1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỦY SẢN VIỆT NAM THỦY SẢN VIỆT NAM THỦY SẢN VIỆT NAM

32 13 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thủy Sản Việt Nam Thủy Sản Việt Nam Thủy Sản Việt Nam
Trường học Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế thủy sản
Thể loại Báo cáo thực tập hoặc dự án tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 636,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG MỤC LỤC I Giới thiệu chung về thủy sản Việt Nam 2 II Phân tích thủy sản Việt Nam 4 1 Giới thiệu về cung thủy sản 4 a Thực trạng nuôi trồng và khai thác thủy sản hiện nay 4 b Sản l.

Trang 1

PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG

THỊ TRƯỜNG NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM

Trang 2

MỤC LỤC

I Giới thiệu chung về thủy sản Việt Nam……….…… 2

II Phân tích thủy sản Việt Nam……… …… 4

1 Giới thiệu về cung thủy sản……… 4

a Thực trạng nuôi trồng và khai thác thủy sản hiện nay…… 4

b Sản lượng nuôi trồng thủy sản……… 5

c Sản lượng khai thác thủy sản……….7

2 Giới thiệu về cầu thủy sản……….9

a Thực trạng xuất khẩu thủy sản hiện nay………9

b Sản phẩm xuất khẩu……… 10

c Thị trường xuất khẩu……….14

3 Giá thủy sản………17

a Giá tôm……… 17

b Giá cá tra……… 19

4 Độ co giãn của sản phẩm………21

a Giá tôm ở quý III năm 2021……… 21

b Giá cá tra ở quý III năm 2021………22

c Những nguyên nhân dẫn đến lượng tiêu thụ cá, tôm giảm….22 5 Chính sách của chính phủ áp dụng cho thị trường……… 23

a Giá sàn và giá trần………23

Trang 3

b Chính sách thuế……….24

III Xu hướng phát triển của ngành thủy sản Việt Nam trong tương

lai………25

I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THỦY SẢN VIỆT NAM:

Ngoài là đất nước có giàu tài nguyên rừng và khoáng sản thì Việt Nam còn là nước có giàu tài nguyên biển nhất nhì Đông Nam Á, có bờ biển dài 3,260 km và có vùng đặc quyền kinh tế lên đến 1 triệu km vuông, là bờ biển lớn của Thái Bình Dương Bên cạnh đó, nước ta còn được thiên nhiên ưu ái với hệ thống sông ngòi dày đặc và kèm theo khí hậu nhiệt đới gió mùa nên nước ta năm trong tay rất nhiều tiềm năng trong việc phát triển đất nước và mục đích chính ở đây là ngành thủy sản Việt Nam ta sở hữu những loại hải sản đặc trưng và còn là điểm mạnh như: cá tra, cá rô phi, tôm cùng các loài đang có xu hướng tăng như sò và cá biển…

Khó có thể né tránh những ảnh hưởng nặng nề mà Covid-19 mang lại cho thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, mặc dù vậy nhưng ngành thủy sản VN từ đầu năm 2021 đến nay vẫn tiếp tụckhá khả quan Theo Tổng cục Thủy sản (Bộ NN&PTNT), ước tổng sản lượng thủy sản Việt Nam

6 tháng đầu năm 2021 đạt 4,1 triệu tấn (tăng 3% so với cùng kì năm 2020); trong đó sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt hơn 2,1 triệu tấn (tăng 4% so với cùng kì năm 2020) tập trung chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long, sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 2 triệu tấn (tăng 1% so với cùng kì năm 2020) Những tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản ước đạt trên 4

tỷ USD Với sự phát triển và ổn định của ngành thủy sản trong nhiều năm qua đã được xác định

là ngành kinh tế biển then chốt trong nền kinh tế quốc dân Khoảng gần 3 triệu lao động trực tiếp

và gián tiếp đánh bắt thủy sản đã góp phần thúc đẩy ngành thủy sản Việt Nam trên thế giới, đứngthứ 12 trong việc khai thác, đứng thứ 3 về việc nuôi trồng và thứ 7 trong việc xuất khẩu Sau nhiều năm phát triển, thủy sản Việt Nam đã vươn lên đứng thứ 5 cả nước về mặt giá trị xuất khẩusau điện tử, may mặc, dầu thô, giày dép và đứng thứ 4 về mặt kim ngạch xuất khẩu

Trong 6 tháng đầu năm, với tình hình thời tiết khá thuận lợi cho việc đánh bắt và khai thác thủy sản, tuy nhiên đại dịch Covid-19 vẫn đang hoàng hành khó kiểm soát, ảnh hưởng nặng nề đến đời sống, kinh tế, và gây tác động trực tiếp đến hoạt động xuất- nhập khẩu, tiêu thụ thủy sản

Trang 4

Dù vậy, giá trị xuất khẩu thủy sản vẫn tăng trưởng khá mạnh, đạt hơn 1,6 tỷ USD (tăng 15% so với cùng kì năm 2020) Mặt hàng tôm và cá tra là hai mặt hàng chủ lực mà thủy sản nuôi để xuất khẩu ra thị trường quốc tế Riêng mặt hàng tôm, Việt Nam xuất khẩu đến hơn 100 quốc gia trong

đó EU, Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc là 4 thị trường xuất khẩu chính Sản phẩm cá tra Việt Nam

có các thị trường xuất khẩu chính là Trung Quốc, Mỹ, EU và ASEAN Việt Nam xuất khẩu thủy sản sang hơn 160 thị trường trên thế giới; trong đó xuất khẩu nhiều sang các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc, Hàn Quốc Trong những năm gần đây, việc xuất khẩu sang Trung Quốc tăng trưởng mạnh nhất, ASEAN và Hàn Quốc ổn định, sang Nhật Bản và Mỹ cũng tăng trưởng khả quan nhưng sang EU bị chậm lại

Ngành thủy sản đã mang lại nhiều kết quả tích cực, thúc đẩy việc tăng trưởng và gây dựng nên nhiều mặt trong giá trị kinh tế, nhưng bên cạnh đó cũng có tồn tại một số khó khăn, chẳng hạn: quy mô sản xuất chưa phù hợp, vốn đầu tư còn gặp nhiều khó khăn, chính sách phát triển thủy sản còn hạn chế, việc khai thác trái phép ở các vùng biển nước ngoài vẫn còn diễn ra phức tạp…Cơn đại dịch bùng phát làm ảnh hưởng không những đến thị trường tiêu thụ mà còn đến giá cả sản phẩm thủy sản Thị trường tiêu thụ trong nước giảm, thị trường Trung Quốc cũng hạn chế nhập khẩu sản phẩm thủy sản để tránh tình trạng lây lan, giá cả giảm xuống so với những năm khác gây ra nhiều khó khăn cho hoạt động khai thác thủy sản Các vấn đề liên quan đến cảnh báo

“Thẻ vàng”, các khuyến nghị, xác nhận và chứng nhận nguồn gốc xuất xứ của hải sản vào các thịtrường châu Âu tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động đánh bắt và xuất khẩu hải sản của chúng ta Mặc dù các tiến bộ kỹ thuật và ứng dụng thực tiễn trong thủy sản đang dần được cải thiện đặc biệt là trong lĩnh vực bảo quản sản phẩm, giảm việc tổn thất sau thu hoặc nhưng vẫn còn chậm

và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển hiện nay Lối sống và tác phong của ngư dân chậm thayđổi, không bắt kịp với sự hiện đại hóa của ngành khai thác thủy sản

Không những sản xuất và xuất khẩu thủy sản của nước ta có mặt trên mọi miền Tổ Quốc với nhiều loại thủy sản mà còn có thể chia thành 5 vùng xuất khẩu chính như sau:

- Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung: thế mạnh là lợi ích nuôi trồng thủy sản nước lợ, đặc biệt hơn nữa là đối với một số loại có chủ yếu đặc trưng như tôm các loại, sò huyết, bào ngư…

Trang 5

- Vùng ven biển Nam Trung Bộ: nuôi trồng thủy sản nước lợ, một số loại chính như: cá rô phi, tôm các loại…

- Vùng Đông Nam Bộ: chủ yếu là các loài thủy sản nước ngọt và thủy sản nước lợ

- Vùng ven biển ĐBSCL: nuôi trồng thủy sản trên tất cả các loại mặt nước, chủ yếu là tôm, các tra, ba sa, nhuyễn thể và một số loại cá biển

- Các tỉnh nội thành: thuận lợi cho việc nuôi trồng các loại hải sản nước ngọt như các tra, cá

rô phi, cá chép…

II PHÂN TÍCH THỦY SẢN VIỆT NAM:

1 Giới thiệu về cung thủy sản:

a Thực trạng nuôi trồng và khai thác thủy sản hiện nay:

Về ngành khai thác thủy sản và nuôi trồng ở Việt Nam nước ta là rất vô cùng phong phú và đa dạng chúng ta có rất nhiều tiềm năng để phát huy các thế mạnh và đang từng bước một để có thểphát triển mạnh mẽ trên các lĩnh vực như đánh bắt, khai thác, nuôi trồng, chế biến…

Theo như số liệu được tham khảo, diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh đạt 19.500 ha, trong đó,nước ngọt là 14.110 , nước mặn 5,350 ha…Thống kê hằng năm của sản lượng khai thác và nuôi trồng tổng cộng lại là 187.000 tấn với lượng khai thác 130.000 tấn và nuôi trồng 57.000 tấn Hai lại tiềm năng trên lại đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc cung cấp nguồn nguyên liệu chohơn 1000 cơ sở chế biến thủy sản hiện vẫn đang hoạt động tại các địa phương ven biển và 81 doanh nghiệp , kinh doanh xuất khẩu thủy sản

Có được tiềm năng dồi dào và lợi thế to lớn này, thế nhưng chúng ta vẫn phải đối mặt với thách thức lớn trong phát triển thủy sản là hạ tầng ở nơi cảng cá,khu neo đậu tránh trú thiên tai,….đã

và đang hiện nay bị quá tải quá mức so với năng lực tàu cá trong tỉnh Những khó khăn này tưởng chừng có thể dễ dàng khắc phục hiện đang gây cản trở cho việc tàu ra cảng, hạn chế hiệu quả khai thác,… Hình thức nuôi trồng với năng suất thấp do hệ thống cấp nước, không có điện cho vùng nuôi cũng là một trong những khó khăn cần phải được quan tâm và khắc phục hạn chế khi phát triển nuôi thâm canh Có một vài địa phương ở những vùng ven biển đã lên dự án là sẽ

Trang 6

chuyển đổi diện tích vùng trồng lúa bị nhiễm mặn, kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản nước

lợ nhưng nguồn vốn để đầu tư hạ tầng và thiết bị không đủ chi trả

Hiện nay, cũng vì dịch bệnh Covid-19 mà nền kinh tế nước ta nói chung và kinh tế thủy sản nói riêng cũng bị ảnh hưởng Theo thống kê của tỉnh, nhiều tàu bè đã phải ngưng không hoạt động sản xuất trong 3 tháng dạo gần đây là 43.200 tàu, tương đương 4.6% cường lực khai thác Khôngchỉ riêng việc dừng hoạt động khai thác mà mà việc không đủ lực lượng lao động cũng làm giảm

đi chất lượng của việc khai thác Tính đến đầu tháng 9, số người lao động chưa được tiêm đủ vacxin còn rất thấp, chỉ có hơn 1 triệu lao động trực tiếp có thể tiếp tục công việc của mình.Tóm lại ngành nuôi trồng và khai thác thủy sản này là một tiềm năng vô cùng dồi dào để khai thác nhưng vẫn còn gặp khá nhiều trắc trở, khó khăn như hiện nay Cơ sở hậu cần nghề cá, ứng dụng tiến bộ thiết bị công nghệ, kỹ thuật ở lĩnh vực khai thác từng bước cải thiện và giảm tổn thiệt hại và chi phí nhưng còn chậm và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển

b Sản lượng nuôi trồng thủy sản:

Từ 2018- 2020 : Sản lượng nuôi trồng thủy sản của Việt Nam giảm 2,6 lần, tăng trưởng trung bình hàng năm từ 4150 nghìn tấn lên đến 4560 nghìn tấn Nuôi trồng thủy sản đáp ứng cho xuất khẩu tập trung chủ yếu ở ĐBSCL (chiếm 95% là tổng sản lượng cá tra và 80% sản lượng tôm).Trong các tháng đầu năm 2020 về nuôi trồng thủy sản ,do gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh Covid-19 nên việc triển khai sản xuất tôm nước lợ gặp nhiều khó khăn kèm theo cảm trở của tìnhhình xâm nhập mặn tại các vùng nuôi chủ lực, dẫn đến các sản lượng tôm nước lợ, đặc biệt là đốitượng tôm sú đang có nguy cơ bị sụt giảm Đến các tháng cuối của năm 2020, khi dịch bệnh được khống chế thì đồng nghĩa với việc tình hình sản xuất tôm nước lợ đã có dấu hiệu đáng kể phục hồi, nhờ vậy việc xuất khẩu mặt hàng tôm nước lợ đã được khôi phục nên sản lượng tôm nước lợ tăng trưởng khá ổn, tổng sản lượng vượt qua kế hoạch năm 2020 đã đề ra của chính phủ Năm 2020, tổng sản lượng tôm nuôi đạt cột mốc khá ấn tượng 950.000 tấn Trong đó phải kể đến là tôm sú đạt 267,7 nghìn tấn, tăng 1%; tôm thẻ chân trắng 632,3 nghìn tấn, tăng 8,5% so vớicùng kỳ, loại tôm khác đạt 50.000 tấn

Trang 7

(Theo Tổng cục thông kê)

Đối với mặt hàng cá tra, bắt đầu xu hướng giảm từ tháng 3/2019 đến nay sau 2 năm liên tiếp đạt

được những thành tựu tăng trưởng cao Khi thế giới áp dụng lệnh cách ly do dịch bệnh với đặc

thù các dòng sản phẩm cá tra là food-service nhưng vì dịch bệnh nên đóng cửa hàng loạt cửa

hàng, trường học và điều đáng chú ý ở đây khi Trung Quốc thông báo đã tìm thấy virus Corona

trên bao bì các loại sản phẩm đông lạnh, thì đồng nghĩa với việc kim ngạch xuất khẩu cá tra càng

giảm mạnh Và còn hơn thế nữa, tình hình xâm nhập mặn kéo dài từ đầu năm đến hết tháng

5/2020 đã làm giảm hiệu suất sản xuất do tỉ lệ hao hụt từ công đoạn giống lên thương phẩm cao

Mặc dù vậy, nhưng đến các tháng cuối năm 2020, có sự chuyển biến tích cực của dịch bệnh, sự

SẢN LƯỢNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN VIỆT NAM

TỪ 2018-2020

Nuôi trồng (nghìn tấn) % tăng trưởng

Trang 8

phục hồi của các thị trường nhập khẩu cùng sự nỗ lực của các doanh nghiệp, bà con nông dân

nuôi cá nên sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cá tra đã có những chuyển biến tích cực đáng kể

Sản lượng cá tra năm 2020 ước đạt 1.560.000 tấn (bằng 96,9% so với cùng kỳ)

c Sản lượng khai thác thủy sản:

SẢN LƯỢNG KHAI THÁC THỦY SẢN VIỆT NAM

TỪ 2018-2020

Khai thác (nghìn tấn) % tăng trưởng

Trang 9

Khai thái thủy sản thủy sản là một trong những hoạt động đánh bắt cổ xưa nhất của loài người nóđược xuất hiện ở thời kì đồ đá cũ và đã được phát triển thành một loại hình kinh tế ở thời kì đồ

đá mới Khai thác thủy sản ngày càng được đa dạng và phát triển mạnh, các kĩ thuật về khai thác thủy sản dần trở nên tiến bộ và các quy mô dần được mở rộng hơn

Khai thác thủy sản thời xưa được quản lý theo mô hình hợp tác xã và các tập đoàn sản xuất, lợi ích đối với người sản xuất nhỏ bé và hiệu quả sản xuất còn thấp Nhưng thời nay các chính sách khai thác thủy sản được đổi mới, ngành khai thác đã có sự tăng trưởng mạnh về số lượng, kích thước của tàu thuyền Với những đổi mới trên đã góp phần đưa ngành khai thác thủy sản trở thành ngành kinh tế quan trọng của cả nước, tổng kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng lên không ngừng.Việt Nam là nước có bờ biển trải dài, nên nguồn thủy hải sản cũng từ đó mà rất dồi dào, nên sản lượng khai thác có giới hạn cho phép là 2.2 triệu tấn/năm Trong khi đó, nguồn lợi khai thác thủysản xa bờ có trữ lượng 1.5 triệu tấn/năm

Việt Nam cũng có một số vùng biển tiềm năng có lượng thủy sản phong phú dồi dào như: vùng biển Vịnh Bắc Bộ, vùng biển Trung Bộ, vùng biển Đông Nam Bộ, vùng biển Tây Nam Bộ, vùng biển Đông, các vùng biển trên đã trường tồn và được phát triển từ lâu đời

* Dưới đây là một số thông tin cơ bản về khai thác thủy sản:

- Tính đến năm 2020 toàn quốc có tổng cộng 94.572 tàu cá Trong đó: 45.950 tàu dài 8-12m, 18.425 tàu dài 12-15m, 27.575 tàu dài 15-24m, 2.662 tàu dài >24m Cả nước có 4.227 tổ đội hoạtđộng với 29.588 tàu cá, 176.601 lao động trên biển

- Nghề lưới kéo 17.078 tàu, chiếm 18.1%; nghề lưới vây 7.212 tàu, chiếm 7.6%; nghề lưới rê 33.532, chiếm 35.5%; nghề câu 16.043 tàu, chiếm 17%; nghề khác 17.543 tàu, chiếm 18.5%; tàu dịch vụ hậu cần 3.158 chiếc, chiếm 3.3%

Từ những thông kê đó ta thấy, việc khai thác thủy hải sản chủ yếu của ngư dân được tập trung khai nhiều tại các vùng biển miền Nam Trung Bộ và Đông, Tây Nam Bộ với các nghề khai thác chính như: chụp, vây, lưới rê, các pha xúc khai thác cá nổi và đây cũng là thời điểm của vụ cá Bắc Cũng do chịu ảnh hưởng của việc thay đổi thời tiết, áp thấp nhiệt đới và các ơn bảo ở vùng biển miền Trung nên làm ảnh hưởng khá nhiều đến việc khai thác thủy sản của ngư dân trên biển Do ảnh hưởng của khí hậu nên số lượng tàu ra đánh bắt không nhiều, số lượng tàu cá phải

Trang 10

neo đậu tại cảng khá lớn, chiếm khoảng 30% - 40% tổng số tàu cá khai thác vùng lộng và vùng khơi, những năm gần đây cũng do dịch Covid 19 nên cũng có một số cảng cá bị phong toả nên xảy ra vấn đề tàu cá nằm bờ, dẫn đến sản lượng khai thác giảm thấp.

Các cảng gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện quy định 03 tại chỗ trong phòng chống dịch Covid 19; một số chợ, bến, cảng bị phong tỏa dẫn đến các hệ trạng tàu khai thác thủy sản không nơi bốc dỡ hàng hóa, tiêu thụ thủy sản, thiếu lượng thực, thực phẩm và một số nhu yếu phẩm khác…, một số tàu cá thua lỗ nặng, nên nằm bờ không khai thác

2 Giới thiệu về cầu thủy sản:

a Thực trạng xuất khẩu thủy sản hiện nay:

Trong nhiều năm qua, Việt Nam là nước xuất khẩu thủy sản lớn đứng thứ 3 thế giới, sau Trung Quốc và Na Uy Theo tổng cục Hải Quan, giá trị xuất khẩu thủy sản của nước ta tăng dần lên theo từng năm trong giai đoạn 2019-2020 Trong ngành thủy sản, có 3 nhóm sản phẩm chủ lực luôn tạo ra giá trị xuất khẩu cao nhất: tôm, cá và hải sản

Vì dịch bệnh Covid-19 diễn ra, năm 2020 đối với ngành thủy sản là vô cùng khó khăn, nhưng kim ngạch cả năm vẫn đạt 8.4 tỷ USD, giảm 1.9% so với năm 2019 Tôm là mặt hàng thủy sản sản xuất có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất trong năm 2020 đặt 3.7 tỷ USD, tăng 11% so với cùng

kỳ năm 2019 Là một thành tựu đáng được ghi nhận đối với ngành thủy sản Việt Nam trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến còn đang phức tạp ở các nước khác như Hoa kỳ, Nhật Bản, EU là những thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam

Trong 3 tháng đầu của năm 2020, giá trị xuất khẩu chỉ đạt 1.59 tỷ USD, giảm 11% so với cùng

kỳ năm 2019 Tuy nhiên, sản xuất và xuất khẩu thủy sản nước ta từng bước phục hồi trong 3 quý tiếp theo do các nhà sản xuất đã có những biện pháp phản ứng tức thời, nhu cầu các nước được phục hồi trở lại Giá trị xuất khẩu ở tháng 12 gấp khoảng 1.4 lần so với tháng 3 và tăng 3.3% so với cùng kỳ năm 2019 Những nỗ lực của các doanh nghiệp, hiệp hội VASEP và cùng với các cơquan quản lý đã giúp xuất khẩu thủy sản nước ta trong giai đoạn khó khăn và đạt được 8.4 tỷ USD trong năm 2020

Còn theo thống kê, sản xuất và xuất khẩu tôm từ nửa cuối tháng 9/2021 đến nay đã có dấu hiệu tích cực hơn, tổng giá trị xuất khẩu cá tra Việt Nam đạt 1.07 tỷ USD, tăng 3.2% so với cùng kỳ

Trang 11

năm ngoái Thủy sản của Việt Nam đã có mặt ở hơn 170 quốc gia và các vùng lãnh thổ trải dài khắp các châu lục Xuất khẩu tôm Việt Nam sang Mỹ trong tháng 9/2021 phục hồi nhẹ, tăng 8%

và đạt 97.6 triệu USD Còn xuất khẩu tôm Việt Nam sang EU trong cùng tháng 9/2021 giảm 15% so với cùng kỳ năm trước, chỉ đạt 48.8 triệu USD Mặc dù giảm nhưng tốc độ giảm đã thấp hơn so với hồi kỳ tháng 8 Lũy kế 9 tháng đầu năm nay, xuất khẩu tôm sang thị trường EU này đạt gần 408 triệu USD, tăng 10% so với cùng kỳ Theo hiệp hối chế biến và xuất khẩu thủy sản VASEP, trong 3 tháng cuối năm, xuất khẩu thủy sản Việt Nam vẫn chưa thoát được cơn khủng hoảng do nhu cầu giảm, do sản xuất bị ảnh hưởng khiến nguyên liệu chế biến giảm

Đối với cá basa phi lê đông lạnh và tôm sú: những nước như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Thái Lan, làcác quốc gia nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam Đặc biệt là việc mức thuế suất đối với mặt hàng

cá của các quốc gia này đối với Việt Nam rất ưu đãi, thấp nhất là 0% Còn xét về thị trường xuất khẩu có mức ưu đãi thuế lớn đối với tôm của Việt Nam với mức thuế cũng là 0% Đối với các thịtrường này, nước ta vẫn có thể tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu, đặt biệt là trong thời kì đại dịch Covid-19 này, doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cần phải thay đổi chiến lược xuất khẩu để tăng cường khai thác tối đa các thị trường truyền thông trên

b Sản phẩm xuất khẩu:

Với tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp như hiện nay, có thể thấy việc xuất nhập khẩu trở nênkhó khăn hơn trước trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Nhưng khi dịch bệnh đã được kiểm soát ổn định hơn thì việc xuất và nhập khẩu có nước ta có phần diễn biến tích cực và các mặt hàng được xuất khẩu 2020 phải kể đến 2 loại mặt hàng đóng góp không nhỏ cho ngành thủy sản nước ta đó là tôm và cá tra

Trang 12

 Xuất khẩu tôm:

Tôm, mặt hàng đóng vai trò đại diện cho ngành xuất khẩu thủy sản Việt Nam ta Hằng năm luôn

đóng góp hơn 40% kim ngạch xuất khẩu của cả ngành thủy sản Vào năm 2020, ngành sản xuất

tôm Việt Nam đã tìm được lối thoát nguy, phải kể đến trong bối cạnh không mấy được suôn sẻ

thì ngành tôm vẫn đạt được kết quả đáng khích lệ Ước kim ngạch xuất khẩu tôm 2020 đạt

ngưỡng 3,697% tỷ USD , tăng 10,9% so với năm 2019

Trang 13

Theo tính toán số liệu từ Tổng cục Hải quan, năm 2020, xuất khẩu tôm của Việt Nam đạt ngưỡng411,28 nghìn tấn, có trị giá 3,69 tỷ USD và tăng 6,72% về lượng, tăng11,07% về trị giá so với năm 2019.

Theo cái nhìn tổng quan, năm 2020 được đánh giá là một năm thành công và đầy may mắn với ngành tôm Việt Nam, đáng nói khi đã tận dụng triệt để những lợi thế từ FTA song và đa phương

ở những thị trường lớn và đầy nghiêm ngặc để giữ vững phong độ duy trì và tăng thị phần trong hoàn cảnh nguồn cung và nhu cầu nhập khẩu tôm thế giới chịu tác động không nhỏ từ đại dịch Covid-19

Covid-19 đã khiến cho xu hướng tiêu dùng và nhập khẩu tôm của toàn thế giới vào năm 2020 có nhiều biến đổi Các sản phẩm tôm cỡ trung bình và nhỏ ở dạng đông lạnh, đóng hộp tiện dụng đang dần trở nên phổ biến, chính vì vậy nên nhu cầu tôm tươi sống phục vụ cho các quán ăn, nhà hàng dịch vụ giảm mạnh đáng buồn Phải kể đến, vào năm 2020, xuất khẩu tôm của Việt Nam sang các thị trường Mỹ, EU, Anh, Canada, Úc, Hồng Kông, Nga, Thụy Sỹ tăng nhiều so với cùng kì năm ngoái Trong khi đó xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, Đài Loan và Trung Quốc và cuối cùng là các nước ASEAN giảm

Mỹ là thị trường xuất khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam năm 2020 đã đạt được thành tích 81,4 nghìn tấn, trị giá 866,6 triệu USD, tăng 29,41% về lượng và tăng 32,88% về trị giá so với năm 2019

Xuất khẩu tôm sang thị trường EU đã có diễn biến tích cực và tăng trở lại sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực kể từ ngày 01/08/2020, trước đã giảm suốt 7 tháng đầu năm 2020 Điều này cho thấy, các doanh nghiệp xuất khẩu tôm của Việt Nam ta đã tận dụng rất tốt và đem lại hiểu quả vô cùng lớn từ những ưu đãi từ Hiệp định này

Mặc dù, bên cạnh các thị trường tăng trưởng khá ổn định, VASEP cũng cho biết việc xuất khẩu tôm Việt Nam sang các quốc gia ASEAN lại có sự giảm hơi tương đối Phải kể đến, Xin-ga-po

và Cam-pu-chia là hai thị trường đơn lẻ nhập khẩu tôm của nước ta lớn nhất trong khối ASEAN, lần lượt chiếm 48% và 19% tổng kim ngạch xuất khẩu tôm Việt Nam sang ASEAN Về mặt hàng sản phẩm, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang ASEAN các mặt hàng như là tôm chân trắng tươi đông lạnh, tôm chân trắng lột vỏ còn đuôi đông lạnh, tôm thẻ tẩm bột đông lạnh, tôm chân trắng lột vỏ bỏ đầu chừa đuôi đông lạnh, tôm viên phô-mai tẩm bột…

Trang 14

Nhìn theo cách khách quan ngành xuất khẩu tôm Việt Nam sang ASEAN từ đầu năm 2020 đến nay trên đà không ổn định, chỉ tăng trưởng dương trong các tháng 2, 3 và 4-2020; các tháng còn lại đều khá giảm Trong khi đó, tôm xuất khẩu sang Cam-pu-chia lại tăng đột biến so với cùng kỳnăm ngoái Nguyên nhân được cho là do ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19 cho nên doanh nghiệp chọn xuất theo đường chính ngạch nhiều hơn thay vì xuất theo đường biên mậu như trước kia.Như vậy, trong một năm đầy biến động về thị trường và ảnh hưởng của dịch bệnh không đáng cónối tiếp nhau, cùng với ngành nông nghiệp và thủy sản vẫn cơ bản duy trì được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trong đó phải kể đến ngành tôm đã thật sự là điểm sáng điểm ấn tượng trong xuất khẩu thủy, hải sản và kết quả tốt đẹp ấy trước hết là nhờ 1 phần công lao không nhỏ, một sự

nỗ lực lớn của các doanh nghiệp nuôi trồng và chế biến tôm xuất khẩu Việt Nam đã năng động tìm kiếm, đa dạng hóa các thị trường, tận dụng những cơ hội từ những thay đổi tạo ra trên thị trường do dịch bệnh, đa dạng hóa các sản phẩm phù hợp từng khu vực khác nhau để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa ra thị trường trong khu vực và quốc tế

 Xuất khẩu cá tra:

Về mặt hàng còn lại đó là cá tra đã được nuôi và phát triển chủ yếu ở 10 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long của nước ta, bao gồm: An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Bến Tre, Hậu Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, và các tỉnh Tây Ninh và Quảng Nam

Các tỉnh Cần Thơ, An Giang và Đồng Tháp là những vùng nuôi cá tra lớn nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long, chiếm hơn 75% tổng sản lượng cá tra trên toàn cả nước

Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản, năm 2020, tổng diện tích thả nuôi cá tra của ĐBSCL ước đạt 5.700 ha và tổng sản lượng thu hoạch ước đạt 1,56 triệu tấn

Vào năm 2020, sản xuất giống cá tra tại các địa phương vùng ĐBSCL luôn luôn ổn định Toàn vùng ĐBSCL có khoảng chừng 120 cơ sở sản xuất giống cá tra (cơ sở có nuôi giữ đàn cá tra bố mẹ), gần 4.000 ha ương dưỡng cá tra giống; sản xuất được khoảng 2 tỷ cá tra giống (bằng 100%

so với năm 2019); sản xuất được khoảng 2 tỷ cá tra đã thay thế 60.000 nghìn con cá bố mẹ chọn giống, do đó chất lượng con giống cá tra đã từng bước từng bước cơ bản được cải thiện

Các sản phẩm cá tra được sản xuất tuân thủ các tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế và an toàn thực phẩm nghiêm ngặt như ASC và BAP, Global GAP…

Trang 15

Cá tra ngày càng phổ biến trên thế giới nhờ giá trị dinh dưỡng đóng góp to lớn của nó Năm

2020, Việt Nam xuất khẩu cá tra sang hơn 138 thị trường Top 8 thị trường chính gồm: Trung Quốc - Hồng Kông, Mỹ, ASEAN, EU, Anh, Mexico, Brazil và Colombia và chiếm hơn 80,4% tổng giá trị xuất khẩu

c Thị trường xuất khẩu:

Việt Nam là nước xuất khẩu thủy sản sang hơn 160 thị trường trên thế giới Nhưng trong đó có

10 thị trường như: Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN, Australia, Anh, Canada,Nga, chiếm khoảng 92-93% tổng xuất khẩu thủy sản Việt Nam

Trong đó có 6 thị trường lớn mà Việt Nam xuất khẩu ( Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và ASEAN), nhưng trong thời gian gần đây việc xuất khẩu sang EU bị chững lại, xuất khẩu sang ASEAN, Hàn Quốc ổn định, trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc lại tăng trưởng mạnh nhất, còn việc xuất khẩu sang Mỹ, Nhật Bản cũng đang duy trì tăng trưởng khả quan Các sản phẩm được Việt Nam xuất khẩu chủ yếu là tôm, cá tra, các loại hải sản khác

Trang 16

Thị trường xuất khẩu của Mỹ chiếm 19.3% trong tổng sản lượng xuất khẩu của Việt Nam Từ

khi Hiệp định thương mại Việt Nam- Mỹ được ký kết vào năm 2000, thì cơ cấu hàng hóa xuất

khẩu của Việt Nam đã thay đổi đáng kể Trước đây, Việt Nam sẽ xuất khẩu chủ yếu vào Mỹ các

nhóm hàng như: dệt may, da giày, Thì bây giờ đã có thêm các nhóm hàng như: hàng nông,

thủy, hải sản và tham gia vào danh mục các nhóm hàng xuất khẩu quan trọng Đơn cử như mặt

hàng cá tra, Việt Nam có thể cạnh tranh ngang bằng với nhóm sản xuất hàng đầu về việc đáp ứng

quy trình sản xuất về những quy định khắt khe của Mỹ Hay xuất khẩu mặt hàng tôm, nếu Việt

Nam biết tận dụng tốt cơ hội thì mặt hàng tôm có thể vươn lên trên các đối thủ khác và giành

được ưu thế gia tăng thị phần tại đây Năm 2020, việc xuất khẩu thủy sản sang Mỹ trưởng mạnh

với mức tăng cao hơn qua các tháng, lũy kế 11 tháng năm 2020, xuất khẩu thị trường này đạt trên

Ngày đăng: 29/11/2022, 21:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w