Mỗi tội phạm có tính chất nguy hiểm và mức độ nguy hiểm khác nhau tươngứng với nhiều loại hình phạt khác nhau, trong đó tử hình là loại hình phạt đặc biệt vànghiêm khắc nhất trong hệ thố
Trang 1KỸ THUẬT TP.HCM KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
ĐỀ TÀI
HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
GVHD: Ths NGUYỄN THỊ TUYẾT NGA
MÃ LỚP: GELA220405_21_1_11CLC (thứ 4, tiết 3-4) Sinh viên thực hiện:
Lâm Đức Quan 21161351
Nguyễn Cảnh Toàn 21161374
Lại Văn Tài 21161357
Phan Minh Quân 21161353
Lê Chí Quyển 21161355
TP.HCM 01/2022
Trang 2BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN: Hình phạt tử hình trong Luật hình sự Việt Nam
Ký tên
CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 3BLHS : Bộ Luật Hình Sự
XHCN : Xã Hội Chủ Nghĩa
TAND : Tòa Án Nhân Dân
VKSND : Viện Kiểm Soát Nhân Dân
HĐXX : Hội Đồng Xét Xử
TP HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
PLĐC : Pháp Luật Đại Cương
Trang 4A PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Bố cục 5
B NỘI DUNG 7
Chương 1: Khái Quát Chung Về Hình Phạt Tử Hình 7
1.1 Khái niệm về hình phạt 7
1.2 Mục đích áp dụng hình phạt tử hình 7
1.3 Hình thức áp dụng luật tử hình 8
1.4 Các tội phạm áp dụng hình phạt tử hình 9
1.5 Các trường hợp miễn án tử hình 9
Chương 2: Thực trạng của hình phạt tử hình 11
2.1 Khái quát hình phạt tử hình trên toàn thế giới 11
2.2 Hình phạt tử hình ở Việt Nam hiện nay 13
2.3 Các vụ án áp dụng biện pháp tử hình 15
2.3.1 Vụ án 1 16
2.3.2 Vụ án 2 16
2.3.3 Vụ án 3 17
2.4 Nhận xét về hình thức tử hình 18
C KẾT LUẬN 20
Trang 5A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong Luật Hình sự Việt Nam, cùng với tội phạm thì hình phạt là thứ không thểthiếu để nhằm mục đích răn đe, xử lí, trừng trị những cá nhân hoặc tổ chức vi phạmpháp luật Mỗi tội phạm có tính chất nguy hiểm và mức độ nguy hiểm khác nhau tươngứng với nhiều loại hình phạt khác nhau, trong đó tử hình là loại hình phạt đặc biệt vànghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt, tước đi quyền sống của cá nhân và chỉđược áp dụng đối với người phạm tội có tính chất đặc biệt nguy hiểm cho xã hội Và đểlàm rõ hơn những vấn đề trên, đó là lí do chúng em chọn đề tài này
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là những vấn đề lý luận và pháp lý về hìnhphạt tử hình do luật hình sự quy định, được vận dụng vào thực tiễn hình phạt tử hìnhdưới góc độ pháp luật hình sự
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của bài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hình phạt từ hình cũngnhư thực trạng việc áp dụng các quy định về hình phạt từ hình trong pháp luật hình sựViệt Nam, từ đó đưa ra một số đề xuất hay giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định củapháp luật hình sự về hình phạt tử hình
4 Phương pháp nghiên cứu
Bài tiểu luận được nghiên cứu và thực hiện trên cơ sở quán triệt sâu sắc quanđiểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản ViệtNam về chính sách hình sự của Nhà nước ta nói chung và đối với hình phạt tử hình nóiriêng
Để hoàn thành các mục đích của bài tiểu luận, chúng em đã dựa trên cơ sởphương pháp luận là phép biện chứng duy vật và sử dụng các phương pháp nghiên cứunhư: phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê hình sự, so sánh pháp luật
Ngoài ra để có được những nội dung đúng đắn và xác thực nhất thì chúng em còn phảidựa trên những thông tin, tài liệu tham khảo trên internet, sách giáo trình PLĐC, báochí,
5 Bố cục
Trang 6Tiểu luận ngoài lời mờ đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo được cơ cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về hình phạt tử hình
Chương 2: Thực trạng của hình phạt tử hình
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của việc áp dụng hình phạt tử hình trong thực tiễn xét xử của Tòa án
Trang 7áp dụng một hình phạt chính Hình phạt bổ sung là hình phạt được tuyên cùng hìnhphạt chính và có thể áp dụng đồng thời nhiều hình phạt bổ sung cùng lúc.
Khái niệm hình phạt theo Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm
2017 "Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy
định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó." (quy định tại Điều 30 Bộ Luật Hình sự năm 2015)
Trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam, hình phạt tử hình và chung thân là hai hìnhphạt cao nhất, chung thân sẽ tước đi một phần quyền của con người như quyền tự do,
quyền bầu cử, làm trong cơ quan nhà nước, đối với“ Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ
áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định” (điều 40 bộ Luật Hình sự).
1.2 Mục đích áp dụng hình phạt tử hình
Mục đích của hình phạt tử hình chính là sự phản ánh rõ nét bản chất xã hội, bảnchất giai cấp của hình phạt nói chung và hình phạt tử hình nói riêng Trước đây, nếu cácnhà làm luật quy kết người phạm tội là kẻ đã gây ra tội ác và ác giả ác báo, phải trừngtrị thích đáng thì sẽ dẫn đến việc lạm dụng hình phạt tử hình Các hình thức thi hànhhình phạt tử hình trong trường hợp đó cũng đã man, tàn khốc hơn, thể hiện mục đích
“trả thù” người phạm tội Dần dần các quan điểm tiến bộ, nhân đạo về hình phạt tử hình
đã thay thế nên tuy vẫn duy trì ở đa số các nước nhưng hình phạt tử hình chỉ được ápdụng đối với người phạm tội như là biện pháp cuối cùng và nghiêm khắc nhất để “trừng trị” họ
Trang 8Nói chung, hình phạt tử hình có mục đích: ngăn ngừa người bị kết án phạm tộimới (phòng ngừa riêng), ngăn ngừa người khác phạm tội (phòng người chung) Đóchính là kết quả thực tế cuối cùng mà nhà nước đặt ra và mong muốn đạt được khi ápdụng và thi hành hình phạt tử hình.
Tử hình là một hình phạt trong hệ thống hình phạt, cũng nhằm đạt được mụcđích chung của hình phạt Tuy nhiên, đối với hình phạt tử hình thì mục đích giáo dụccải tạo người bị kết án không đặt ra Vì thông thường do tính chất tội phạm mà họ gây
ra, Tòa án nhận định rằng người phạm tội không còn khả năng giáo dục cải tạo Và khi
bị kết án tử hình, họ không còn cơ hội để sửa chữa, khắc phục những hậu quả do hành
vi phạm tội của mình gây ra, không có cơ hội giáo dục cải tạo họ trở thành người có íchcho xã hội
Sự nghiêm khắc và triệt để của hình phạt tử hình cho thấy mục đích phòng ngừariêng là ngăn ngừa người bị kết án phạm tội mới Bởi các nhà làm luật xét thấy rằngngười phạm tội bị kết án tử hình là những người không thể cải tạo, giáo dục, không cònkhả năng tái hòa nhập với xã hội Việc loại bỏ hoàn toàn khả năng tái phạm với mức độnguy hiểm cao là cần thiết hơn cả Có thể nói, trong tất cả các loại hình phạt được ápdụng chỉ có hình phạt tử hình có hiệu quả ngăn ngừa người bị kết án phạm tội mới caonhất, mang tính tuyệt đối Bởi vì một người đã chết không thể tiếp tục thực hiện hành vinguy hiểm cho xã hội
Ngoài ra, việc quy định hình phạt tử hình còn có ý nghĩa là cơ sở pháp lý chomột số ngành khoa học pháp lý có liên quan chặt chẽ đến khoa học luật hình sự như:Tội phạm học, tâm lý học tội phạm, xã hội học hình sự
1.3 Hình thức áp dụng luật tử hình
29 điều trong Bộ luật hình sự cho phép áp dụng hình phạt tử hình như một hìnhphạt không bắt buộc Các cuộc hành quyết đã từng được thực hiện bởi một đội bắn gồmbảy cảnh sát, trong đó các tử tù bị bịt mắt và trói vào cột
Hình thức xử bắn sau đó được thay thế bằng tiêm thuốc độc vào tháng 11 năm
2011 sau khi Luật Thi hành án hình sự (điều 59) được Quốc hội thông qua Các loạithuốc được sử dụng để xử tử tù nhân đều do các đơn vị trong nước sản xuất
Khi thi hành án tử hình phải chuẩn bị đủ 03 liều thuốc (trong đó có 02 liều dựphòng) Mỗi lần tiêm thuốc sau 10 phút mà người bị thi hành án tử hình chưa chết, cán
Trang 9bộ kiểm tra phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình để ra lệnh tiếp tục sửdụng liều thuốc dự phòng tiêm lần thứ hai, thứ ba.
Trường hợp tiêm hết liều thuốc thứ ba sau 10 phút mà người bị thi hành án chưachết thì Đội trưởng Đội thi hành án phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình
tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.(Theo quy định tại Điều 8 Bộ luật hình sự 2015)
1.5 Các trường hợp miễn án tử hình
Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ
nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên khiphạm tội hoặc khi xét xử
Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong cáctrường hợp sau đây: phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi,
Trang 10người đủ 75 tuổi trở lên, người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ
mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ
và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạmhoặc lập công lớn
Trong trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều này hoặc trường hợp người bị kết
án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân (theođiều 40 bộ Luật Hình Sự 2015)
Chương 2: Thực trạng của hình phạt tử hình
2.1 Khái quát hình phạt tử hình trên toàn thế giới
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, con người đã biết áp dụng Luật để răn đe,trừng trị kẻ phạm tội, thậm chí tước đoạt mạng sống một cách dã man Thời xa xưa , ởPhương Tây đã xuất hiện nhiều Bộ luật trong đó nổi tiếng và điển hình cho pháp luậtphương Tây thời cổ đại là luật La Mã hay còn được gọi là bộ Luật 12 bảng Bộ Luậtnày áp dụng hình thức trả thù ngang bằng (đây là tàn dư của chế độ thị tộc), thừa nhận
và bảo vệ quyền tư hữu tài sản Trong Luật 12 bảng, Bộ Luật này bảo vệ quyền lợi và
quyền sở hữu của giai cấp quý tộc:” Nếu đánh gãy tay người khác thì thủ phạm cũng bị
đánh gãy tay… Kẻ nào xâm phạm tài sản của người khác như đốt nhà, trộm cắp, phá hoại hoa màu thì sẽ bị xử tử Nếu kẻ nào đương đêm ăn trộm mà bị giết ngay tại chỗ thì hành vi giết người ấy được coi là hợp pháp (Bảng 8 Điều 12) Điều kiện để đảm bảo hợp đồng vay nợ là thịt, da và máu của con nợ Nếu con nợ không trả nợ đúng hạn thì Tòa án cho phép chủ nợ có quyền tạm giữ con nợ Nếu quá 60 ngày mà không trả được
nợ thì chủ nợ có thể xẻo thịt thân thể con nợ, chủ nợ không phải chịu trách nhiệm về việc con nợ bị xẻo thịt nhiều hay ít Sau đó nếu con nợ vẫn không trả được nợ thì bị kết
án tử hình Trường hợp con nợ vay nợ của nhiều người, các chủ nợ băm con nợ ra thành nhiều mảnh (Bảng 3 Điều 6)” Tất cả các quy định này bảo vệ tuyệt đối quyền lợi
của giai cấp quý tộc, đồng thời đó cũng là mối đe dọa khủng khiếp và ám ảnh tột cùngđối với người lao động nghèo khổ ở La Mã
Ở Phương Đông, nền văn minh lúa nước đã hình thành từ rất lâu nên nhà nướcchiếm hữu sơ khai đầu tiên xuất hiện Do hình thành từ công xã nguyên thủy kết hợpvới điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng và công cụ thô sơ nên vô cùng khắc nghiệt
và được xây dựng bởi những thủ lĩnh độc đoán, gia trưởng với tín ngưỡng truyền
Trang 11thống và tôn giáo đa thần, coi người đứng đầu nhà nước là thánh nhân – con của các vịthần – có quyền uy, sức mạnh tuyệt đối và phép lạ, nhà nước và pháp luật ở các nướcPhương Đông thời kỳ này thể hiện bản chất độc tài, chuyên chế, các quy phạm hìnhluật khắc nghiệt và cứng nhắc Điều đó thể hiện rõ qua hai bộ luật của Phương Đôngthời kỳ này là Bộ luật Hammurapi và Bộ luật Manu Bộ luật có 282 điều, trong đó cónhắc tới 30 trường hợp bị xử tử hình đối với phạm nhân Các điều luật về hình sự thểhiện rõ tính báo thù với quan niệm mức hình phạt phải luôn tương xứng với mức độ tội
ác Điều 229 Bộ luật này quy định: “ Nếu người thợ xây, xây nhà cho một người khác
mà người thợ xây không chắc chắn để nhà đổ và chủ nhà bị chết, người thợ xây đó bị giết” Hay Điều 1 và Điều 3 quy định: “ Kẻ nào buộc tội vô cớ về tội giết người cho người khác thì chính kẻ đó bị giết”; “ Nếu ai chứa chấp hay giúp đỡ nô lệ chạy trốn thì cũng bị tội chết”… Hình thức thi hành hình phạt tử hình thời kỳ này rất khắc nghiệt và
tàn độc hơn như đốt, dìm dưới nước hoặc đóng cọc… Đây là một trong nhiều bộ Luậtnghiêm khắc nhất
Cả hai bộ Luật cả Phương Đông và phương Tây, con người xa xưa đã biết sửdụng Luật để răn đe, đe dọa, làm giảm các tệ nạn xã hội xảy ra Thực tế, Bộ Luật đượcxây dựng trên nền tảng của giai cấp đứng đầu, có quyền lực (Quý tộc - phương Tây hayThủ lĩnh – phương Đông) nhằm bảo vệ quyền lợi cho giai cấp tạo ra chúng Điều đó làbất công với các giai cấp khác! Bộ Luật hà khắc, độc đoán, không tình người, trừng trị,đàn áp người lao động nghèo khổ, điều đó dẫn đến nhiều hệ lụy như chiến tranh giảiphóng người dân nghèo và sau đó xuất hiện một hệ thống chính trị mới như: Phong kiến(cả phương Đông và phương Tây) Ngày nay, khi chế độ phong kiến ở nhiều nước bịxóa bỏ, bộ Luật mới được ban hành Việt Nam là một trong những nước được mộtĐảng lãnh đạo với châm ngôn “ Nhà nước của dân, do dân, vì dân” Luật pháp ViệtNam công bằng, văn minh, xem xét đúng người, đúng tội
Theo chiều dài lịch sử cho đến ngày nay, tử hình ngày càng bị lên án do tínhchất hà khắc của hình phạt tử hình mà từ đầu thế kỷ XVIII, nhiều quốc gia trên thế giới
đã bắt đầu quá trình xóa bỏ hình phạt này, việc loại bỏ hình phạt tử hình ra khỏi đạoluật hình sự của quốc gia là cần thiết Tử hình không làm giảm số lượng tội phạm, tướcđoạt mạng sống của người phạm tội là trái với đạo lý “ sinh lão bệnh tử” Hiện nay, vấn
đề bảo vệ quyền con người là vấn đề hàng đầu của toàn nhân loại Trong bản
Trang 12Tuyên ngôn độc lập của Mỹ khẳng định rằng:” Mọi người sinh ra đều bình đẳng, họ
được Tạo hoá ban cho một số quyền tất yếu bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Như vậy, chúng ta đang đi ngược lại
với Tạo hóa, với Chúa Trời và ước nguyện được sống của con người trên thế giới nàynhưng xâm hại đến tính mạng của người khác là một điều không thể tha thứ Tuy nhiên,
áp dụng hình phạt tử hình cho người phạm tội, chính ta là kẻ giết người, cần áp dụngbiện pháp khác để trừng trị kẻ phạm tội Vì thế, nhằm thúc đẩy việc loại bỏ hình phạt tửhình ở các quốc gia, Liên hợp quốc đã ban hành nhiều văn kiện quan trọng Trong đó,
có thể kể đến như: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 và
Nghị định thư tùy chọn thứ hai về bãi bỏ hình phạt tử hình theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1989 (Nghị định thư năm 1989) Theo đó, các văn kiện này khẳng định tầm quan trọng của quyền sống đối với mỗi con người Ở những nước mà hình phạt tử hình chưa được xóa bỏ thì chỉ được phép áp dụng án tử hình đối với những tội ác nghiêm trọng nhất, căn cứ vào luật pháp hiện hành tại thời điểm tội phạm được thực hiện và không được trái với những quy định của Nghị định thư năm
1989 và Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng Hình phạt tử hình chỉ được thi hành trên cơ sở bản án đã có hiệu lực pháp luật, do một toà án có thẩm quyền phán quyết Dù không buộc các quốc gia phải xóa bỏ ngay hình phạt tử hình song LHQ nhấn mạnh, không một quy định nào của Điều 6 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 có thể được viện dẫn để trì hoãn hoặc ngăn cản việc xóa bỏ hình phạt tử hình tại bất kỳ quốc gia thành viên nào của Công ước Điều 1 Nghị định thư năm 1989 quy định trách nhiệm của các quốc gia trong việc bãi bỏ hình phạt tử hình Theo đó, mỗi quốc gia thành viên Nghị định thư sẽ tiến hành tất cả những biện pháp cần thiết để bãi bỏ hình phạt tử hình trong phạm vi quyền tài phán của mình Với những nỗ lực không ngừng nghỉ của LHQ, theo thống kê của Tổ chức Ân xá quốc tế, tính đến năm 2019, trên thế giới đã có 106 quốc gia xóa bỏ hình phạt tử hình với mọi loại tội phạm Qua đó, LHQ đã làm mạnh số lượng tội phạm trên thế giới, điều đó
mang lại cuộc sống hòa bình, hạnh phúc cho con người Một số quốc gia Châu Âu như
Na Uy, Thụy Sĩ, Thụy Điển, trở thành một trong những quốc gia đáng sống nhất củatoàn nhân loại