BÀI TẬP NHÓM Học phần Kỹ năng tư vấn pháp luật (BSL2026 1) Giảng viên TS Trần Trí Trung Bài tập Kỹ năng trong xây dựng phương án tư vấn pháp luật Bố cục bài làm Các kỹ năng cần thiết trong giai đoạn n.
Trang 1BÀI TẬP NHÓM Học phần: Kỹ năng tư vấn pháp luật (BSL2026-1)
Giảng viên: TS Trần Trí Trung Bài tập: Kỹ năng trong xây dựng phương án tư vấn pháp luật.
Bố cục bài làm:
I. Các kỹ năng cần thiết trong giai đoạn nghiên cứu hồ sơ, tiếp
nhận vấn đề pháp lý 3
1 Xác định đúng vấn đề cần tư vấn về phạm vi ngành, lĩnh vực, quan hệ pháp luật cần tư vấn: 3
2 Nắm bắt được mong muốn của người yêu cầu tư vấn: 4
II. Kỹ năng trong việc xác định nhân thân của người yêu cầu tư vấn
5 1 Xác định tình trạng pháp lý của các chủ thể: 5
2 Phân loại nhóm người yêu cầu tư vấn để xây dựng phương án TVPL phù hợp:
6 III.Kỹ năng phân tích, chia nhỏ vấn đề pháp lý 9
1 Định nghĩa 9
2 Các vấn đề cần quan tâm khi phân tích, chia nhỏ câu hỏi pháp lý 9
3 Các căn cứ để phân tích 10
Trang 2IV.Kỹ năng đánh giá, cân đối lợi ích và chi phí của phương án TVPL 10
V. Kỹ năng cần thiết trong giai đoạn thực hiện phương án tư vấn 12
1 Kỹ năng ứng phó các biến cố khách quan: 12
2 Kỹ năng đánh giá kết quả của phương án tư vấn: 13
I Các kỹ năng cần thiết trong giai đoạn nghiên cứu hồ sơ, tiếp nhận vấn đề
pháp lý:
1 Xác định đúng vấn đề cần tư vấn về phạm vi ngành lĩnh vực, quan hệ pháp luật cần tư vấn:
Người tư vấn phải lắng nghe người yêu cần tư vấn trình bày và ghi chép đầy đủ nội dung chính, ý chính, trên cơ sở đó đặt câu hỏi để làm rõ thêm.
Thông thường, lần đầu tiên tiếp xúc, người tư vấn chưa thể nắm bắt một cách chắc chắn bản chất của sự việc đó hơn nữa, người yêu cầu tư vấn thường trình bày theo
ý chủ quan và bỏ qua nhiều chi tiết Vì vậy, người tư vấn cần gợi ý những vấn đề
để người yêu cầu tư vấn trình bày đúng bản chất của vụ việc Người tư vấn tư vấn nên lưu ý người yêu cầu tư vấn, chỉ có thể đưa ra giải pháp chính xác, đầy đủ và đúng pháp luật nếu người yêu cầu tư vấn trình bày vấn đề trung thực và khách quan
Trước hết, người tư vấn đối chiếu lời trình bày của người yêu cầu tư vấn với các tài liệu họ cung cấp Sau đó đánh giá, phân tích hồ sơ để xác định rõ phạm vi lĩnh vực
và mối quan hệ pháp luật giữa các chủ thể có liên quan
Người tư vấn phải dành thời gian để đọc hết các giấy tờ, tài liệu, văn bản có liên quan đó Đối với các tài liệu bằng tiếng nước ngoài nhất thiết phải được dịch ra
tiếng Việt để hiểu đúng nghĩa của từ đó Lúc này Người tư vấn cần vận dụng kỹ
Trang 3năng đọc và phân bổ các chi tiết, các câu hỏi pháp lý để trả lời vấn đề nào là cần
lưu ý trước vấn đề nào là mấu chốt để giải đáp vấn đề pháp lý đang được đặt ra
(Kỹ năng phân tích và chia nhỏ sẽ được nói rõ hơn ở phần III)
Khi tiếp xúc với người yêu cầu tư vấn, người tư vấn phải hết sức chú ý lắng nghe người yêu cầu tư vấn nói, tỉnh táo phân tích để nắm được bản chất của vấn đề, khéo léo gợi mở đặt câu hỏi, nói chuyện để lấy được nhiều thông tin chính xác
nhất
Các câu hỏi mà luật sư đặt ra cần hướng tới việc làm sáng tỏ các nội dung cơ bản sau: Đâu là quan hệ pháp lý chủ yếu cần quan tâm nhất và cần được tập trung giải quyết? Còn các quan hệ khác có mối quan hệ với quan hệ pháp lý mấu chốt như thế nào? Các mối quan hệ pháp luật đó thường có tính liên hệ logic với nhau, có thể một tình tiết để sâu chuỗi các quan hệ pháp luật với nhau
Ngoài ra, trong hoạt động tư vấn pháp luật, quá trình thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ cũng như vấn đề cần tư vấn để sau đó đưa ra một giải pháp cho người yêu cầu tư vấn là một hoạt động hết sức quan trọng Phương án người tư vấn đưa
ra phải đáp ứng được yêu cầu là chính xác, hiệu quả, kịp thời
2 Nắm bắt được mong muốn của Người yêu cầu tư vấn:
Người tư vấn phải đưa ra những câu hỏi mấu chốt để có thể tìm hiểu được mong muốn của Người yêu cầu tư vấn, bởi mục đích của buổi tiếp xúc Người yêu cầu tư vấn là tiếp nhận đúng mong muốn, yêu cầu tư vấn của Người yêu cầu tư vấn Và việc hiểu mong muốn Người yêu cầu tư vấn cũng là giúp cho Người tư vấn dự liệu, ước lượng được các công việc có thể phải thực hiện khi chỉnh thức cung cấp dịch vụ pháp lý cho Người yêu cầu tư vấn, đồng thời xác định xem mong muốn, nguyện vọng thực sự của Người yêu cầu tư vấn Người tư vấn có thể đáp ứng hay không
Ngoài ra, chúng ta cũng cần lưu ý một vài điểm khi tiếp xúc, tư vấn cho Người yêu cầu tư vấn và tìm hiểu nhu cầu của họ.
Thứ nhất, đó là phải biết xem xét các mối quan hệ về lợi ích của đương sự
với Người yêu cầu tư vấn mà mình đang tư vấn giúp họ: không chỉ có Người yêu
Trang 4cầu tư vấn được lựa chọn Người tư vấn, mà Người tư vấn trong những trường hợp cần thiết cũng có quyền lựa chọn Người yêu cầu tư vấn của mình, trước mỗi vụ việc, thông qua xem xét các mối quan hệ về lợi ích của đương sự với Người yêu cầu tư vấn mà lợi ích của họ trái ngược nhau hay không? Trường hợp phát sinh mâu thuẫn thì Người tư vấn phải xử lý như thế nào? Nếu nhận vụ việc của Người yêu cầu tư vấn thì có vi phạm đạo đức nghề nghiệp không? Nếu mình bảo vệ cho Người yêu cầu tư vấn thì có làm trái quy định của pháp luật không? …Làm tốt vấn
đề này sẽ giúp Người tư vấn giữ được uy tín nghề nghiệp, mang lại niềm tin cho Người yêu cầu tư vấn
Thứ hai, những vấn đề Người tư vấn cần phải xác định được trước khi nhận
tư vấn cho Người yêu cầu tư vấn: Yêu cầu tư vấn của Người yêu cầu tư vấn có mâu thuẫn, tranh chấp với Người yêu cầu tư vấn khác mà Người tư vấn đang tư vấn hay không? Yêu cầu tư vấn của Người yêu cầu tư vấn là hợp pháp hay bất hợp pháp? Chúng ta sẽ không tư vấn cho hai người có quyền lợi mâu thuẫn với nhau trong cùng một vụ việc và không thuộc trường hợp quy định tại điều 9 khoản 1
Luật Người tư vấn.(…cung cấp dịch vụ pháp lý cho Người yêu cầu tư vấn có quyền lợi đối lập nhau trong cùng vụ án; Cố ý cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật; xúi giục người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đương sự khai sai sự thật hoặc xúi giục Người yêu cầu tư vấn khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện trái pháp luật; Tiết lộ thông tin về vụ, việc, về Người yêu cầu tư vấn mà mình biết được trong khi thi hành nghề, trừ trường hợp được Người yêu cầu tư vấn đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; Sách nhiễu, lừa dối Người yêu cầu tư vấn;…).
II Kỹ năng trong việc xác định nhân thân của người yêu cầu tư vấn:
1 Xác định tình trạng pháp lý của các chủ thể:
Tình trạng pháp lý hay nói cách khác là tư cách pháp lý là tư cách của cá nhân, pháp nhân, tổ chức hay các chủ thể khác khi tham gia vào một hoặc nhiều quan hệ pháp luật tư vấn nhất định…
Mỗi chủ thể khi tham gia một quan hệ xã hội nói chung hay một quan hệ pháp lý nói riêng đều có tư cách nhất định Do vậy, khi tiếp cận vấn đề Tư cách pháp lý cũng chính là địa vị pháp lý của chủ thể tham gia quan hệ là bước đầu để nắm bắt được vị trí, vai trò của chủ thể đó trong quan hệ mà họ tham gia
Trang 5 Kỹ năng nắm bắt thông tin về nhân thân, tình trạng của Người yêu cầu tư vấn và các chủ thể liên quan thông quan:
Mỗi Người yêu cầu tư vấn đến gặp Người tư vấn họ đều có những vấn đề
“pháp lý” riêng và Người tư vấn phải là người gợi mở, nắm bắt và hiểu được câu
chuyện pháp lý ấy đã, đang và sẽ diễn ra như thế nào thông qua kỹ năng đặt câu hỏi Nhiều Người yêu cầu tư vấn họ đến để kể và yêu cầu tư vấn của Người tư vấn,
trong khi đó Người yêu cầu tư vấn không biết đâu là thông tin cần thiết, quan trọng cẩn cung cấp cho Người tư vấn Họ có thể lặp đi lặp lại những nhóm thông tin mả
họ cho là quan trọng xong đổi với Người tư vấn những thông tin đó có giá trị thấp hoặc hoàn toàn không có giá trị gì để Người tư vấn có thể sử dụng trong quá trình
tư vấn
Lấy ví dụ: Sau khi xác định rõ vấn đề pháp lý mà người yêu cầu tư vấn cần giải đáp, cần đặt câu hỏi để xác định về nhân thân của người đó Họ đã từng vi phạm gì trong lĩnh vực đó chưa? Có bị xử phạt không? Hình thức và mức độ xử lý như thế nào? Lưu ý số lượng người yêu cầu tư vấn có thể nhiều hơn một người, khi đó các câu hỏi phải hướng đến tất cả các chủ thể có liên quan
2 Phân loại nhóm Người yêu cầu tư vấn để xây dựng phương án TVPL phù hợp:
Thông thường các trường hợp tư vấn pháp luật, các Người yêu cầu tư vấn
đều có nhu cầu tự tìm đến với Người tư vấn (qua lời giới thiệu của bạn bè, qua các phương tiện thông tin đại chúng…) và họ lựa chọn Người tư vấn dựa trên uy tín,
kiến thức chuyên môn và hết sức tin tưởng vào Người tư vấn Tuy vậy, Người tư vấn cũng có quyền lựa chọn Người yêu cầu tư vấn và đây là điểm đầu tiên để quyết định sự thành bại của hoạt động tư vấn Trong khi đó, yêu cầu của Người yêu cầu
tư vấn không giống nhau trong tất cả các vụ việc Vì vậy, nhận biết rõ Người yêu cầu tư vấn của Người tư vấn là ai là một khía cạnh cần quan tâm trong khi tiếp xúc Người yêu cầu tư vấn Người yêu cầu tư vấn của Người tư vấn rất đa dạng, họ có thể là người Việt Nam hoặc người nước ngoài, họ có thể làm việc, công tác ở rất nhiều các ngành nghề, lĩnh vực với đủ các trình độ chuyên môn, nhận thức khác nhau
Trang 6Với mỗi đối tượng Người yêu cầu tư vấn lại mang những đặc điểm tâm lý cũng như trình độ hiểu biết pháp luật, yêu cầu tư vấn hoàn toàn khác nhau Đặc biệt, Người yêu cầu tư vấn đến từ nước ngoài rất khắt khe, họ có những hiểu biết nhất định Do vậy, với mỗi đối tượng nhất định, khi tiếp xúc, Người tư vấn cần có được
kỹ năng, thậm chí có thể gọi là nghệ thuật để nói chuyện, để thuyết phục Người yêu cầu tư vấn tin tưởng, lựa chọn mình
a) Đối với Người yêu cầu tư vấn trong nước:
Thường thì Người yêu cầu tư vấn Việt Nam tìm tới Người tư vấn khi họ đã phát sinh tranh chấp, trình độ hiểu biết pháp luật của người Việt Nam rất hạn chế,
họ lại chuộng hình thức, như các công ty thường mời những Người tư vấn giỏi tư vấn cho mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tham gia đàm phán, ký kết các hợp đồng của công ty và nhất là họ thường có tâm lý ăn thua trong kiện cáo và thường tìm mọi cách để phần thắng thuộc về mình nên khi tiếp xúc với những Người yêu cầu tư vấn này, Người tư vấn phải hết sức chú ý nghe Người yêu cầu tư vấn nói, tỉnh táo phân tích để nắm được bản chất của vấn đề, khéo léo gợi mở đặt câu hỏi, nói chuyện để lấy được nhiều thông tin chính xác nhất Khi tiếp xúc, Người yêu cầu tư vấn thường thể hiện một trong hai khuynh hướng, đó là:
Thứ nhất: nhóm Người yêu cầu tư vấn thường mang nặng suy nghĩ chủ quan
luôn cho là mình đúng Vì vậy khi tiếp xúc với Người tư vấn, Người yêu cầu tư vấn tìm mọi cách để áp đảo, thuyết phục Người tư vấn hiểu như mình, tin theo mình Có trường hợp Người yêu cầu tư vấn đúng, nhưng cũng có nhiều trường hợp Người yêu cầu tư vấn đã chủ quan, ngụy biện, ngộ nhận là mình đúng Với trường hợp này, Người tư vấn cần phải kiên nhẫn thuyết phục Người yêu cầu tư vấn, hướng dẫn học trình bày vấn đề một cách trung thực, phải thuyết phục họ hiểu Người tư vấn chính là bạn họ, người có thể bảo vệ tối đa lợi ích cho họ Người tư vấn chỉ có thể tư vấn đúng đắn cho Người yêu cầu tư vấn khi biết được đầy đủ, chính xác những gì đã diễn ra Có như vậy Người yêu cầu tư vấn mới cởi mở cung cấp thông tin cho chúng ta được
Thứ hai: nhóm Người yêu cầu tư vấn biết rằng mình rơi vào trường hợp sai,
có đầy đủ cơ sở để chứng minh mình sai nhưng vẫn cố tình bao biện để bảo vệ cái sai của mình Trong các trường hợp này Người yêu cầu tư vấn thường muốn Người
tư vấn tư vấn biến cái sai của mình thành đúng để hưởng lợi, cũng có thể họ muốn
Trang 7Người tư vấn cung cấp cho họ những điều cần thiết để khai thác được lợi ích từ cái sai đó hoặc nhờ Người tư vấn tư vấn giúp họ khắc phục cái sai, nhằm giảm bớt tổn thất, bồi thường mà họ phải gánh chịu Đối với trường hợp này, khi tư vấn cho họ, Người tư vấn tư vấn phải thực hiện đúng đạo đức nghề nghiệp của mình, không được giúp Người yêu cầu tư vấn thực hiện những hành vi trái pháp luật Người tư vấn chỉ có thể giúp họ giải toả tâm lý, giúp họ thấy được rằng pháp luật chỉ bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mọi người Đồng thời, Người tư vấn tư vấn cũng có thể giúp Người yêu cầu tư vấn của mình tận dụng những quy định của pháp luật để giảm bớt trách nhiệm cho họ chứ tuyệt đối không được vì đồng tiền mà làm sai pháp luật Người tư vấn luôn phải ý thức được bên cạnh việc bảo vệ lợi ích hợp pháp của Người yêu cầu tư vấn thì Người tư vấn còn có một trọng trách cao cả là bảo vệ pháp luật, bảo vệ lẽ phải
b Đối với Người yêu cầu tư vấn nước ngoài:
Người yêu cầu tư vấn nước ngoài thường là những người hiểu biết pháp luật,
có trình độ chuyên môn cao, có năng lực quản lý và đầu óc tổ chức Vì vậy, các yêu cầu của Người yêu cầu tư vấn nước ngoài thường rõ ràng, rành mạch Họ luôn mong muốn được tư vấn thực hiện đúng pháp luật, tránh những điều trái với pháp luật Do đó, khi làm việc với Người yêu cầu tư vấn quốc tế, Người tư vấn tư vấn Việt Nam cần thể hiện mình là người am hiểu tường tận, sâu rộng pháp luật Việt Nam và là người bảo vệ quyền lợi cho Người yêu cầu tư vấn phù hợp với pháp luật Việt Nam
Người yêu cầu tư vấn nước ngoài sẽ không hài lòng, nếu Người tư vấn làm việc thông qua kinh nghiệm cá nhân hoặc lợi dụng mối quen biết để đi cửa sau Thường đối với những nhà kinh doanh nước ngoài, họ rất coi trọng tiêu chí tuân thủ pháp luật, vì vậy khi tư vấn cho họ trước tiên phải tư vấn về khía cạnh pháp luật Người yêu cầu tư vấn nước ngoài cũng rất coi trọng hình thức và uy tín nghề nghiệp, Người tư vấn tư vấn cần phải thể hiện mình là người có uy tín, có thâm niên trong nghề thông qua các hành vi giao tiếp trực tiếp hoặc thư tín
Một số kỹ năng cần lưu ý: khi thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật với người
nước ngoài, đó là rào cản về văn hóa, ngôn ngữ… Do đó, khi làm việc với Người yêu cầu tư vấn là cá nhân, tổ chức nước ngoài, Người tư vấn cần có hiểu biết phổ thông về văn hóa của quốc gia mà Người yêu cầu tư vấn là công dân và có trình độ
Trang 8ngoại ngữ chuyên ngành khá tốt ( đặc biệt là Tiếng Anh) Điều này đặc biệt quan trọng đối với các Văn phòng cung cấp dịch vụ pháp lý có nhóm khách hàng đa số
là người nước ngoài
Cũng vì sự khác biệt về văn hóa, kinh tế giữa mỗi quốc gia, nên trước khi hình thành quan hệ pháp lý với Người yêu cầu tư vấn là người nước ngoài, các bên cần thảo luận về cách thức làm việc, quan trọng nhất là giúp Người yêu cầu tư vấn hiểu được văn hóa và pháp luật trong nước, ít nhất là có liên quan đến vấn đề pháp lý của Người yêu cầu tư vấn
Nhìn chung, Người yêu cầu tư vấn Việt Nam hay Người yêu cầu tư vấn
nước ngoài dù có khác nhau ở một số điểm nhưng họ đều tin tưởng và kỳ vọng vào Người tư vấn, vì vậy bước đầu tiên trong quá trình thực hiện công việc của mình là việc tiếp xúc với Người yêu cầu tư vấn, Người tư vấn phải thể hiện sự chuyên nghiệp, tạo được niềm tin đối với Người yêu cầu tư vấn Không làm được điều này, người Người tư vấn coi như thất bại một nửa; Người tư vấn phải biết lắng nghe Người yêu cầu tư vấn trình bày và biết đặt ra những câu hỏi để gợi cho Người yêu cầu tư vấn nói rõ hơn những vấn đề cần nhấn mạnh, những điểm cần chú ý; Người
tư vấn cũng có thể yêu cầu họ cung cấp thêm tài liệu, hoặc hẹn gặp để thông qua giao tiếp nắm được một cách cụ thể bản chất của vấn đề mà Người yêu cầu tư vấn yêu cầu tư vấn
III Kỹ năng phân tích, chia nhỏ vấn đề pháp lý:
1 Định nghĩa:
Trong hoạt động Tư vấn pháp luật, ít khi Người yêu cầu tư vấn đặt ra các câu hỏi đơn thuần chỉ giải quyết một câu hỏi pháp lý, lấy ví dụ: Sẽ không có các câu hỏi như: Làm việc này nếu vi phạm thì sẽ bị xử lý thế nào? Hay làm việc kai
có hợp pháp hay không? Các câu hỏi pháp lý được đưa ra thường phải được giáp bằng sâu chuỗi các kiến thức về pháp luật mà một người không có chuyên môn trong ngành không tự trả lời được từ đó hình thành một “vấn đề” của Người yêu
cầu tư vấn Kỹ năng chia nhỏ câu hỏi pháp lý trong quá trình xây dựng phương
án tư vấn pháp luật là các văn bản luật, các luận điểm luận chứng cá nhân của người tư vấn luật, các cơ sở, chứng cớ và vấn đề mà người cần tư vấn nêu ra Từ
đó phân bổ nguồn lực là việc xác định thứ tự ưu tiên, các vấn đề trọng tâm cần giải
Trang 9quyết, tránh việc lan man đi không đúng trọng tâm Đồng thời giúp ích cho việc tra cứu và thiết lập các luận điểm luận cứ của người tư vấn diễn ra chính xác
2 Các vấn đề cần quan tâm khi phân tích, chia nhỏ câu hỏi pháp lý:
Trong giai đoạn chuẩn bị cho phương án tư vấn, kỹ năng phân tích câu hỏi pháp lý nên được vận dụng một cách linh họat trong việc xét tổng thể quy trình tư vấn, hoạt động nghiên cứu hồ sơ, phân tích vụ việc, xác định vấn đề tư vấn cụ thể cần quan tâm:
- Thứ tự ưu tiên của các yêu cầu, các yêu cầu trọng điểm cần ưu tiên giải quyết;
- Khả năng đáp ứng của luật, các luận cứ, luận điểm trong việc giải quyết các yêu cầu;
- Quan điểm, thái độ của người cần tư vấn
3 Các căn cứ để phân tích :
a Các yêu cầu mà Người yêu cầu tư vấn muốn nhắm tới:
Các yêu cầu là căn cứ quan trọng nhất làm cơ sở cho sự phân bổ và chia nhỏ vấn đề pháp lý trong hoạt động tư vấn do đa phần Người yêu cầu tư vấn không chỉ
có một yêu cầu cần giải quyết nhưng thường thì họ không nhận định được đâu là yêu cầu quan trọng nhất, yêu cầu nào quan trọng hơn Mục tiêu của người tư vấn là tìm ra các yêu cầu trọng tâm từ đó tập trung giải quyết hoặc giải quyết các yêu cầu theo thứ tự ưu tiên tránh bỏ xót và đôi khi cần phân tích và giải thích giúp cho Người yêu cầu tư vấn hiểu được những vấn đề mà hai bên cần phối hợp để giải quyết
b Việc phân tích và chia nhỏ vấn đề pháp lý trong việc xây dựng phương án tư vấn pháp luật giúp người tư vấn tránh được các vấn đề như sau:
Trang 10Thứ nhất, sẽ tránh được trường hợp người tư vấn tìm kiếm và đánh giá
chứng cứ sơ sài, không toàn diện, không khách quan Do phân bổ nguồn lực hợp
lý, người tư vấn tốn ít thời gian hơn, tìm được nhiều bằng chứng cũng như đánh giá một cách chính xác và toàn diện hơn Từ đó, hạn chế việc dựa vào phán xét của bản thân quá nhiều tránh nhận định sai về vụ việc gây bất lợi cho người yêu cầu tư vấn
Thứ hai, tránh trường hợp khi cung cấp phương án tư vấn cho khách hàng,
cách diễn đạt của người tư vấn khó hiểu, không phù hợp với trình độ am hiểu về pháp luật và một số lĩnh vực nằm ngoài chuyên môn của Người yêu cầu tư vấn, dẫn đến việc phương án tư vấn không phát huy được hiệu quả, không giải quyết được vấn đề pháp lý của Người yêu cầu tư vấn Chỉ khi đã chia nhỏ và phân tích hợp lý từ trước người tư vấn biết đâu là trọng tâm của vấn đề cần nói đến, các phương hướng mở rộng của vấn đề cũng như tìm hiểu được khách hàng của mình
là ai? Cần đáp ứng những gì? Những văn bản QPPL nào sẽ áp dụng được cho trường hợp này?
IV Kỹ năng đánh giá, cân đối lợi ích và chi phí của phương án TVPL:
Trong quá trình xây dựng một phương án, một giải pháp, Người tư vấn cần
có kỹ năng phân tích chi phí và lợi ích của phương án, giải pháp “Chi phí” ở đây
có thể hiểu là một hoặc một số lợi ích phải từ bỏ hoặc buộc phải chấp nhận để lựa chọn một phương án Mục đích cuối cùng của việc đánh giá này nhằm đưa ra một phương án phù hợp nhất đối với Người yêu cầu tư vấn Vì đôi khi không phải lúc nào Người tư vấn cũng có thể đưa ra một giải pháp “hoàn hảo” nhất là đối với các Yêu cầu tư vấn có tính chất phức tạp Khi đó, buộc Người yêu cầu tư vấn cần phải đưa ra lựa chọn
Tiếp xúc với khách hàng và tìm hiểu yêu cầu tư vấn được ví như người đang tìm đường để mở ra cánh cửa cho mình Luật sư sẽ mở ra được cánh cửa nào: một hợp đồng dịch vụ pháp lý có lợi cho mình và khách hàng, hay một hợp đồng chỉ đáp ứng được lợi ích của mình, hoặc là chẳng được gì cả…phụ thuộc vào chính những
kĩ năng của luật sư Khách hàng sẽ không bao giờ quay lại với luật sư gây cho họ
ấn tượng không tốt ngay trong lần tiếp xúc đầu tiên