1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ tài LOGIC học TRONG TRUYỆN cười dân GIAN VIỆT NAM

28 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Logic Học Trong Truyện Cười Dân Gian Việt Nam
Người hướng dẫn PGS.TS Đoàn Đức Hiếu
Trường học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
Chuyên ngành Lý luận Chính trị
Thể loại Tiểu luận cuối kỳ
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 471,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Truyện cười đã được nghiên cứu ở các phương diện thi pháp truyệncười, hàm ý hội thoại trong truyện cười hay ngữ pháp truyện cười,… Ở từngphương diện các vấn đề thuộc nội dung và hình thứ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TPHCM

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-oOo -MÔN HỌC: NHẬP -oOo -MÔN LOGIC HỌC

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ

ĐỀ TÀI:

LOGIC HỌC TRONG TRUYỆN CƯỜI DÂN

GIAN VIỆT NAM

Trang 2

ĐIỂM SỐ TIÊU CHÍ NỘI DUNG BỐ CỤC TRÌNH BÀY TỔNG ĐIỂM

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Ngày tháng năm 2022

Ký tên

Trang 3

II Lịch sử vấn đề

2

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2

1 Đối tượng nghiên cứu 3

2 Phạm vi nghiên cứu 3

IV Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3

1 Mục đích nghiên cứu 3

2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Phương pháp nghiên cứu 3

1.1 Khái niệm về truyện cười

4

Trang 4

1.2 Khái niệm về truyện cười logic

2 Ý nghĩa của logic học

3 Mối liên hệ giữa logic và ngôn ngữ

4 Vì sao có thể coi logic là điểm tựa trong việc nghiên cứu tự nhiên?

Trang 5

MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài

Logic học là khoa học nghiên cứu những qui luật và hình thức suy luậncủa tư duy nhằm đi tới nhận thức đúng đắn về hiện thực khách quan Logic họcphát triển từ rất sớm và đã đạt được rất nhiều thành tựu, đầu tiên và chủ yếu là

ở lĩnh vực toán học Logic học được vận dụng vào khoa học xã hội trong từnửa cuối kỉ XX, đặc biệt là ngành ngôn ngữ học Logic học trở thành điểm tựatrong việc nghiên cứu ngôn ngữ tự nhiên Mối quan hệ giữa logic học và ngônngữ học càng trở nên gắn bó, điều này đã trở thành đề tài hấp dẫn đối với cácnhà nghiên cứu khám phá, tìm hiểu

Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ học trên cơ sở logic họccũng được quan tâm và chú ý Những công trình nghiên cứu về logic ngôn ngữhọc đã và đang hé mở nhiều vấn đề thú vị, hấp dẫn Cho nên, mặc dù biết việcvận dụng logic học vào ngôn ngữ không phải là một việc làm đơn giản, dễdàng, nhưng chúng tôi vẫn quyết định chọn đề tài theo hướng nghiên cứu logiccủa ngôn ngữ học

Truyện cười dân gian Việt Nam ra đời và phát triển cùng với quá trìnhlao động sản xuất và đời sống nhân dân, là một bộ phận quan trọng của vănhọc dân gian được đưa vào việc giảng dạy ở các cấp học Truyện cười đóngmột vai trò quan trọng, nó không chỉ là phương thức tạo ra tiếng cười mua vuicho mọi người để giải tỏa muộn phiền mà truyện cười còn có tác dụng phêphán, châm biếm, mỉa mai các thói hư tật xấu của con người Có khi nó đượcxem như là một thứ vũ khí sắc bén để đấu tranh chống lại những bất công củatầng lớp trên

Truyện cười đã được nghiên cứu ở các phương diện thi pháp truyệncười, hàm ý hội thoại trong truyện cười hay ngữ pháp truyện cười,… Ở từngphương diện các vấn đề thuộc nội dung và hình thức đã được bàn đến ở nhữngmức độ khác nhau Vấn đề “Logic trong một số truyện cười dân gian ViệtNam” mà chúng tôi chọn để khai thác trong khóa luận này còn khá mới mẻ,hấp dẫn Trong quá trình thực hiện tiểu luận nhóm không tránh những thiếu sót

và mong nhận được những ý kiến đóng góp từ thầy

II Lịch sử vấn đề

Trang 6

Logic học là một khoa học đã có từ thời cổ đại với tên tuổi của nhà báchọc nổi tiếng của Hi Lạp Aristote (384-322 TCN) Logic học ngày càng pháttriển và hoàn thiện hơn qua các giai đoạn: thời cổ đại, thời trung đại, thời phụchưng và cho đến hiện đại ngày nay Tuy nhiên thì phải đến nửa cuối thế kỉ XX,logic học mới xâm nhập mạnh vào các ngành khoa học xã hội trong đó có ngônngữ học Các phương pháp và các loại logic khác nhau đã được vận dụng rấtnhiều và thành công trong những khảo cứu ngôn ngữ trên thế giới.

Ở Việt Nam, vấn đề logic và ngôn ngữ được đề cập khá muộn Phảiđến năm 1987, cuốn sách “Logic – ngữ nghĩa – cú pháp” của Nguyễn Đức Dânmới được xuất bản với những kiến thức cơ bản về logic Trên nền tảng cuốnsách trên vào năm 1998, tác giả Nguyễn Đức Dân đã cho ra đời cuốn sách

“Logic và tiếng Việt” – NXB Giáo dục, cuốn sách đã khắc phục được phầnthiếu sót của “Logic – ngữ nghĩa – cú pháp” và đồng thời chỉ ra được mối quan

hệ tất yếu thú vị của ngôn ngữ Tiếng Việt từ cái nhìn logic Sau đó năm 2003Hoàng Phê đã tái bản và sửa chữa cuốn sách “Logic – ngôn ngữ học” góp phầntạo nền tảng cơ sở cho sự ra đời của bộ môn khoa học liên ngành: logic học vàngôn ngữ học

Trên cơ sở những nền tảng lí thuyết của các nhà khoa học đã nêu trên,giới nghiên cứu ngôn ngữ đã cố gắng đi sâu khám phá logic ngôn ngữ tự nhiên.Tuy vậy, những khám phá chỉ dừng ở cấp độ câu từ riêng lẻ, vẫn chưa có côngtrình nghiên cứu nào tìm hiểu về logic văn bản, đặc biệt là văn bản truyện cười

Về truyện cười, đã có nhiều công trình nghiên cứu tuy nhiên nhữngcông trình này chủ yếu xoay quanh mục đích gây cười, nội dung gây cười,nghệ thuật gây cười,… do các nhà nghiên cứu văn học dân gian tiến hành Từgóc độ logic học, ngôn ngữ học mới chỉ có luận văn Thạc sĩ của Nguyễn ThịDung, Đại học Sư phạm Hà Nội, 1993, nghiên cứu đề cập ở phương diện hàm

ý như một biện pháp gây cười Và gần đây là Luận án Tiến sĩ của NguyễnHoàng Yến “Truyện cười dân gian Việt Nam dưới góc độ dụng học” Dựa theonhững gợi ý trên đề tài của chúng tôi như một sự tiếp nối khám phá ngôn ngữtrong văn bản từ lí thuyết logic và lí thuyết hội thoại

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu các loại logic sử dụngtrong một số truyện cười dân gian Việt Nam và những logic đó được chúng tôi tạm thời đặt tên theo đặc điểm của logic nó

2

Trang 7

2 Phạm vi nghiên cứu

Ở đề tài này, phạm vi xem xét trong các truyện đó là logic hình thức, chúng tôi nghiên cứu một số truyện cười dân gian Việt Nam, chủ yếu là các truyện cười trong cuốn “Tiếng cười dân gian Việt Nam”, Trương Chính - Phong Châu (Sưu tầm và tuyển chọn), NXB Khoa học Xã hội, 2004

IV Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích khi chọn đề tài này chúng tôi mong muốn đi sâu tìm hiểubiện pháp gây cười bằng phương tiện logic được sử dụng trong truyện cười dângian Việt Nam dựa trên cơ sở lí thuyết cơ bản về logic học và ngữ dụng học,cũng như nó chỉ ra được sự hấp dẫn của logic ngôn ngữ học nói chung và logictrong truyện cười dân gian Việt Nam nói riêng, từ đó giúp người đọc hiểu thêm

về truyện cười dân gian Việt Nam Đề tài này được nhóm chúng tôi thực hiệnvới mong muốn sẽ góp phần khơi gợi sự ham thích của độc giả, nhằm tăng sốlượng cũng như chất lượng người đọc đối với truyện cười

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhằm đạt tới mục đích như đã trình bày, đề tài hướng tới những nhiệm

vụ cụ thể sau:

- Tìm hiểu và tập hợp một số vấn đề về logic học, ngôn ngữ học và các nguyên tắc ngữ dụng có liên quan đến đề tài

- Phân tích và chỉ ra một số loại logic trong một số truyện cười dân

gian Việt Nam

3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

+ Phương pháp thống kê

+ Phương pháp hệ thống

+ Phương pháp phân tích – tổng hợp

+ Phương pháp so sánh đối chiếu

Trong đó phương pháp phân tích - tổng hợp được coi là phương pháp chủ đạo

NỘI DUNGCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT

I Giới thiệu chung về chuyện cười dân gian Việt Nam

1 Khái niệm truyện cười và truyện cười logic

Trang 8

1.1 Khái niệm về truyện cười

Truyện cười là một thể loại nằm trong khối văn học dân gian của dântộc Truyện cười Việt Nam có những nét đăc trưng riêng và mượn những câuchuyện hài trong cuộc sống để gây tiếng cười, nhưng đôi khi cũng là nhữngcâu chuyện mang tính mỉa mai, châm biếm được khắc họa bằng những ngônngữ dí dỏm, gây cười Truyện cười tồn tại dưới nhiều hình thức được gọi bằngnhững danh từ khác nhau như truyện tiếu lâm, truyện khôi hài, truyện tràophúng, truyện trạng hay giai thoại hài hước…

1.2 Khái niệm về truyện cười logic

Truyện cười logic (không phải logic truyện cười) là truyện cười đượcgây cười bằng nhiều thủ pháp logic (tạo ra cái phi logic hoặc hợp logic mộtcách bất ngờ để gây cười) Về phương diện ngôn ngữ không gây cười Tiếngcười chỉ bật ra khi tư duy người tiếp nhận suy rút được những điều mới mẻ, thú

vị trên cơ sở liên kết lời thoại của các nhân vật trong truyện

- Thưa cụ, thế chắc hồi trẻ cụ cũng thông minh lắm!

Đối lập với truyện cười logic là truyện cười thông thường là truyệncười được gây cười bằng các thủ pháp truyền thống như ngôn ngữ đáng cười,hành động đáng cười, hoàn cảnh đáng cười và tính cách đáng cười

Ví dụ: Truyện cười “To…nhỏ”

Trên một con đường rất to có một ngôi nhà rất nhỏ

Trong ngôi nhà rất nhỏ có một cái giường rất to

Trên một cái giường rất to có một người đàn ông rất nhỏ

Trên người đàn ông rất nhỏ có một cái quần rất to Trong

một cái quần rất to có một cái gì nho nhỏ

Cái nho nhỏ đó là cái… bật lửa!

Tiếng cười trong sinh học mang tính bản năng, vô thức phát ra do hiệuứng của cơ thể một cách đơn thuần Trong tiếng cười tâm lí xã hội, biểu thị thái

độ bộc lộ tư tưởng tình cảm con người, tiếng cười tâm lí xã hội có hai loại:

Trang 9

-Tiếng cười tán thưởng: biểu thị niềm vui, sự yêu mến.

- Tiếng cười phê phán: biểu thị sự khinh ghét và sự phủ nhận, là cái cườitrong truyện cười Cái cười phát ra từ cái đáng cười Cái đáng cười chứa đựngcái hài hiểu theo nghĩa triết học, nghĩa là có mẫu thuẫn bên trong Đó là mẫuthuẫn giữa cái xấu và cái đẹp, giữa hình tượng và ý niệm, giữa hình tượng vàmáy móc

2 Một số đặc điểm về truyện cười dân gian Việt Nam 2.1 Về nội dung, ý nghĩa

Truyện cười là thể loại truyện thuộc khối văn học dân gian Đây lànhững tác phẩm tự sự ngắn nhưng có cấu trúc chặt chẽ và có những kết thúckhác bất ngờ để tạo tiếng cười cho người đọc Thông thường truyện cười sẽ cónhững yếu tố đặc trưng đó là luôn mang yếu tố gây cười cho người đọc, nhữngcâu chuyện hay và dí dỏm sẽ được quyết định dựa vào kết cấu thường đượcxây dựng, tạo nên từ những yếu tố gây cười đó, lồng ghép linh hoạt cácphương pháp gây cười, tăng thêm tính hài hước cho câu chuyện Đối với khotàng truyện cười Việt Nam, những câu chuyện hàng ngày trong cuộc sốngchính là nguồn tư liệu phong phú Bằng những phương pháp mỉa mai, châmbiếm, câu chuyện sẽ trở nên dí dỏm mà không hề kém phần nhân văn, sâu sắc

Tiếng cười là vũ khí đấu tranh nhằm đả kích, châm biếm các nhân vậttiêu biểu của xã hội phong kiến Hiện thực xã hội phong kiến đồi trụy đã tạonên những mẫu thuẫn cơ bản của những giai cấp, những tầng lớp xã hội Tronglòng xã hội ấy, những bất công mà những gia cấp thấp hèn như nông dân, nô lệphải chịu đựng không thể nào lên tiếng, chống trả đã trở thành cơ sở chotruyện cười ra đời, tồn tại và phát triển mạnh để trở thành vũ khí đấu tranh lợihại cho nhân dân lúc bấy giờ Mà đối đượng của tiếng cười đó chính là bọn vuachúa, bọn quan lại, hào lý với bản chất xấu xa, dâm dật, hèn nhát, bất tài,…đến những tên nhà giàu hống hách, tham lam, keo kiệt (phú ông, trưởng giả,địa chủ, phú thương,…) Phong phú và nực cười không kém là các loại “thầy”như thầy đồ, thầy mo, thầy cúng, thầy lang,… Tiếng cười thể hiện rõ trên nộidung của những truyện cười như nhóm truyện Trạng Quỳnh, Thầy bói sợ ma,Bẩm chó cả,…

Dễ nhận thấy rằng truyện cười luôn gắn liền với hoạt động sinh hoạthằng ngày của nhân dân qua đó phản ánh lên hiện thực xã hội bấy giờ mang ýnghĩa nhân sinh, ý nghĩa xã hội Tuy không có chức năng răn dạy trực tiếptruyện cổ tích, truyện truyền thuyết,… nhưng truyện cười có tác dụng giáo

Trang 10

dục độc đáo: nó mài sắc tư duy suy lý, làm giàu óc phê phán, giúp trau dồi khảnăng ngôn ngữ.

2.2 Về kết cấu

Kết cấu ngắn gọn, chặt chẽ, không nhiều lời, nhiều chi tiết, truyện cườixây dựng theo kiểu gói kín mở nhanh, tình huống diễn biến tự nhiên, nhanhchóng và tất cả đều hướng vào mục đích gây cười Truyện cũng có cao trào,thắt nút, đỉnh điểm, mở nút theo đúng quy trình một cốt truyện hiện đại sắc sảo

và thường được cấu tạo như một màn kịch ba lớp:

-Phần đoạn đầu: vào truyện là cách giới thiệu nhân vật trực tiếp không úp

mở, truyện giới thiệu kèm theo một hiện tượng có mẫu thuẫn tiềm tàng

-Phân đoạn nút: mâu thuẫn tiềm tàng phát triển đến đỉnh điểm

-Phân đoạn kết: mâu thuẫn được giải quyết

2.3 Về nhân vật

Truyện cười rất ít nhân vật Nhân vật chính trong truyện là đối tượngchủ yếu của tiếng cười và truyện cười tập trung vào cái đáng cười ở nhân vậtchứ không phải làm nổi bật toàn bộ chân dung nhân vật hay cuộc đời, số phận,tính cách nhân vật Cái đáng cười ở đây chỉ là một nét tính cách hoặc mộtkhoảnh khắc nào đó trong cuộc đời nhân vật Đó có thể là hành vi ứng xử trongmột hoàn cảnh nhất định nào đó.Và hành vi ứng xử ấy được biểu hiện ở lờinói,hành động của nhân vật

Trong thế giới nhân vật phong phú của truyện cười, ta nhận ra ba loạinhân vật xoay quanh mục đích gây cười Đó là bị cười (là đối tượng của tiếngcười phê phán, đả kích, châm biếm) nhân vật cười (thường xuất hiện trongtruyện cười kết chuỗi, là nhân vật tích cực, chủ thể của tiếng cười phê phán) vàcuối cùng là nhân vật trung gian (là phương tiện tạo ra tiếng cười phê phán)

2.4 Về ngôn ngữ

Ngôn ngữ truyện cười là loại ngôn ngữ đại chúng, trong sáng, dễ hiểunhất trong số các loại tự sự dân gian Nếu có mập mờ lấp lửng thiếu minh xácthì đó là sự cố ý một cách nghệ thuật để gây cười và điều này được xem nhưmột thủ pháp ngôn ngữ của truyện cười Tác giả dân gian tỏ ra rất có ý thứcnghệ thuật hóa ngôn ngữ truyện cười trong những trường hợp cụ thể như nóithiếu, nói tắt để gây cười (Ăn đít bố, Bẩm chó cả…); tước bỏ ngữ cảnh nói(Ông lang đòi ăn, Thấy nó ỉa mà thèm…); dùng từ đồng âm và đa nghĩa (Sợ sét

bà, Bảo thái, Ông nọ bà kia, Cúng Thành hoàng…) Bên cạnh đó, nhiều

Trang 11

biện pháp chơi chữ được sử dụng: nói lái, nói ngoa, dùng từ lạ, từ bạo…(Truyện Trạng Quỳnh) Và sẽ thiếu sót nếu bỏ qua sự cố ý sử dụng từ ngữ, yếu

tố “tục” để gây cười (Lạy cụ đề ạ, Cái tăm quan huyện, Ngọa Sơn…)

II Logic học và ngôn ngữ

1 Khái niệm logic học 1.1 Logic học

là gì?

Thuật ngữ “logic” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là “logos”, qua từng thời

kỳ thuật ngữ được sử dụng theo nhiều nghĩa khác Nhưng kế thừa những yếu tốhợp lý và phê phán những yếu tố sai lầm trong những quan niệm xưa, các nhàtriết học và logic học đã sử dụng thuật ngữ “logic” theo hai nghĩa Nghĩa thứnhất chỉ những liên hệ tất yếu của các sự vật, hiện tượng hoặc giữa các mặt ởtrong cùng một sự vật hiện tượng Tức là chỉ quy luật vận động và phát triểncủa tự nhiên, xã hội Theo nghĩa đó thì nó là logic khách quan Đối với nghĩathứ hai chỉ quy luật của sự liên kết, vận động và phát triển tư duy nhằm đạtđược lập luận, được liên kết với nhau, vận động và phát triển theo quy luật đó

để phản ánh đúng đắn bản chất của sự vật trong thế giới hiện thực

Theo quan điểm phổ biến nhất hiện nay thì logic học là khoa học vềcác hình thức, các quy luật của tư duy Nhưng khác với các khoa học kháccũng nghiên cứu về tư duy tâm lý học, sinh lý học thần kinh,… logic họcnghiên cứu các hình thức và quy luật của tư duy để đảm bảo suy ra các kết luậnđúng đắn Để hiểu sâu hơn về đối tượng của logic học, ta phải tìm hiểu các đặcđiểm của giai đoạn nhận thức lý tính và trả lời cho câu hỏi thế nào là hình thức

và quy luật tư duy Vì thế, có thể định nghĩa logic học là khoa học về các hìnhthức và các quy luật của tư duy đúng đắn dẫn đến chân lý

1.2 Sự hình thành và phát triển của logic học Thời kì Cổ đại (khoảng thế kỷ IV trước CN – thế kỷ V):

Đây là thời kì khởi đầu của logic học Logic học thời bấy giờ đượcnghiên cứu như một nhánh của triết học, để phân biệt lập luận tốt và lập luậnkhông tốt Và chính Aristote, người được coi là cha đẻ của logic học, đã cónhững đóng góp to lớn đầu tiên trong sự phát triển của logic học Ông cũng làngười đầu tiên nghiên cứu tỉ mỉ khái niệm và phán đoán, lý thuyết suy luận vàchứng minh Với những hiểu biết sâu rộng của mình, ông đã cho ra đời bộ sách

“Organon” (công cụ) đồ sộ gồm 6 tập Trong đó, ông đã trình bày một số vấn

đề của logic học hình thức truyền thống như: các phạm trù, phân loại mệnh đề,tam đoạn luận, chứng minh, tranh luận, phản bác ngụy biện Ông

Trang 12

cũng nêu lên các quy luật cơ bản của tư duy: Luật đồng nhất, Luật mâu thuẫn, Luật loại trừ cái thứ ba,

Vấn đề trung tâm trong logic học của Aristote là vấn đề suy luận diễndịch, trong đó có các phép chứng minh, được xây dựng như thế nào? Sau

Aristote, các nhà logic học khắc kỉ ¹ đã quan tâm phân tích các mệnh đề cũng

như phép Tam đoạn luận của Aristote Họ đã nghiên cứu quan hệ suy diễn(quan hệ giữa các tiền đề và suy luận) và đưa ra khái niệm bao hàm Họ đãđóng góp cho logic học 5 mệnh đề được coi là những tiên đề sau: nếu có P thì

có fi, mà có P vậy có fi; nếu có P thì có fi, mà không có fi vậy không có P;không có đồng thời P và fi, mà có P vậy không có fi; hoặc P hoặc fi, mà có Pvậy không có fi; hoặc P hoặc fi, mà không có fi vậy có P

Đến cuối thời Cổ đại, Apuleius (khoảng 125-170) đã đưa ra hìnhvuông logic trình bày quan hệ giữa các phán đoán cơ bản A, I, E, O Tiếp đó,Galien (khoảng 131-201) đã bổ sung thêm loại hình tam đoạn luận thứ tư vàBoethius (khoảng 480-525) đã hệ thống hóa logic học hình thức, hoàn thiệnhình vuông logic và đưa ra một số quy tắc của logic mệnh đề

Thời kì Trung cổ (khoảng thế kỷ V- thế kỷ XV):

Có thể xem Boethius chính là chiếc cầu nối đầu tiên của logic học hìnhthức thời Cổ đại đến thời Trung cổ Bởi chính ông là người đã dịch các tácphẩm logic học của Aristote ra tiếng Latinh, qua đó giúp logic học của Aristoteđược truyền tới các nhà triết học kinh viện trung cổ Các triết gia thời kì nàycoi logic học của Aristote là chân lý cuối cùng Logic học của Aristote đượctôn vinh, được giảng dạy rộng khắp ở các trường học và là chủ đề chính choviệc bàn luận của các nhà triết học kinh viện thời kì này Do sự sùng bái

¹ Chủ nghĩa khắc kỷ (Stoicism): là trường phái triết học do Zenon sáng lập vào đầu thế kỷ III tr.CNlogic học của Aristote nên hầu như không có sự bổ sung nào đáng kể cho logichọc trong thời kì này Một số đóng góp nhỏ có thể kể đến như: P Abelard(1079-1142) đã đào sâu khía cạnh ngữ nghĩa và triết học của logic học; Piered’Espagne (khoảng 1220-1277) tóm tắt 19 kiểu đúng của 4 hình tam đoạnluận; Guillaume d’Occam (1285-1347) đưa ra nguyên tắc lưỡi dao Occam;Bunridan (1301-1358) đào sâu phép suy luận có điều kiện Nhìn chung, việcnghiên cứu logic học đến thời kì này vẫn chủ yếu là về suy luận diễn dịch vàchỉ được nghiên cứu như một lĩnh vực của triết học

Trang 13

Thời kì Phục hưng (khoảng thế kỷ XV – XVII):

Đến thời kì này, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học thựcnghiệm, logic học chủ yếu đề cập về phép suy luận diễn dịch của Aristote đãtrở nên chật hẹp và bị chỉ trích mạnh mẽ Nhà triết học người Anh F Bacon(1561-1626), với tác phẩm “NovumOrganum” (Công cụ mới), đã phê phánphương pháp suy luận diễn dịch và logic học của Aristote Ông xây dựng nênphương pháp suy luận quy nạp cho phép tìm mối liên hệ nhân quả giữa các sựkiện Bacon cho rằng cần phải tuân thủ các quy tắc của phương pháp quy nạptrong quá trình quan sát và thí nghiệm để tìm ra các quy luật của tự nhiên Sau

đó, R Descartes (1596-1650) đã phát triển tư tưởng của Bacon với tác phẩm

“Discours de la méthode” (Luận về phương pháp) Và sau này, phương phápsuy luận quy nạp đã được hoàn thiện bởi nhà triết học người Anh J S Mill(1806-1873) Ông đã đưa ra bốn phương pháp suy luận quy nạp dựa trên cơ sởmối liên hệ nhân quả, bao gồm: phương pháp tương hợp, phương pháp sai biệt,phương pháp đồng biến và phương pháp trừ dư

Nhìn chung, trong thời kì này, logic học đã được nghiên cứu xa hơn,chủ yếu về phương pháp suy luận quy nạp Ngoài ra, logic học đã có nhữngứng dụng trong khoa học thực nghiệm so với triết học như trước đây Như vậy,logic học của Aristote cùng với những đóng góp của Bacon, Descartes và Mill

đã trở thành logic hình thức cổ điển

Thời kì Cận đại và Hiện đại (thế kỉ XVII đến nay):

Đây là giai đoạn chứng kiến nhiều sự thay đổi về bộ mặt của logic họchình thức Người đánh dấu cho sự thay đổi này là nhà bác học Đức G W.Leibnitz (1646-1716) Ông là người đầu tiên đề xướng việc dùng nhữngphương pháp hình thức của toán học (ký hiệu, công thức) vào logic học thay vìdùng lời nói như trước đây Ông muốn xây dựng một mô hình logic học màtrong đó các suy luận được hình thức hóa giống như các phép tính được hìnhthức hóa trong đại số Tham vọng của Leibnitz là phát triển logic học củaAristote thành logic học ký hiệu (hay còn gọi là logic toán học) Vì thế nên ôngđược coi là người đầu tiên đặt nền tảng cho logic học ký hiệu Ông cũng làngười có những tư tưởng quan trọng đầu tiên về logic học xác suất Tuy vậy,đến giữa thế kỉ XIX thì những ý tưởng của Leibnitz mới được thực hiện hóabởi nhà toán học Ireland G Boole (1815-1864), với nhiều công trình trong đónổi tiếng là công trình “The Mathematical Analysis of Logic” (Toán giải tíchlogic) năm 1847 Tiếp đó là công trình “Formal Logic” (Logic hình thức) năm

1847 của nhà toán học người Anh De Morgan (1806-1871), với

Trang 14

những phát biểu về luật De Morgan (De Morgan’s laws) nổi tiếng Trong cáccông trình này, logic toán học được trình bày như một bộ phận của đại số: đại

số logic (đại số Boole) Sau Bool và DeMorgan, logic toán học được nghiêncứu, đóng góp, phát triển thêm bởi các công trình của nhiều nhà toán học nhưcông trình của J Venn (người Anh, 1834-1923), G Frege (người Đức, 1848-1925), của B Russell (người Anh, 1872-1970) cùng A N Whitehead (ngườiAnh, 1861-1947) với bộ sách “PrincipiaMathematica” làm cho logic toán học

có bộ mặt như ngày nay

Logic học hình thức, với những đóng góp như trên, đã được toán họchóa, trở thành một phần quan trọng gắn liền với toán học Đây là một bướcphát triển lớn đối với logic học hình thức Logic toán học, về đối tượng thì nó

là logic học, về phương pháp thì là toán học Logic toán học có ảnh hưởng rấtlớn đến toán học hiện đại Chính nhờ những sự phát triển này mà logic họchình thức đã thay đổi Thay vì chỉ được xem như một nhánh của triết học vàchỉ được ứng dụng để tìm ra các lập luận đúng sai thì nay đã được mở rộng ralĩnh vực toán học và còn có nhiều ứng dụng trong các ngành khác như khoahọc máy tính, trí tuệ nhân tạo, luật, ngôn ngữ học,

2 Ý nghĩa của logic học

Trong quá trình tồn tại và phát triển của loài người và mỗi cá nhân conngười, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, tư duy của con ngườiphụ thuộc vào các quy luật logic và diễn ra dưới các hình thức logic của tưduy Quy luật logic và các hình thức logic của tư duy là cái phổ biến diễn ratrong tư duy của nhân loại Điều này cũng nói lên rằng con người suy nghĩ mộtcách logic ngay cả khi không biết rằng tư duy của mình phụ thuộc vào các quyluật logic Nói tóm lại, người ta có kinh nghiệm logic trước khi nghiên cứumôn logic học Bởi vậy, chúng ta có thể nói rằng, trước hết logic học có vai tròtổng kết kinh nghiệm chiếu rọi vào những điều đã quen biết và thực hành tưduy hằng ngày

Từ thực tiễn kinh nghiệm được tổng kết, con người trừu tượng hóa,xây dựng cơ sở của lâu dài lý luận và khoa học logic, các phạm trù, nguyên lý,quy luật cơ bản của tư duy logic hình thành Từ đó xây dựng nên các họcthuyết từ lý thuyết tổng quát đến các lý thuyết chuyên biệt và quay về với kinhnghiệm, thực tiễn Xuất phát từ hệ thống lý luận và khoa học đó, logic học tiếnhành xem xét, đánh giá kinh nghiệm thông thường, phát hiện những

Ngày đăng: 29/11/2022, 23:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.2. Sự hình thành và phát triển của logic học - ĐỀ tài LOGIC học TRONG TRUYỆN cười dân GIAN VIỆT NAM
1.2. Sự hình thành và phát triển của logic học (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w