1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ CÔN TRÙNG TỈNH BẮC KẠN

40 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đa Dạng Sinh Học Khu Hệ Côn Trùng Tỉnh Bắc Kạn
Trường học Sở Tài Nguyên Và Môi Trường
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2021
Thành phố Bắc Kạn
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ CÔN TRÙNG TỈNH BẮC KẠN Bắc Kạn, 2021... THÀNH PHẦN LOÀI CÔN TRÙNG TẠI KHU VỰC NGHIÊN

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN

SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ

ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ CÔN TRÙNG TỈNH BẮC KẠN

Bắc Kạn, 2021

Trang 2

NỘI DUNG

PHẦN 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6

2.1 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN 6

2.2 PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 6

2.3 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 9

PHẦN 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 12

3.1 THÀNH PHẦN LOÀI CÔN TRÙNG TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 12 3.2 MỨC ĐỘ ĐA DẠNG CÔN TRÙNG 14

3.3 CÁC LOÀI CÔN TRÙNG QUÝ HIẾM CẦN ĐƯỢC BẢO VỆ 14

3.3 PHỤC HỒI QUẦN THỂ VÀ BẢO TỒN MỘT SỐ LOÀI CÔN TRÙNG QUÝ HIẾM CÓ GIÁ TRỊ Ở TỈNH BẮC KẠN 16

PHẦN 4 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ ĐA DẠNG CÔN TRÙNG TỈNH BẮC KẠN 26

4.1 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 26

4.2 GIẢI PHÁP KỸ THUẬT 26

4.3 GIẢI PHÁP CỘNG ĐỒNG 30

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 30

5.1 KẾT LUẬN 30

5.2 ĐỀ NGHỊ 31

TÀI LIỆU THAM KHẢO 32

Trang 3

PHẦN 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á có diện tích khoảng 330.541km2, là nước có tính đa dạng sinh học rất cao Theo thống kê có khoảng 80% số loài côn trùng ăn cây xanh và bản thân chúng lại là thức ăn của nhiều loài động vật khác như chim, cá, nhện Ngay từ khi biết trồng trọt và chăn nuôi, con người đã tiếp xúc với côn trùng Côn trùng là nhóm động vật có rất nhiều bí ẩn, phong phú đa dạng nên nó trở thành đối tượng nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học cũng như những người yêu thích thiên nhiên

Trong giới động vật, côn trùng là lớp phong phú nhất, theo các nhà khoa học, hiện nay con người đã biết hơn 1 triệu loài động vật, trong đó côn trùng chiếm khoảng 75% Số loài côn trùng thực tế còn lớn hơn rất nhiều do nhiều loài còn chưa được phát hiện

Những nghiên cứu cơ bản về côn trùng ở Việt Nam được tiến hành từ cuối thế

kỷ 19 Từ năm 1870 đến năm 1895, đoàn điều tra tổng hợp Mission Pavie đã tiến hành khảo sát ở Đông Dương, và đã xác định được 1040 loài côn trùng ở Đông Dương, phần lớn mẫu vật của cuộc điều tra này được thu ở Lào và Campuchia (Auguste, 1904) Năm 1919, Vitalis de Salvaza đã tiến hành điều tra côn trùng ở khu vực Đông Dương và đã công bố danh sách của hơn 3000 loài, trong đó có 2512 loài được ghi nhận ở Việt Nam (Vitalis, 1919)

Sau năm 1954, ở Miền Bắc nước ta, những cuộc điều tra của Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường và Bộ Y tế tập trung vào các loài côn trùng có hại Cuộc điều tra côn trùng khá quy mô của Bộ Nông nghiệp trong các năm 1967-1968 ở Miền Bắc Việt Nam do chuyên gia Trung Quốc giúp đỡ đã cho ra tập tài liệu “Kết quả điều tra côn trùng 1967-1968”gồm 2962 loài côn trùng; đây là danh sách loài lớn nhất được xuất bản cho tới nay (Viện Bảo vệ thực vật, 1976) Mai Quý, Trần Thị Lài, Trần Thị Bích Lan (1981) công bố kết quả điều tra côn trùng ở miền Bắc nước ta sau hơn 10 năm nghiên cứu với danh sách gồm 1380 loài Điều tra ở miền Nam trong những năm 1977-1978, Viện Bảo vệ thực vật cho danh sách loài 1 113 côn trùng và nhện, chủ yếu liên quan tới nông nghiệp (Viện Bảo vệ thực vật, 1999a) Sau này, điều tra của Viện Bảo vệ thực vật trong các năm 1997-1998 cho danh sách 428 loài côn trùng hại trên

23 loại cây ăn quả (Viện Bảo vệ thực vật, 1999b) Gần đây, Cục Bảo vệ thực vật (2010) công bố Danh lục Sinh vật hại trên một số cây trồng và sản phẩm cây trồng sau thu

Trang 4

hoạch ở Việt Nam, trong đó có côn trùng; danh sách này được xếp theo đối tượng cây trồng

Côn trùng là những loài nhỏ bé trong giới động vật nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong tự nhiên và đời sống con người Chúng phân bố ở mọi vùng và trong mọi sinh cảnh lục địa, tham gia tích cực vào quá trình sinh học trong các hệ sinh thái Khoảng 1/3 loài cây có hoa được thụ phấn nhờ côn trùng Chúng thường xuyên tham gia vào quá trình mùn hoá, khoáng hóa tàn dư thực vật và phân giải xác động vật, đào xới lớp đất mặt thải ra các viên phân giữ ẩm tạo ra môi trường hoạt động tốt cho vi sinh vật góp phần hình thành lớp đất màu Côn trùng là thức ăn của các loài động vật ăn côn trùng hoặc ăn tạp thuộc nhiều nhóm như thú, chim, bò sát, ếch nhái, cá

Ngày nay, nhiều hoạt động khai thác quá mức của con người đã làm suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên, gây cho hệ sinh thái biến đổi theo chiều hướng xấu đi và làm giảm tính đa dạng sinh học Có thể thấy hậu quả như mất rừng tự nhiên

đe dọa trực tiếp đến đa dạng sinh học của Việt Nam, nơi cư trú của nhiều loài động vật bị thu hẹp, đặt chúng đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng Đặc biệt, do các hoạt động phun thuốc trừ sâu một cách tràn lan, thiếu khoa học làm nhiều loài côn trùng

bị suy giảm về số lượng và có nguy cơ bị diệt vong, gây nên sự mất cân bằng về hệ sinh thái, ảnh hưởng xấu đến cuộc sống con người

Tỉnh Bắc Kạn được đánh giá là một trong những địa phương có mức độ đa dạng cao, đặc biệt là trên địa bàn tỉnh có 3 khu rừng đặc dụng có tổng diện tích hơn 29.000ha, bao gồm: Vườn Quốc gia Ba Bể, Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc Với đặc thù là hệ sinh thái trên rừng núi đá vôi nên cả 3 khu vực rừng đặc dụng của Bắc Kạn đều có hệ sinh thái vô cùng phong phú, nhiều loài thực vật quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam Cụ thể như Vườn Quốc gia Ba Bể có 1.281 loài thực vật thuộc 162 họ, 672 chi; 182 loài lan, một số loài lan là đặc hữu, chỉ phát hiện thấy duy nhất ở vùng này Đây là khu vực được các nhà khoa học trong và ngoài nước đánh giá là trung tâm đa dạng và đặc hữu cao nhất về loài lan không chỉ của Việt Nam mà còn của cả toàn vùng Đông Nam Á Trong Vườn Quốc gia Ba Bể có các loài cây gỗ quý, hiếm như: Nghiến, Đinh, Lim, Trúc dây Về khu hệ động vật rất phong phú với 81 loài thú, 27 loài bò sát, 17 loài lưỡng cư, 322 loài chim, 106 loài cá, 553 loài côn trùng và nhện…, trong đó có nhiều loài có giá trị, quý hiếm đã được Việt Nam và quốc tế ghi vào Sách đỏ

Tuy nhiên, sự đa dạng sinh học và nhất là việc nhiều loài gỗ, động vật quý hiếm có giá trị cao đã khiến việc bảo tồn đa dạng sinh học tại đây gặp rất nhiều khó khăn Trong nhiều năm trở lại đây, tình trạng khai thác, săn bắn trái phép trong khu bảo tồn thường xuyên diễn ra với quy mô nhỏ, lẻ Đó là chưa kể việc khai thác vàng

Trang 5

trái phép trong vùng lõi đã gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ sinh thái Nhiều năm qua lãnh đạo Vườn quốc gia, Khu bảo tồn và địa phương đã thực hiện nhiều biện pháp để duy trì và bảo tồn nguồn tài nguyên quý giá đó Bên cạnh đó, việc xây dựng và quản lý các vùng đệm hợp lý nhằm giảm áp lực đối với

đa dạng sinh học của các khu rừng đặc dụng cũng đang được quan tâm

Sự thay đổi của các thảm thực vật ở vùng đệm cũng sẽ làm thay đổi thành phần các loài côn trùng Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, tại Vườn Quốc gia Ba Bể, đã có một số nghiên cứu cơ bản côn trùng được tiến hành lẻ tẻ bởi các nhà côn trùng học trong nước và quốc tế

Để đạt được mục tiêu điều tra, người ta thường dùng các phương pháp định lượng Tuỳ theo các đối tượng mà có thể điều tra quan sát, đếm số lượng tại chỗ theo ô, theo tuyến hoặc thu mẫu bằng vợt định lượng theo ô, theo tuyến hoặc bằng các loại bẫy như bẫy nước, bẫy đèn, bẫy hố, bẫy Malaise…Các loại bẫy tuy có ưu điểm của tính khách quan nhưng thường chỉ thu hút một vài nhóm côn trùng và cần thời gian nghiên cứu lâu dài, chỉ thích hợp cho nghiên cứu giám sát Giữa hai kiểu điều tra theo ô và theo tuyến thì điều tra theo tuyến cho số liệu phong phú hơn (Condit R., S Hubell, J Frankie, 1996)

Ở Việt Nam, năm 2003 Tạ Huy Thịnh và CS đã sử dụng phương pháp điều tra định lượng (thu bắt côn trùng trên chiều dài tuyến 40 km) và ứng dụng các chỉ số đa dạng sinh học (d, H’, J’, 1- Lambda’) được xử lý trên phần mềm Primer v5 để đánh giá nhanh mức độ đa dạng côn trùng ở các sinh cảnh khác nhau ở Việt Nam và bước đầu đưa ra phương pháp đánh giá và xây dựng bộ số liệu nền dùng để so sánh (Tạ Huy Thịnh và CS., 2003, 2004, 2005)

Việc tiến hành các cuộc điều tra thực địa nhằm có được những dẫn liệu khoa học một cách đầy đủ, cập nhật về khu hệ côn trùng, khai thác bền vững nguồn tài nguyên côn trùng, bảo tồn các loài côn trùng quý hiếm và có biện pháp ngăn ngừa những thiệt hại có thể gây ra bởi côn trùng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn là việc cần thiết

Trang 6

PHẦN 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp tiếp cận

Để phản ánh khu hệ côn trùng của khu vực nghiên cứu, tất cả các mẫu vật được thu thập theo mọi phương pháp thu mẫu định tính và định lượng Các loài quý hiếm được đánh giá theo Sách Đỏ Việt Nam (2007) Các loài có ý nghĩa kinh tế được xác định theo các danh sách côn trùng nông nghiệp ở Việt Nam

2.2 Phương pháp điều tra và xử lý số liệu

Điều tra thu thập mẫu vật định tính để nghiên cứu thành phần loài côn trùng bằng các phương pháp thường quy trong côn trùng học và phù hợp với từng nhóm đối tượng côn trùng Đối với phần lớn các nhóm côn trùng thì các phương pháp thu mẫu thông dụng được sử dụng (vợt, bẫy đèn và bẫy màn treo: hình 1,2) Bẫy đèn bằng bóng cao áp với phông trắng kích thước 2,5x3,0m (RxC), thời gian từ 18h00’ tới 24h00’

Điều tra định lượng để đánh giá mức độ đa dạng côn trùng theo phương pháp điều tra theo tuyến định lượng được mô tả như sau: Điều tra theo tuyến, với các tuyến đường chọn sao cho phản ánh đầy đủ nhất cảnh quan và trạng thái thảm thực vật của khu vực nghiên cứu Tổng chiều dài quãng đường điều tra là 40km với 2 người điều tra thu thập mẫu song hành Côn trùng được thu thập bằng vợt và bắt tay, đối tượng thu bắt là côn trùng đậu trên cây, trên mặt đất hoặc đang bay; không gian thu mẫu từ mặt đất tới chiều cao 5m Sự thu bắt diễn ra khi nhìn thấy côn trùng và cứ 100m vợt 1 lần ngẫu nhiên 10 vợt trên cây, cỏ

Phương pháp này được thực hiện đồng bộ tại các điểm điều tra và tuân thủ một số quy định: Thời gian điều tra diễn ra phù hợp với mùa sinh trưởng của côn trùng; không thu bắt trong điều kiện thời tiết bất thường; chỉ thu mẫu và tính số lượng côn trùng trưởng thành; không thu bắt và tính số lượng côn trùng sống thành xã hội, đối với côn trùng sống tập đoàn hoặc thành ổ chỉ tính tới 5 cá thể cho một ổ; không thu bắt và tính côn trùng hoạt động ban đêm, kể cả các họ Bướm đêm có thể gặp ban ngày

Trang 7

Hình 1: Thu mẫu côn trùng bằng phương pháp vợt

Hình 2: Thu mẫu côn trùng bằng phương pháp bẫy đèn

Khi thực hiện phương pháp điều tra bằng vợt theo tuyến thi phần lớn các mẫu thu được có thể định loại được tới loài (khoảng 80%) Số còn lại chúng tôi để ở dạng

Trang 8

loài hình thái (Reconizable Taxonomic Units – RTUs), bởi theo nguyên tắc xử lý số liệu để xây dựng các chỉ số, tất cả các taxon phải đếm được số lượng mẫu tương ứng

Hình 3: Thu mẫu côn trùng bằng phương pháp bẫy màn treo

Các chỉ số đa dạng được xây dựng theo phần mềm Primer v5, riêng sự tương đồng thành phần loài được xử lý bằng phương pháp CA (Cluster Analysis) cũng trên nền phần mềm Primer v5 (Clarke K., R Gorley, 2001)

Trang 9

Mức độ đa dạng côn trùng để đánh giá thành 4 cấp: rất cao, cao, trung bình và thấp dựa theo giá trị của d và H’

Các tài liệu phục vụ cho định loại côn trùng có số lượng lớn và được trình bày trong phần Tài liệu tham khảo; hệ thống phân loại côn trùng theo Kristensen N P (1990)

Trong khuôn khổ nhiệm vụ này chúng tôi sử dụng kết quả phân tích định loại mẫu vật thu được từ VQG Ba Bể, Khu BTLSC Nam Xuân Lạc, Khu BTTN Kim Hỷ và một số khu vực khác để đánh giá mức độ đa dạng côn trùng ở khu vực nghiên cứu

2.3 Địa điểm nghiên cứu

Điều tra, khảo sát thực địa theo các tuyến và tại một số điểm nghiên cứu là các VQG, Khu bảo tồn trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

- Tuyến 1: Từ Chợ mới (tọa độ: 21059’12”N/105049’07”; độ cao: 230m) đi theo đường quốc lộ 3 lên thành phố Bắc Kạn (tọa độ: 22008’17”N/105049’53’’E; độ cao: 311m) Sinh cảnh: Rừng trồng, rừng tái sinh sau nương rẫy và khu dân cư

- Tuyến 2: Từ thành phố Bắc Kạn (tọa độ: 22008’17”N/105049’53’’E; độ cao: 311m) đi chợ Phương Viên, Huyện Chợ Đồn (tọa độ: 22010’39”N/105038’19’’E; độ cao: 479m) đến VQG Ba Bể (tọa độ: 22024’31”N/105037’22’’E; độ cao: 273m) Sinh cảnh: Rừng thứ sinh ít bị tác động, rừng sau nương rẫy, rừng trồng và khu dân cư

Trang 10

- Tuyến 3 (VQG Ba Bể): Khảo sát vùng lòng hồ Ba Bể, xuất phát từ bến thuyền

(tọa độ: 22024’30”N/105037’21’’E; độ cao: 276m) đi Pắc Ngòi (tọa độ:

22023’51”N/105037’46’’E; độ cao: 276m) đến Ao Tiên thuộc khu vực đầu Sông Năng, (tọa độ: 22026’41”N/105036’59’’E; độ cao: 276) Sinh cảnh: Rừng thứ sinh trên núi đá vôi ít bị tác động, hệ sinh thái nông nghiệp và khu dân cư ven hồ

- Tuyến 4: Từ bến thuyền VQG Ba Bể (tọa độ: 22024’31”N/105037’22’’E; độ cao: 273m) đến lưu vực sông Năng, thuộc huyện Ba Bề (tọa độ:

22027’11”N/105043’25’’E; độ cao: 262m) Sinh cảnh: Rừng thứ sinh ít bị tác động, hệ sinh thái nông nghiệp và khu dân cư

- Tuyến 5: Từ bến thuyền VQG Ba Bể (tọa độ: 22024’31”N/105037’22’’E; độ cao: 273m) đi xã Ngọc Phái, huyện Chợ Đồn (tọa độ: 22012’09”N/105034’45’’E; độ cao: 527) đến KBTTN Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn (tọa độ:

22013’02”N/105029’24’’E; độ cao: 343m) Sinh cảnh: Rừng thứ sinh ít bị tác động, hệ sinh thái nông nghiệp và khu dân cư

- Tuyến 6 (KBTTN Nam Xuân Lạc): Từ Ban quản lý KBTTN Nam Xuân Lạc (tọa

độ: 22013’02”N/105029’24’’E; độ cao: 343m) đi theo hướng Bắc vào vùng lõi của KBTTN (tọa độ: 22016’46”N/105031’07’’E; độ cao: 701m) Sinh cảnh: Rừng thứ sinh ít bị tác động, hệ sinh thái nông nghiệp và khu dân cư

- Tuyến 7: Từ KBTTN Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn (tọa độ:

22013’02”N/105029’24’’E; độ cao: 343m) đi thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn (tọa độ: 22009’33”N/105036’03’’E; độ cao: 506m) về thành phố Bắc Kạn (tọa độ:

22008’46”N/105049’53’’E; độ cao: 279m) Sinh cảnh: Rừng thứ sinh ít bị tác động, hệ sinh thái nông nghiệp và khu dân cư

- Tuyến 8: Từ thành phố Bắc Kạn (tọa độ: 22008’46”N/105049’53’’E; độ cao: 279m) đi theo quốc lộ 3 đến Đèo Giàng, huyện Ngân Sơn (tọa độ:

22017’46”N/105054’20’’E; độ cao: 570m) đi theo quốc lộ 279 đến KBTTN Kim

Hỷ, huyện Na Rì (tọa độ: 22014’53”N/106006’06’’E; độ cao: 370m) Sinh cảnh: Rừng thứ sinh trên núi đá vôi ít bị tác động, hệ sinh thái nông nghiệp và khu dân cư

- Tuyến 9 (KBTTN Kim Hỷ): Từ Ban quản lý KBTTN Kim Hỷ, huyện Na Rì (tọa

độ: 22014’53”N/106006’06’’E; độ cao: 370m) đi theo hướng Nam đến trạm Kiểm lâm Nà Đường (tọa độ: 22012’23”N/106004’44’’E; độ cao: 415m), điểm cuối là trạm Kiểm lâm Thẳm Mu ((tọa độ: 22011’33”N/106004’12’’E; độ cao: 456m),

Trang 11

Sinh cảnh: Rừng thứ sinh trên núi đá vôi ít bị tác động, rừng trồng, hệ sinh thái nông nghiệp và khu dân cư

- Tuyến 10: Từ Ban quản lý KBTTN Kim Hỷ, huyện Na Rì (tọa độ:

22014’53”N/106006’06’’E; độ cao: 370m) theo quốc lộ 279 đi động Áng Toòng, thuộc thành phố Bắc Kạn (tọa độ: 22005’32”N/105053’45’’E; độ cao: 255m), điểm cuối là thành phố Bắc Kạn (tọa độ: 22008’46”N/105049’53’’E; độ cao: 279m) Sinh cảnh: Rừng thường xanh trên núi đá vôi, rừng trồng, trảng cây bụi, nương rẫy và khu dân cư

2.4 Thời gian thực hiện đề tài

Các đợt điều tra khảo sát khu hệ côn trùng được tiến hành trong năm 2021

Trang 12

PHẦN 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thành phần loài côn trùng tại khu vực nghiên cứu

Từ các điểm nghiên cứu chúng tôi đã thu được mẫu vật của 11 bộ côn trùng (Cánh cứng – Coleoptera; Cánh khác – Heteroptera; Cánh giống – Homoptera; Cánh thẳng – Orthoptera; Bọ ngựa – Mantodea; Bọ que – Phasmatodea; Cánh da – Dermaptera; Gián – Blattodea; Cánh vảy – Lepidoptera; Hai cánh – Diptera; Cánh màng – Hymenoptera) Số lượng loài của từng bộ được trình bày trong Phụ lục 1 Số loài ghi nhận được ở tỉnh Bắc Kạn là 1162 loài, trong đó: số loài thuộc bộ Cánh cứng - Coleoptera là nhiều nhất: 492 loài (chiếm 42,49% ) số loài đã ghi nhận; phản ánh tương ứng số lượng mẫu vật thu được rất lớn của bộ này; tiếp đến là các bộ Cánh vảy – Lepidoptera có 230 loài (19,86%), bộ Cánh khác – Heteroptera có 102 loài (8,81%), bộ Cánh màng – Hymenoptera 93 loài (8,03%), bộ Hai cánh – Diptera có 90 loài (7,77%), bộ Cánh giống – Homoptera 86 loài (7,43%), và bộ Cánh thẳng – Orthoptera 42 loài (3,63%), hai bộ Bọ ngựa – Mantodea và bộ Bọ que mỗi bộ ghi nhận

9 loài (0,78%), các bộ Cánh da và Gián ghi nhận 2-3 loài

Kết quả thu được đã chỉ ra rằng VQG Ba Bể là nơi có sự đa dạng nhất về thành phần loài của khu hệ Côn trùng ở tỉnh Bắc Kạn với 957 loài (chiếm 82,64%) trên tổng số 1.157 loài đã ghi nhận được

Những kết quả điều tra thu được cho thấy, mức độ tương đồng về thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu (VQG Ba Bể, KBTTN Kim Hỷ, KBTLSC Nam Xuân Lạc) là không cao, số liệu về đa dạng côn trùng tại Bắc Kạn trên cơ sở 3 phương pháp: phương pháp định lượng theo tuyến bằng vợt, phương pháp bẫy đèn và phương pháp bẫy màn treo tại 3 sinh cảnh Rừng tự nhiên, Rừng trồng và Hệ sinh thái nông nghiệp đã phản ảnh cơ bản hiện trạng thành phần loài côn trùng tại khu vực nghiên cứu Tuy nhiên, qua kết quả này cũng cho thấy tiềm năng phong phú loài côn trùng ở Bắc Kạn là rất cao

Trang 13

Bảng 1: Số loài côn trùng ghi nhận được tại tỉnh Bắc Kạn

KBTLSC Nam XL Tổng

VQG

Ba Bể

KBTTN Kim Hỷ

KBTLSC Nam XL

Trang 14

3.2 Mức độ đa dạng côn trùng

Để xác định mức độ phong phú và đa dạng côn trùng ở các điểm nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các chỉ số đa dạng côn trùng H’ và chỉ số phong phú loài d được điều tra theo cùng một phương pháp nghiên cứu định lượng So sánh mức độ đa dạng côn trùng của một số VQG và khu bảo tồn thiên nhiên của tỉnh Bắc Kạn

Bảng 2 So sánh mức độ đa dạng côn trùng Điểm

điều tra

CS phong phú loài (d)

CS đa dạng (H’)

Đánh giá chung Vườn Quốc gia, Khu BTTN

3.3 Các loài côn trùng quý hiếm cần được bảo vệ

Trong thời gian nghiên cứu tại các điểm nghiên cứu thuộc địa bàn tỉnh Bắc Kạn, chúng tôi đã ghi nhận được 14 loài côn trùng bị đe dọa tuyệt chủng Tất cả các loài này đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), 05 loài thuộc nhóm IIB theo NĐ84/2021, 04 loài trong danh sách IUCN 2021, 03 loài trong Phụ lục II CITES Điều đáng lưu ý là tất cả 14 loài côn trùng quý hiếm đều được ghi nhận từ khu vực rừng lá rộng thường xanh (Bảng 3)

Trang 15

Bảng 3: Các loài côn trùng có giá trị bảo tồn tại tỉnh Bắc Kạn

1

Troides aeacus aeacus

(C & R Felder, 1860) Bướm phượng cánh

chim chấm rời

VU

LC IIB II

2

Troides helena (Linnaeus,

1758) Bướm phượng cánh

chim chấm liền

VU

LC IIB II

3

Teinopalpus imperialis

Hope, 1842 Bướm phượng đuôi

kiếm răng tù

VU

NT IIB II

4

Byasa crassipes (Oberthur,

1879) Bướm phượng đuôi lá

5

Papilio noblei de Niceville,

1889 Bướm phượng đốm

6

Dorcus curvidens curvidens

(Hope, 1840) Cặp kìm sừng cong CR

7 Dorcus antaeus Hope, 1842 Cặp kìm sừng lưỡi hái EN

8

Dorcus titanus westermanni

Hope, 1842 Cặp kìm sừng đao EN

Jumnos ruckeri tonkinensis

Nagai, 1992 Cánh cam xanh bốn

chấm

CR

Trang 16

- NĐ84/2021 - Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ: IIB - Hạn chế khai thác, sử dụng

vì mục đích thương mại và các loài thuộc Phụ lục II CITES có phân bố tự nhiên tại Việt Nam

- CITES: Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES):Phụ lục II là danh mục những loài động vật, thực vật hoang dã hiện chưa

bị đe doạ tuyệt chủng, nhưng có thể dẫn đến tuyệt chủng, nếu việc xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển và quá cảnh mẫu vật từ tự nhiên từ tự nhiên vì mục đích thương mại những loài này không được kiểm soát

3.3 Phục hồi quần thể và bảo tồn một số loài côn trùng quý hiếm có giá trị ở tỉnh Bắc Kạn

3.3.1 Phục hồi quần thể và bảo tồn loài bướm phượng Troides aeacus aeacus (C

& R Felder, 1860)

Họ bướm Phượng (Papilionidae) được quan tâm nhiều nhất trong các họ thuộc bộ Cánh vảy (Lepidoptera) trong nghiên cứu về sinh học và bảo tồn Họ bướm này được xem như là “người đại diện” cho tính đa dạng của bướm (Vane-Wright, 2005) Họ bướm phượng (Papilionidae) có nhiều loài bướm quý hiếm, trong đó có một số loài đang trong tình trạng bị đe doạ ở mức độ nguy cấp Nhiều loài có kích thước lớn, màu sắc đẹp, có giá trị thẩm mỹ, luôn hấp dẫn những người sưu tầm Họ bướm Phượng (Papilionidae) được các tổ chức bảo tồn quốc tế quan tâm và hầu hết các loài bướm Phượng có trong danh lục của CITES và IUCN Trong số 573 loài bướm Phượng thì có tới 170 loài cần phải được bảo tồn

Ở Việt Nam, Năm 2007, Sách Đỏ Việt Nam, Phần I - Động vật, đã công bố

22 loài Côn trùng; đồng thời Danh Lục Đỏ Việt Nam đã công bố 25 loài Côn trùng thuộc 4 bộ (Cánh vảy Lepidoptera, Cánh cứng Coleoptera, Bọ que Phasmatodea và Cánh nửa Hemiptera) Trong số 11 loài thuộc bộ Cánh vảy, các loài ở họ Bướm

phượng chiếm tỷ lệ cao 64% (7 loài), với 2 loài thuộc giống Troides

Có phân bố khá rộng ở nước ta nhưng rất hiếm gặp, Troides aeacus aeacus

hiện đang là đối tượng bị thu bắt để trao đổi, buôn bán trong nước và trên thị trường quốc tế Dự đoán số lượng cá thể bướm này ở một số nơi còn sẽ bị suy giảm mạnh

Trang 17

do tốc độ phá rừng ẩm để xây dựng các công trình kinh tế, quốc phòng nhằm phục

vụ cho nhu cầu của con người

Hình 4: Trưởng thành loài Troides aeacus aeacus (C & R Felder, 1860) (con đực)

Trang 18

Hình 5: Trưởng thành loài Troides aeacus aeacus (C & R Felder, 1860) (con cái)

Mối đe dọa đối với loài Troides aeacus

Mối đe doạ lớn nhất đối với đa dạng côn trùng nói chung và các loài có nguy cơ tuyệt chủng nói riêng là mất đi nơi sống của chúng Điều này thể hiện ở việc diện tích thảm thực vật tự nhiên (rừng tự nhiên) bị thu hẹp, thay thế bằng rừng trồng, cây công nghiệp, cây nông nghiệp, khu dân cư và khu công nghiệp

Những nghiên cứu về sinh cảnh của các loài bướm nói chung cũng như loài T aeacus nói riêng tại các VQG đã nói lên mối quan hệ chặt chẽ của chúng với rừng

tự nhiên

Mối đe dọa thứ hai đối với loài T aeacus cũng như các loài côn trùng trong Sách

Đỏ VN và Danh lục Đỏ VN là sự săn bắt quá mức dẫn đến suy giảm quần thể của loài Đa số các loài bị thu bắt là mang tính thương mại và tham gia vào thị trường quốc tế

Khuyến cáo bảo tồn

Về kỹ thuật, nhiều đề xuất đã được đưa ra nhằm bảo vệ đa dạng côn trùng, trong đó có các loài bị nguy cấp Nhìn chung, ít có tư liệu về bảo tồn riêng rẽ từng loài côn trùng bị nguy cấp

+ Xây dựng hành lang đa dạng sinh học

+ Tăng cường quản lý ở vùng đệm của các VQG và Khu BTTN;

+ Các biện pháp giáo dục cộng đồng; tăng cường năng lực quản lý của các cơ quan chức năng

+ Biện pháp nhân nuôi

Biện pháp nhân nuôi loài T aeacus để bổ sung số lượng cho quần thể ngoài

tự nhiên, mặt khác tạo điều kiện tăng thu nhập cho người dân địa phương Chính vì vậy, việc xây dựng các trang trại nuôi bướm, việc này có ý nghĩa rất lớn, giúp người dân ở gần các khu rừng tự nhiên có cuộc sống kinh tế tương đối ổn định, từ ít phụ thuộc cho đến hoàn toàn không phụ thuộc vào rừng

Trang 19

Đầu tư một trang trại nuôi bướm là việc mà nhân dân địa phương có thể đầu tư được, điều quan trọng là phải trồng được các loài cây thức ăn, diện tích lớn nhỏ phụ thuộc vào khả năng của người nuôi bướm Việc trồng cây thức ăn cho bướm còn có tác dụng rất lớn trong việc phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, bảo vệ rừng và môi trường sinh thái

3.3.2 Phục hồi quần thể và bảo tồn loài Cặp kìm Dorcus curvidens curvidens (Hope)

Loài cặp kìm sừng cong răng ngang Dorcus curvidens curvidens (Hope) thuộc

họ Cặp kìm Lucanidae là một trong những loài côn trùng có giá trị phân bố ở tỉnh Bắc Kạn Đây là loài cánh cứng có kích thước lớn, hình dáng đẹp nên là đối tượng bị thu bắt và buôn bán đặc biệt trên thị trường quốc tế Cùng với việc sinh cảnh sống bị thu hẹp, các quần thể của loài cánh cứng này ngày càng suy giảm về số lượng và trở nên rất hiếm gặp ngoài tự nhiên Năm 2006, loài côn trùng này được đưa vào Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Năm 2007, cặp kìm sừng cong răng ngang tiếp tục được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam ở mức độ cực kỳ nguy cấp Vì thế nếu không có biện pháp bảo vệ kịp thời trong tương lai không xa chúng ta sẽ mất đi một loài côn trùng quý

Trang 20

Hình 6: Trưởng thành đực Hình 7: Trưởng thành cái

Những tài liệu công bố trước đây về loài côn trùng này cho thấy: Trước năm

1990, Dorcus curvidens curvidens có số lượng cá thể còn khá nhiều Từ năm 1990

đến nay đặc biệt là vào những năm cuối thế kỷ 20, loài này đã bị thu bắt ráo riết để buôn bán nên số lượng còn rất ít và trở nên hiếm gặp

Mối đe doạ lớn nhất đối với đa dạng côn trùng nói chung và các loài có nguy cơ tuyệt chủng nói riêng là mất đi nơi sống của chúng Điều này thể hiện ở việc diện tích thảm thực vật tự nhiên (rừng tự nhiên) bị thu hẹp, thay thế bằng rừng trồng, cây công nghiệp, cây nông nghiệp, khu dân cư và khu công nghiệp

Mối đe dọa thứ hai đối với loài Dorcus curvidens cũng như các loài côn trùng

trong Sách Đỏ VN và Danh lục Đỏ VN là sự săn bắt quá mức dẫn đến suy giảm quần thể của loài

Khuyến cáo bảo tồn

- Tăng cường các hoạt động giáo dục nhằm nâng cao nhận thức và khuyến khích các thành phần có liên quan tham gia vào công tác bảo vệ các loài, quần xã hay hệ

Ngày đăng: 29/11/2022, 22:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
24. Dang H.T, Nguyen L.T.P, Kojima J., 2013. Taxonomic notes on the genus Euodynerus Dalla torre (Hymenoptera: Vespidae: Eumeninae) from Northern Vietnam. TAP CHI SINH HOC, 34 (4): 427–431 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Euodynerus
29. Dierl, W., 1979. Revision der orientalischen Bombycidae (Lepidoptera): Teil 2. Die Ocinara-Gruppe. - Spixiana 3(2): 253-258 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ocinara
34. Dupuis M. Le Comt, 1919. Carabidae. P. 28-33. In “Salvaza R. Vitalis. Essai d’un TraitÐ d’entomologie Indochinoise. Imprimercie Minsang dir T. B. Cay, Hanoi. 28-33” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Salvaza R. Vitalis. Essai d’un TraitÐ d’entomologie Indochinoise. Imprimercie Minsang dir T. B. Cay, Hanoi. 28-33
38. Frank-Thorsten Krell, 2004. Parataxonomy vs. Taxonomy in Biodiversity studies – pitfalls and applicability of “morphospecies” sorting.Biodiversity and Conservation, 13. 795-812 Sách, tạp chí
Tiêu đề: morphospecies
39. Fujioka M., 1996. The specific name of the Cheirotonus species (Coleoptera, Scarabaeidae, Euchirinae) from the Malay Penisula. Elytra, 24. 173 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cheirotonus
72. Kimsey S. L., Mita T. & Pham T. H., 2016, New species of the genus Mahinda Krombein, 1983 (Hymenoptera, Chrysididae, Amiseginae).Zookeys, 551, pp. 145-154 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mahinda
79. Nguyen Thi Phuong Lien, 2015a. Taxonomic notes on the species of the genus Anterhynchium de Saussure, 1863 (Hymenoptera: Vespidae:Eumeninae) from Vietnam with description of a new species. Zootaxa 3915 (1): 132-138. http://dx.doi.org/10.11646/zootaxa.3915.1.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anterhynchium
82. Nguyen Thi Phuong Lien, 2017. Notes on the paper wasp genus Polistes (Polistella) (Hymenoptera: Vespidae: Polistinae) from the northern part of Vietnam with description of males and nests. The Raffles Bulletin of Zoology, 65: 220–225 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Polistes (Polistella
83. Nguyen L.T.P., 2020a. Taxonomic study on the genus Pseudozumia de Saussure (Hymenoptera: Vespidae: Eumeninae) from Vietnam, with description of a new species. Zootaxa 4790 (3): 586–592 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pseudozumia
84. Nguyen L.T.P., 2020b. A new Vietnamese species and a key to the Oriental species of Pareumenes (Nortonia) de Saussure, 1855 (Hymenoptera:Vespidae: Eumeninae). RAFFLES BULLETIN OF ZOOLOGY 68: 588–594 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pareumenes (Nortonia
85. Nguyen L.T.P. & J. M. Carpenter, 2016. Review of the Polistes (Polistella) "Stenopolistes" species-group (Hymenoptera: Vespidae: Polistinae) from Vietnam, with description of a new species and key to species. Zootaxa 4088 (4): 583–593 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stenopolistes
86. Nguyen L. T. P. and Carpenter J. M., 2017. Taxonomic review of the genus Zethus Fabricius (Hymenoptera: Vespidae: Eumeninae) from Vietnam with descriptions of four new species. Entomological Science 20: 24–32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Zethus
87. Nguyen L.T.P, Kojima J. and Saito F., 2011. Polistes (Polistella) wasps (Hymenoptera: Vespidae: Polistinae) from mountainous areas of northern Vietnam, with description of five new species. Zootaxa 3060: 1-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Polistes (Polistella") wasps (Hymenoptera: Vespidae: Polistinae) from mountainous areas of northern Vietnam, with description of five new species. "Zootaxa
88. Nguyen L.T.P. and James M. Carpenter, 2013. Taxonomic notes on the species of the genus Malayepipona Giodani Soika (Hymenoptera:Vespidae: Eumeninae) from northern Vietnam, with description of three new species. The Raffles Bulletin of Zoology 61(2): 727–734 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Malayepipona" Giodani Soika (Hymenoptera: Vespidae: Eumeninae) from northern Vietnam, with description of three new species. "The Raffles Bulletin of Zoology
89. Nguyen T. P. Lien and J. Kojima, 2013. Distribution of social wasps in Vietnam (Hymenoptera: Vespidae). TAP CHI SINH HOC 35(3se): 16-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TAP CHI SINH HOC
90. Nguyen L.T.P. and J. Kojima, 2014. Distribution and nests of paper wasps of Polistes (Polistella) in northeastern Vietnam, with description of a new species (Hymenoptera, Vespidae, Polistinae). ZooKeys 368: 45–63. doi:10.3897/ zookeys.368.6426 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Polistes (Polistella") in northeastern Vietnam, with description of a new species (Hymenoptera, Vespidae, Polistinae). "ZooKeys
91. Nguyen L.T.P., Tran N.T. & Hoang M.G., 2020. Taxonomic notes on the genus Pseumenes Giordani Soika, 1935 (Hymenoptera: Vespidae:Eumeninae) from Vietnam with key to all known species in the Oriental region. Zootaxa (Accepted) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pseumenes
92. Nguyen T. P. Lien, Saito F., Kojima J. & Carpenter J. M., 2006. Vespidae (Hymenoptera) of Viet Nam 3. Synoptic key to Vietnamese species of the polistine genus Ropalidia, with notes on taxonomy and distribution.Entomological Science 9 (1): 93-107 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ropalidia", with notes on taxonomy and distribution. "Entomological Science
93. Nguyen L.T. P., Saito F., Kojima J. & Carpenter J. M., 2007. Vespidae of Vietnam (Insecta: Hymenoptera) 2. Taxonomic notes on Vespinae.Zoological Science 33 (4): 95-104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Zoological Science
53. IUCN, 2021. Red list of Threatened animals. https://www.iucnredlist.org/search?query=Troides%20aeacus%20aeacus%20Felder,%201860&searchType=species Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Thu mẫu cơn trùng bằng phương pháp vợt - BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ CÔN TRÙNG TỈNH BẮC KẠN
Hình 1 Thu mẫu cơn trùng bằng phương pháp vợt (Trang 7)
lồi hình thái (Reconizable Taxonomic Units – RTUs), bởi theo nguyên tắc xử lý số liệu để xây dựng các chỉ số, tất cả các taxon phải đếm được số lượng mẫu tương ứng - BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ CÔN TRÙNG TỈNH BẮC KẠN
l ồi hình thái (Reconizable Taxonomic Units – RTUs), bởi theo nguyên tắc xử lý số liệu để xây dựng các chỉ số, tất cả các taxon phải đếm được số lượng mẫu tương ứng (Trang 8)
Bảng 1: Số lồi cơn trùng ghi nhận được tại tỉnh Bắc Kạn - BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ CÔN TRÙNG TỈNH BẮC KẠN
Bảng 1 Số lồi cơn trùng ghi nhận được tại tỉnh Bắc Kạn (Trang 13)
Bảng 2. So sánh mức độ đa dạng côn trùng Điểm - BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ CÔN TRÙNG TỈNH BẮC KẠN
Bảng 2. So sánh mức độ đa dạng côn trùng Điểm (Trang 14)
Bảng 3: Các lồi cơn trùng có giá trị bảo tồn tại tỉnh Bắc Kạn TT Tên khoa học Tên Việt Nam SĐVN - BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ CÔN TRÙNG TỈNH BẮC KẠN
Bảng 3 Các lồi cơn trùng có giá trị bảo tồn tại tỉnh Bắc Kạn TT Tên khoa học Tên Việt Nam SĐVN (Trang 15)
Hình 4: Trưởng thành lồi Troides aeacus aeacus (C. & R. Felder, 1860) (con đực) - BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ CÔN TRÙNG TỈNH BẮC KẠN
Hình 4 Trưởng thành lồi Troides aeacus aeacus (C. & R. Felder, 1860) (con đực) (Trang 17)
Hình 6: Trưởng thành đực Hình 7: Trưởng thành cái - BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ CÔN TRÙNG TỈNH BẮC KẠN
Hình 6 Trưởng thành đực Hình 7: Trưởng thành cái (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w