hiện nay

Củng cố niềm tin của sinh viên về những thắng lợi của Đảng trong lãnh đạo đưanền kinh tế vực dậy và phát triển (1986 – nay), củng cố niềm tin và lòng tự hào vào sự lãnhđạo của Đảng đối với sự bối cảnh kinh tế hiện nay

Đối vXi cơ sở đLo tạo:

Trang 17

Thấy được những ưu điểm – đưa ra định hướng kịp thời và hiệu quả Bên cạnh đó lànhững mặt hạn chế trong công cuộc xây dựng đường lối đổi mới, từ đó xây dựng các chínhsách cải thiện tốt hơn, góp phần vào sư phát triển của kinh tế Việt Nam trong thời điểm khókhăn hiện nay.

Đối vXi môn đường lối ĐUng cộng sUn Việt Nam:

Tạo sự hứng khởi khi tìm hiểu bộ môn

Xây dựng giáo án vững chắc của bộ môn

PHẦN NỘI DUNGCHƯƠNG 1: SỰ CẤP THIẾT TRONG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH

TẾ VIỆT NAM NĂM 1986

Thực trạng nền kinh tế Việt Nam trước năm 1986:

Trong nửa cuối thế kỷ 20, Việt Nam là một quốc gia nghèo, đông dân, bị tàn phá bởinhững cuộc chiến tranh chống ngoại xâm kéo dài nhiều năm Nền kinh tế vào đầu

Trang 18

những năm 1980 rơi vào tình trạng suy thoái trầm trọng do hậu quả chiến tranh, do mấtnguồn viện trợ kinh tế từ các nước xã hội chủ nghĩa và do sự yếu kém của cơ chế quản lýkinh tế kế hoạch hoá tập trung.

Nền kinh tế Việt Nam vận hành theo kiểu kế hoạch hóa tập trung và cùng với cơ chếquan liêu bao cấp đã bắt đầu bộc lộ bất cập, tác động tiêu cực đến sản xuất công nghiệp,nông nghiệp và đời sống xã hội

Sản xuất nông nghiệp trì trệ, nạn thiếu lương thực xảy ra triền miên, sản xuất côngnghiệp theo thống kê vẫn tăng về giá trị nhưng thật ra đại đa số nhà máy, xí nghiệp quốcdoanh ở tình trạng lãi giả, lỗ thật, vì được nhà nước bao cấp tràn lan lưu thông phân phốiách tắc Lạm phát đạt tới tốc độ “phi mã” với chỉ số tăng giá bán lẻ năm 1986 là 774,7% .Đồng tiền mất giá theo từng năm, vì thế mọi giao dịch như bán nhà, xe máy hay các vậtdụng có giá trị đều tính bằng cây, bằng chỉ (vàng) Tại Hà Nội, tiêu chuẩn lương thực cungcấp cho cán bộ và nhân dân vẫn như vậy song ngành lương thực chạy bở hơi tai vẫn không

lo đủ nên các cửa hàng chỉ bán một số lượng nhất định cho một lần mua Có gia đình tiêuchuẩn chỉ 60 cân gạo nhưng phải mua tới 6 lần và dĩ nhiên một lần mua gạo là một lần vất

vả Lương của cán bộ và công nhân viên chức chỉ đủ sống từ 1 tuần đến 10 ngày Ví dụ: Ăngạo “mậu dịch” (gạo từ kho các cửa hàng lương thực của Nhà nước) hôi đủ các thứ mùi:gián, mốc và có khi là xăng dầu , có khi lẫn những hạt sạn to như hạt ngô Mỗi thángđược nhận thịt theo chỉ tiêu nhất định Mỗi tổ phải tự bắt thăm Ai trúng thì lĩnh trước,không trúng thì chờ đợt sau Tất cả các mặt hàng đều cần phải mua qua tem phiếu: phụtùng xe đạp, phụ tùng xe máy, vải, xăng… Những điều nói trên cộng với những hậu quảnặng nề chưa giải quyết xong của hơn 30 năm chiến tranh ác liệt, đã khiến cho đời sốngcủa tầng lớp nhân dân sa sút nghiêm trọng ở thành thị lương tháng của công nhân, viênchức không đủ chi tiêu cho các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống ở nông thôn lúc giáp hạt

có tới hàng triệu gia đình thiếu ăn; tiêu cực xã hội lan rộng, lòng dân không yên

Trang 19

Đảng quyết định đưa ra đường lối mới để phát triển nền kinh tế Việt Nam:

Liên tưởng một cách nôm na thì nền kinh tế cũng giống như con người Khi cáchthức sinh hoạt và làm việc không hợp lý hoặc không còn phù hợp với hoàn cảnh mới thì cơthể sẽ trở nên ốm yếu mệt mỏi, các bộ phận làm việc cũng không còn hiệu quả Chuỗinguyên nhân này dẫn đến việc chúng ta không giữ được thành tích làm việc như trước, vàcuối cùng là thu nhập của chúng ta giảm sút Chất lượng cuộc sống theo đó mà đi xuống

Khi rơi vào hoàn cảnh như vậy, điều cần thiết đối với con người là thay đổi cáchthức sinh hoạt và làm việc nói trên Còn đối với một nền kinh tế mệt mỏi thì điều cần thiếtchính là những cuộc tái cơ cấu

Nhận thức được những vấn đề cấp bách trên, Đảng ta đã đề ra đường lối xây dựngmột nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo hướng xã hội chủ nghĩa hoạt động theo cơchế thị trường có sự quản lý của nhà nước thay cho cơ chế kinh tế tập trung quan liêu baocấp – cơ chế được xây dựng trong tình trạng cơ sở vật chất và trình độ phát triển lạc hậu.Nhà nước Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế từ năm 1986.Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổi mới về tư duy kinh tế, chuyển đổi

từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, sang kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đa dạng hóa và đaphương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện mở cửa, hội nhập quốc tế

CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM THEO

ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

2.1 Đường lối phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 1986 – 1996

Sự thất bại trong công cuô ‘c cải tổ ở Liên Xô và các nước ĐôngÂu và thành côngcủa công cuô ‘c cải cách ở Trung Quốc đã có tác đô ‘ng mạnh mẽ đến nước ta Tìnhhình đóchứng minh rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hô ‘i ở Liên Xô và các nước Đông Âu khôngphải là sự khủng hoảng mang tính bản chất của chủ nghĩa xã hô ‘i nói chung màchỉ là sự

Trang 20

thất bại của mô ‘t mô hình xã hô ‘i chủ nghĩa cụ thể không phù hợp; nhiệm vụủac Đảng Cô

‘ng sản tại các nước là phải đẩy nhanh tiến trình đổi mới, cải cách, ìmt ra mô hình kinh tế -

xã hô ‘i phù hợp với thực tiễn mỗi nước Hơn nữa, những kinh nghiệm thànhcông của các nước công nghiệp mới (NIC) ở Đông Á cũng đã cung cấp cho Việt Nam những bài học sâu sắc về con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhất là những bài học về hô ‘i nhập quốc tế,hướng về xuất khẩu, phát huy cao nhất nô ‘i lực của đất nước,… Thếnhưng đối với công cuô

‘c đổi mới ở Việt Nam thì nguyên nhân chủ quan trong nước mới àl nhân tố quyết định nhất Những khó khăn từ tình hình bên ngoài cô ‘ng với sai lầm và bất cập trong chính sách kinh

tế cũng như quản lý điều hành đã dẫn đến sự mất cân đối lớn trong nền kinh tế Như việc phủnhận, dẫn đến chủ trương xóa bỏ hoàn toàn thành phần kinh tế tư nhân; xem nhẹ vai trò của

cơ chế thị trường tế: kinh tế quốc doanh và tập thể không phát huy được hiệu quả, luôn trongtình trạng thua lỗ trong khi kinh tế tư nhân, cá thể bị ngăn cấm; sản xuất tăng trưởng chậm, năng xuất lao đô ‘ng thấp, đờisống nhân dân gặp nhiều khó khăn

Trước tình hình đó, Đại hô ‘i Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đã thể hiệnrõ tư duy đổi mới với tinh thần “chỉ có đổi mới thì mới thấy đúng và thấy hết sự thật, thấy những nhân tố mới để phát huy, những sai lầm để sửa chữa”, do đó phải “nhìn thẳng vào sự thật, tôntrọng sự thật, nói đúng sự thật” Đại hô ‘i xác định, trong nhiều năm qua,Đảng đã mắc phải

“những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương chính sách lớn” Mô ‘t trong những nguyên nhân quan trọng được chỉ ra là “do chưa nhận thức đầy đủ rằng, thời kỳ quá đô ‘ lên chủ nghĩa xã hô ‘i là mô ‘t quá trình lịch sử tương đối, dàiphải trải qua nhiều chặng đường và

do tư tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vô ‘i, muốn bỏ qua những bước đi cần thiết…” Trên cơ

sở đó, Đại hô ‘i chỉ ra sự cần thiết không thể thay thế củacác thành phần kinh tế trong mô ‘t nền kinh tế thống nhất, phải “sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sựliên kết chặt chẽ theo nguyên tắc bảo đảm phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng thu nhập cho người lao đô ‘ng”… Cụ thể hóa những tư duy đổi mới trên, trong “phươnghướng, mục tiêu phát triển kinh tế xã hô ‘i 5 năm 1986-1990”, nêu lên mục tiêu ba chương trình kinh tế lớn: lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Có thể nói, Đại

Trang 21

trọng trong định hướng xây dựng phát triển đất nước trên tinh thần đổi mới mô ‘t cách toàn diện và sâu sắc, trước hết là đổi mới trong tư duy kinh tế; đã phá vỡ những quan điểm cũ kỹ, bảo thủ, mở đường cho những tư duy tiến bô ‘, mới mẻ Và do đó, những hiện tượng “phá rào” trong những năm trước đó không những đặt ra yêu cầu cấp thiết cho công cuô ‘c đổi mới

mà còn là cơ sở thực tiễn để kiểm chứng, là những hạt giống đầu tiên cho quá trình phai phá những ý tưởng, cách làm mới trong chặng đường đổi mới sắp tới Từ đây, “sau hơn một thập

kỷ, ý tưởng phát triển bằng cách huy động toàn diện Đảng và Nhà nước đã nhường chỗ cho ý tưởng cho rằng chức năng chính của Nhà nước là tạo ra cơ sở hạ tầng vật chất xã hội và môi trường chính sách ổn định cần thiết cho sự phát triển công bằng, dựa trên cơ sở thị trường” Như vậy, sau mô ‘t quá trình ìmt kiếm, thử nghiệm, đến Đại hô ‘i VI Đảng ta đã nắm bắt đượcchính xác cái “chìa khóa” quyết định nhất đề đổi mới nền kinh tế nước ta chính là đổi mới cơ chế kinh tế, chấm dứt cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường Tư duy đổi mới đã có, nhưng những năm sau đó, nhất là giai đoạn 1987-1988 là những năm áp dụng đường lối đổi mới vào thực tiễn mô ‘t cách khó khăn do tác đô ‘ng bởi những hệ lụy của quá khứ bao cấp lẫn những vấn đề mới đặt ra trong bối cảnh tình hình trong

và ngoài nước có nhiều chuyển biến phức tạp Đây cũng là giai đoạn chứng kiến những điều chỉnh hợp lý, cẩn trọng, hiệu quả trong việc áp dụng dụng các chính sách kinh tế mới

Từ ngày 11/3/1987, Nhà nước ban hành quy định bãi bỏ các trạm kiểm soát trên tất cả các tuyến giao thông trong nước, tạo điều kiện cơ bản cho thúc đẩy lưu thông hàng hóa giữa các địa phương Ngày 14/11/1987, Hô ‘i đồng Bô ‘ trưởng ban hành Quyết định số 217-HĐBT

về việc giao quyền tự chủ cho các xí nghiệp quốc doanh, xóa bỏ hệ thống chỉ tiêu kinh tế, chỉ còn hai chỉ tiêu là giá trị sản lượng và khoản nô ‘pngân sách Với Quyết định này, Nhà nước tiến tới xóa bỏ phần lớn các chỉ tiêu kinh tế mang tính áp đặt, giao quyền tự chủ lớn hơn cho các xí nghiệp quốc doanh, tạo điều kiện để đẩy mạnh sản xuất, tăng năng xuất lao đô ‘ng trên

cơ sở thực tế hoạt đô ‘ng tại xí nghiệp Ngày 9/3/1988, Hô ‘i đồng Bô ‘ trưởng ban hành Nghị định số 27-HĐBT về kinh tế tư doanh và và Nghịđịnh số 29-HĐBT về kinh tế gia đình, cho phép phục hồi lại thành phần kinh tế tư nhân Các Nghị định này không những tháo gỡ những ách tắc trong sản xuất kinh doanh, phát huy tối đa

Trang 22

các nguồn nô ‘i lực vào phát triển kinh tế, mà còn thể hiện rõ mô ‘t bước tiến lớn trong việc cụthể hóa quan điểm thừa nhận mô ‘t nền kinh tế có nhiều thành phần Ngày 5/4/1988, Bô ‘ Chính trị ban hành Nghị quyết 10/NQ về đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp, tiếp tục cải tiến chế đô ‘ khoán sản xuất nông nghiệp Nghị quyết nêu rõ: “Công nhận sự tồn tại lâu dài và tác động tích cực của kinh tế cá thể tư nhân trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội, thừa nhận tư cách pháp nhân, đảm bảo bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ trước pháp luật, bảo hộ quyền làm ăn chính đáng và thu nhập hợp pháp của các hộ cá thể tư nhân” Cho đến năm 1990, “nền kinh tế Việt Nam về những phương diện quan trọng nhất có thể được xem như một nền kinh tế thị trường – dù rằng với những thị trường kém phát triển hoặc không tồn tại đối với đất đai, lao động và vốn Sự chuyển đổi đã hoàn tất Hầu hết các giao dịch đều dựa trên cơ sở trao đổi tự nguyện và cùng có lợi Điều này hoàn toàn khác với những chỉ thị bắt buộc của hệ thống kế hoạch hóa tập trung” Những chủ trương đổi mới, chuyển hướng nền kinh tế tiếp tục được khẳng định và đẩy mạnh thực hiện trong các kỳ Đại hô ‘i Đảng toàn quốc kế tiếp Đại hô ‘i VII (1991) và Đạihô ‘i VIII (1996) đã khẳng định sự tồn tại và định hướng phát triển của nền kinh tế Việt Nam theo cơ chế thị trường.

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Việt Nam bước ra khỏi cuô ‘c chiến với hành trang xây dựng đất nước là niềm hân hoan của ngày vui thống nhất Từ đây, đất nước ta đứng trước những thời cơ, vận hô ‘i mới xen lẫnvới những thử thách không nhỏ trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: vừa đồng thời tiếp tục cầm súng bảo vệ biên giớilãnh thổ; vừa ra sức củng cố chính quyền thống nhất còn non trẻ, xây dựng và phát triển kinh

tế - văn hóa - xã hô ‘i… Những diễn biến khó ườngl và phức tạp của đời sống quan hệ quốc tếnhững năm 1970-1980 đã có tác đô ‘ng xấu đến tìnhhình kinh tế - chính trị trong nước, đặc biệt là cuô ‘c khủng hoảng ở hàng oạtl các nước xã hô ‘i chủ nghĩa Trong bối cảnh đó, để đưađất nước thoát khỏi khủng hoảng, bảo vệ thành quả cách mạng vừa giành được, Đảng Cô ‘ng sản Việt Nam đã khởi xướng công cuô ‘c đổi mới ở nước ta từ Đại hô ‘i Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) với trọng tâm là chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hô ‘i chủ nghĩa Kể từ đó đến nay, nước ta đã từng bước ra

Trang 23

hô ‘i, tăng tốc phát triển kinh tế, giữ vững an ninh quốc phòng, chủ đô ‘nghô ‘i nhập quốc tế… Cùng với Trung Quốc, nước ta mô ‘t trong số ít những nước xã hô ‘i chủ nghĩa đã thành công trong công cuô ‘c đổi mới, cải cách, giữ vững được chế đô ‘ xã hôichủ‘ nghĩa và có những bước phát triển đô ‘t phá về kinh tế Bài học về con đường đổi mớiở Việt Nam sẽ còn được nhắc đến như là mô ‘t trong những hình mẫu chuyển đổi mô hình kinhtế thành công nhất, để lại nhiều bài học quý báu và sâu sắc.

2.2 Đường lối phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 1996 - 2001

Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, lực lượng sản xuất ở nước ta đã có nhữngbước phát triển mạnh mẽ, nền kinh tế – xã hội không ngừng được ổn định và phát triển Từthực tiễn đó, tại Đại hội VIII năm 1996, Đảng ta nhận định: nước ta đã chuyển sang thời kỳphát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đây là một nhận định cực

kỳ quan trọng, có ý nghĩa chỉ đạo đối với việc đề ra phương hướng, nhiệm vụ sắp tới

Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá được Đảng ta chỉ rõ là: “xây dựng nước

ta trở thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu hợp lý,quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sốngvật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, văn minh” “Từ 1996 đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thànhmột nước công nghiệp” Công nghiệp hoá, hiện đại hoá chính là nhằm đẩy mạnh sự pháttriển của lực lượng sản xuất, giúp cho quá trình cơ khí hoá, hiện đại hoá được diễn ranhanh hơn Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nội dung không thể thiếu trong thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội Lê nin đã từng khẳng định: “cơ sở kinh tế duy nhất có thể có đượccủa chủ nghĩa xã hội là nền đại công nghiệp cơ khí Ai quên điều đó, người đó không phải

là người cộng sản” Tất nhiên, trong quá trình này người lao động phải không ngừng nângcao trình độ khoa học và kiến thức chuyên môn để sử dụng, cải tiến và sáng

Trang 24

tạo ra những công cụ lao động tiên tiến nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn những nhu cầucủa con người.

Để khẳng định nền kinh tế nhiều thành phần mà chúng ta đang xây dựng là nền kinh

tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng chỉ rõ: “cần thiết phải chăm lo đổi

mới và phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác, làm cho kinh tế nhà nước làm ănthực sự có hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã phấn đấu dần dầntrở thành nền tảng của nền nền kinh tế quốc dân” Một đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xãhội là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Do vậy, Đảng ta đặc biệt coi trọng sự phát triển

của kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác xã nhằm củng cố và phát triển chế độ công hữu về

tư liệu sản xuất Cho nên, mặc dù nền kinh tế nước ta có sự tham gia của nhiều thành phầnkinh tế khác nhau nhưng vẫn đảm bảo được sự phát triển của nền kinh tế đất nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa

Đối với kinh tế hợp tác xã, Đảng đã có những điều chỉnh thích hợp với cơ chế thịtrường: “Hợp tác xã được tổ chức trên cơ sở đóng góp cổ phần và sự tham gia lao độngtrực tiếp của xã viên, phân phối theo kết quả lao động và theo cổ phần, mỗi xã viên cóquyền như nhau đối với công việc chung” Như vậy, sự điều chỉnh này đã đảm bảo đượctính tự nguyện của người lao động khi tham gia hợp tác xã do có được cơ chế gắn ngườilao động với sản xuất, đảm bảo được lợi ích kinh tế của các xã viên Đây chính là nhữngđiều kiện, những yêu cầu đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế hợp tác xã trongnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Với mục đích huy động vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy các doanh nghiệp nhànước làm ăn có hiệu quả, Đảng nhấn mạnh tới việc thực hiện chủ trương cổ phần hoá một

bộ phận doanh nghiệp nhà nước Điều đó cũng có nghĩa là chấp nhận sự tham gia của cácthành phần kinh tế khác trong các doanh nghiệp nhà nước Thực chất của giải pháp nàychính là để phát triển kinh tế tư bản nhà nước và đa dạng hoá các loại hình sở hữu trongcác doanh nghiệp nhà nước

Trang 25

Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần

không thể tách rời việc xây dựng đồng bộ và vận hành có hiệu quả cơ chế thị trường có sự

quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng ta khẳng định: “cơ chế thịtrường đã phát huy tác dụng tích cực to lớn đến sự phát triển kinh tế – xã hội Nó chẳngnhững không đối lập mà còn là một nhân tố khách quan cần thiết của việc xây dựng và pháttriển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa” Nền kinh tế đất nước sau những năm vậnhành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước đã đạt được những thành tựu tolớn, nền kinh tế đã thoát ra khỏi khủng hoảng, sản xuất phát triển, hàng hoá dồi dào, lưuthông thuận lợi… Cơ chế thị trường có tác dụng như một guồng máy hoạt động của nềnsản xuất và trong lưu thông hàng hoá, nó tạo được mối liên kết chặt chẽ giữa sản xuất nôngnghiệp với sản xuất công nghiệp Đồng thời nó cũng có tác dụng như là một công cụ, mộtphương thức để đảm bảo tăng trưởng kinh tế và mở ra cơ hội để tiếp xúc với bên ngoài…Cho nên, sự tồn tại của cơ chế thị trường là yếu khách quan và tất yếu đối với công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

2.3 Đường lối phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 2001 – nay

Sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta có bước phát triển mới

về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và hội nhập kinh tế quốc tế, thành công bước đầutrong việc chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục mộtbước tình trạng nước nghèo và kém phát triển, tạo thêm điều kiện đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước

Tuy nhiên, trình độ phát triển của nước ta còn thua kém nhiều so với một số nướcxung quanh và nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn vẫn là thách thức Hoàn cảnh đó đòi hỏitoàn Đảng, toàn dân ta phải tiếp tục nỗ lực phấn đấu để thúc đẩy nền kinh tế nước ta pháttriển mạnh mẽ hơn nữa Tại Đại Hội IX năm 2001, Đảng ta thể hiện rõ quyết tâm đưa

Ngày đăng: 29/11/2022, 23:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ - ĐƯỜNG lối PHÁT TRIỂN KINH tế và THÀNH tựu của ĐẢNG TA từ năm 1986 đến NAY
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ (Trang 3)
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ - ĐƯỜNG lối PHÁT TRIỂN KINH tế và THÀNH tựu của ĐẢNG TA từ năm 1986 đến NAY
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w