Trong nghiên cứu này, lựa chọn chuyên nghành là sự tác động của một tổ hợp các lực lượng xã hội, các điều kiện xã hội tồn tại trong môi trường giáo dục đại học giúp cho các sinh viên có
Trang 1BỘ GIAO DUC VÀ ĐÀO TAO TRƯƠNG ĐAI HOC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYÊN ĐINH MINH
NGHIÊN CƯU NHÂN TỐ ANH HƯƠNG ĐẾN XU HƯƠNG LƯA CHON CHUYÊN NGÀNH TỔ CHƯC NHÂN SƯ CUA
SINH VIÊN HOC VIÊN HÀNH CHÍNH
LUÂN VĂN THAC SỸ KINH TẾ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH-2012
Trang 2BỘ GIAO DUC VÀ ĐÀO TAO TRƯƠNG ĐAI HOC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYÊN ĐINH MINH
NGHIÊN CƯU NHÂN TỐ ANH HƯƠNG ĐẾN XU HƯƠNG LƯA CHON CHUYÊN NGÀNH TỔ CHƯC NHÂN SƯ CUA
SINH VIÊN HOC VIÊN HÀNH CHÍNHChuyên ngành : Quản trị kinh doanh
Mã số : 60340102
LUÂN VĂN THAC SỸ KINH TẾ
NGƯƠI HƯƠNG DÂN KHOA HOC: PGS.TS PHƯƠC MINH HIÊP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH-2012
Trang 3LƠI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luân văn thac sy: “Nghiên cứu nhân tố anh hương đế xu hương lưa chon chuyên nganh Tổ chức nhân sư cua sinh viên Hoc viên Hanh chinh” la kết qua cua quá trinh hoc tâp, nghiên cứu đôc lâp va nghiêm tuc Các số liêu trong luân văn đươc thu thâp từ thưc tế có nguôn gốc rõ rang, tin cây, đươc xử lý trung thưc
va khách quan
Tác gia
Nguyên Đinh Minh
Trang 4LƠI CAM ƠN
Trươc tiên, tôi xin chân thanh gửi lơi cam ơn đến quý thây cô Khoa Quan tri kinh doanh cua Trương Đai hoc Kinh tế Tp Hô Chi Minh đã trang bi cho tôi nhiêu kiến thức quý báu trong thơi gian qua
Tôi xin chân thanh gửi lơi cam ơn đến PGS.TS Phươc Minh Hiêp, ngươi hương dân khoa hoc cua luân văn, đã giup tôi tiếp cân thưc tiên, phát hiên đê tai va tân tinh hương dân tôi hoan thanh luân văn nay
Xin cam ơn gia đinh đã kip thơi đông viên, hỗ trơ tôi trong suốt khóa hoc
Tác gia
Nguyên Đinh Minh
Trang 5DANH MUC CAC CHỮ VIÊT TĂT, KÝ HIÊU
HVHC: Hoc viên Hanh chinh TCNS: Tổ chức nhân sư TP.HCM: Thanh phố Hô Chi Minh SV: Sinh viên
DANH MUC CAC BANG BIÊU
Bang 2.1: Tổng kết kết qua nghiên cứu các mô hinh 24
Bang 2.2: Số liêu sinh viên đăng ký theo hoc các chuyên nganh 26
Bảng 2.3: Tóm tắt các giả thuyết nghiên cứu 32
Bang 4.1 Tóm tắt thống kê mô ta các biến đinh tinh 53
Bảng 4.2: Thống kê mô tả biến phụ thuộc 55
Bang 4.3: Kết qua phân tich Cronbrach’s Alpha lân 1 cho thang đo nhân tố anh hương đến xu hương lưa chon chuyên nganh tổ chức nhân sư 56
Bang 4.4: Kết qua phân tich Cronbach’s Alpha cho thang đo xu hương lưa chon 57
Bảng 4.5 : Kết quả phân tích nhân tố EFA các biến độc lập 58
Bảng 4.6: Phân tích phương sai tổng thể 59
Bang 4.7: Kết qua phân tich nhân tố khám phá lân 2 60
Bảng 4.8 : Kết quả phân tích EFA biến phụ thuộc 61
Bảng 4.9: Ma trận dạng thức biến phụ thuộc 62
Bảng 4.10 : Ma trận thành phần biến phụ thuộc 62
Bang 4.11: Kết qua phân tich Cronbrach’s Alpha lân 2 cho thang đo nhân tố anh hương đến xu hương lưa chon chuyên nganh tổ chức nhân sư 63
Bang 4.12: Kết qua phân tich tương quan giưa các biến 66
Bảng 4.13: Tóm tắt mô hình hồi quy 67
Trang 6DANH MUC CAC HINH
Hinh 2.1: Mô hinh cua D.W Chapman 22
Hinh 2.2: Mô hinh nghiên cứu cua đê tai 33
Hinh 3.1: Quy trinh nghiên cứu 35
Hinh 3.2: Mô hinh nghiên cứu đã đươc điêu chinh lai lân 1 41
Hinh 4.1: Mô hinh nghiên sau khi điêu chinh 64
Hinh 4.2: Mức đô anh hương cua các nhân tố đến xu hương lưa chon 69
Trang 7MUC LUC
LƠI CAM ĐOAN i
LƠI CAM ƠN ii
DANH MUC CHỮ VIÊT TĂT, KÝ HIÊU iii
DANH MUC BANG BIÊU iii
DANH MUC HINH VẼ VÀ ĐỒ THI iv
MUC LUC v
CHƯƠNG 1: TÔNG QUAN VÊ ĐÊ TÀI 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đich nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa - Khả năng ứng dụng 4
6 Kết cấu của luận văn 4
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ MÔ HINH NGHIÊN CƯU 5
2.1 Cơ sơ lý luân vê lưa chon chuyên nganh 5
2.1.1 Môt số khái niêm 5
2.1.1.1 Lựa chọn 5
2.1.1.2 Xu hương lưa chon chuyên nganh 5
2.1.2 Ban chât cua sư lưa chon chuyên nganh 6
2.1.3 Các yếu tố tác đông đến xu hương lưa chon chuyên nganh 8
2.1.3.1 Yếu tố cá nhân 11
2.1.3.2 Yếu tố gia đình 14
2.1.3.3 Tư vân hương nghiêp cua các Khoa 14
2.1.3.4 Yếu tố ban be 15
2.1.3.5 Yếu tố các phương tiện thông tin đại chúng 16
Trang 82.2.1 Cơ sở lý thuyết 20
2.2.1.1 Mô hinh cua D.W Chapman 23
2.2.1.2 Mô hinh cua lý thuyếế t phát triên nghê nghiêp 24
2.2.1.3 Tổng kết kết qua nghiên cứu các mô hinh 20
2.2.2 Lưa chon mô hinh nghiên cứu trong bối canh lưa chon chuyên nganh cua sinh viên Hoc viên Hanh chinh 25
2.2.3 Các giả thuyết nghiên cứu 28
2.2.3.1 Yếu tố về đặc điểm trương đai hoc, nganh hoc 28
2.2.3.2 Yếu tố vê nỗ lưc giao tiếp vơi sinh viên cua Khoa đao tao chuyên nganh 30
2.2.3.3 Yếu tố về các cá nhân có ảnh hưởng đến quyết định của sinh viên 31
2.2.3.4 Yếu tố về tính tương thích giữa cá nhân sinh viên với chuyên ngành 31
2.2.3.5 Yếu tố về khả năng đáp ứng sự mong đợi tương lai 32
2.2.4 Mô hii nh nghiên cứu cua đê tai 33
TOM TĂT CHƯƠNG 2 34
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ VÀ ĐÁNH GIÁ THANG ĐO 35
3.1 Quy trinh nghiên cứu 35
3.2 Xây dưng thang đo nháp 1 36
3.3 Nghiên cứu sơ bô 38
3.3.1 Thiết kế nghiên cứu sơ bô 38
3.3.2 Kết qua nghiên cứu sơ bô 39
3.4 Thiết kế biến quan sát cho các thang đo thanh phân 42
3.5 Nghiên cứu định lượng 45
3.5.1 Chiến lược nghiên cứu 45
3.5.2 Phạm vi và cỡ mẫu 45
3.5.3 Thiết kế bảng câu hỏi và thang đo 46
Trang 93.6.1 Đánh giá thang đo 47
3.6.2 Độ giá trị 48
3.6.3 Hồi qui tuyến tính 49
3.6.4 Kiểm định giả thuyết 49
TOM TĂT CHƯƠNG 3 51
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 52
4.1 Thống kê mô tả dữ liệu 52
4.1.1 Mẫu dữ liệu nghiên cứu 52
4.1.2 Thống kê mô tả biến định tính 52
4.1.3 Thống kê mô tả biến định lượng 54
4.1.3.1 Kết quả thống kê mô tả biến độc lập 54
4.1.3.2 Kết quả thống kê mô tả biến phụ thuộc 54
4.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo 55
4.2.1 Thang đo các khái niệm thành phần 55
4.2.2 Thang đo xu hương lưa chon 55
4.3 Phân tích nhân tố 57
4.3.1 Phân tích nhân tố biến độc lập 57
4.3.2 Phân tích nhân tố biến phụ thuộc 61
4.3.3 Kiêm đinh đô tin cây cua thang đo mơi 63
4.3.4 Mô hinh nghiên cứu điêu chinh 64
4.4 Kiêm đinh mô hinh băng phân tich hôi quy bôi 65
4.4.1 Phân tich tương quan giưa các biến 65
4.4.2.Phân tích hồi qui 66
TOM TĂT CHƯƠNG 4 70
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
5.1 Thảo luận về kết quả nghiên cứu 71
Trang 105.2.1 Đăc điêm cua chuyên nganh đao tao 72
5.2.2 Nỗ lưc giao tiếp cua Khoa chuyên nganh 73
5.2.3 Tinh tương thich vơi đăc điêm cá nhân 74
5.2.4 Kha năng đáp ứng sư mong đơi 74
5.3 Hạn chế nghiên cứu 75
5.4 Kết luận và đề nghị cho nghiên cứu tiếp theo 76
5.5 Môt số kiến nghi 76
TÀI LIÊU THAM KHAO 77
Phụ lục 1: Dan bai thao luân nhóm ix
Phụ lục 2: Bang câu hoi nghiên cứu đinh lương xi
Phụ lục 3: Phân tich đô tin cây cronbach anpha lân 1………xiv
Phụ lục 4: Phân tich nhân tố khám phá lân 1………xvii
Phụ lục 5: Phân tich nhân tố khám phá lân 1 ……… xxii
Phụ lục 6: Phân tich nhân tố khám phá biến phụ thuôc ……….xxvii
Phụ lục 7: Phân tich đô tin cây cronbach anpha lân 2 ……… xxviii
Phụ lục 8: Kết qua phân tich tương quan ………xxix
Phụ lục 9: Kết qua phân tich hôi quy tuyến tinh ……… xxx
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1 Lý do chọn đề tài
Sinh viên đại học nói chung và sinh viên năm thứ nhất nói riêng là lứa tuổi bắt đầu bước vào ngưỡng cửa cuộc đời với những lý tưởng, ước mơ, khát khao và hoài bão Một cuộc sống tương lai đầy hấp dẫn, lý thú song cũng đầy bí ẩn và khó khăn ở phía trước Khác với các lứa tuổi khác, sinh viên có sự chuẩn bị về tâm thế, kiến thức và môi trường giao tế xã hội cũng như môi trường hoạt động rộng hơn rất nhiều nên suy nghĩ của sinh viên chín chắn hơn khi quyết định kế hoạch đường đời của mình Tuy nhiên trong thực tế, việc chọn ngành nghề, quyết định đường đời của sinh viên không đơn giản bởi vì ngành nghề trong xã hội rất phong phú, mỗi ngành nghề đều có những yêu cầu riêng…
Ngay từ khi bước vào giảng đường đại học, hầu hết các sinh viên đều mong muốn một cuộc sống giàu có, một tương lai rạng ngời, một công việc ổn định, danh giá với địa vị xã hội ngày càng được củng cố
Ước mơ của các sinh viên đôi khi còn rất xa với thực tế lao động, hoạt động nghề nghiệp, chưa thấy được giá trị đích thực của các nghề Các sinh viên có kỳ vọng quá cao vào một số nghề nhưng khi tiếp xúc với nghề nghiệp trong thực tế thường làm các sinh viên thất vọng Chọn nghề mà hiểu biết quá ít, thậm chí không hiểu nghề định chọn thì sớm muộn sẽ gặp trở ngại lớn trong hoạt động nghề nghiệp của cá nhân, tạo sự hẫng hụt, bi quan chán nản, miễn cưỡng trong lao động Thực
tế cho thấy, không phải bao giờ nam nữ thanh niên cũng có thể giải quyết đúng đắn vấn đề chọn nghề của mình
Học viện Hành chính là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho cơ quan hành chính nhà nước, thu hút các sinh viên có ước mơ chủ yếu làm quan chức với công việc ổn định và cơ hội tiến thân lâu dài Từ năm 2000, Học viện được phép tuyển sinh hệ chính quy và cho đến nay nhà trường đã tuyển sinh đến khóa 13 Từ năm
Trang 122009, Học viện triển khai đào tạo 08 chuyên ngành, gồm: Tổ chức nhân sự, Quản
lý công, Quản lý xã hội, Quản lý kinh tế, Quản lý đô thị, Tài chính công, Thanh tra, Chính sách công
Việc triển khai đào tạo chuyên ngành trong bối cảnh nhà trường còn chưa kịp chuẩn bị về mọi mặt đã làm cho các sinh viên có nhiều phân vân khi quyết định
sự nghiệp của cuộc đời
Trong 08 chuyên ngành đó, chuyên ngành tổ chức nhân sự là được sinh viên lựa chọn nhiều nhất Song số lượng qua các năm có sự biến động thất thường Điều này cho thấy kỹ năng lựa chọn chuyên ngành của sinh viên còn thiếu, cần phải có
sự hướng dẫn để các sinh viên khi chọn chuyên ngành, biết kết hợp một cách lý tưởng ba yếu tố: nguyện vọng, năng lực của cá nhân, những đòi hỏi của nghề nghiệp và yêu cầu của xã hội Vì vậy tôi mạnh dạn thực hiện đề tài nghiên cứu
"Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến xu hướng lựa chọn chuyên ngành tổ chức nhân sự của sinh viên Học viện Hành chính” nhằm tìm ra các giải pháp để góp
phần nâng cao hiệu quả công tác tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích:
- Xác định và đánh giá mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn chuyên ngành Tổ chức nhân sự của SV
- Đề xuất các kiến nghị để góp phần nâng cao hiệu quả công tác tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên trong quyết định lựa chọn lựa chọn chuyên ngành
Để đạt được mục đích đặt ra, nghiên cứu đã tập trung vào các nhiệm vụ sau:
- Lựa chọn và vận dụng một số lý thuyết xã hội học để xây dựng và kiểm định mô hình nghiên cứu của đề tài
Trang 13- Trên cơ sở mô hình nghiên cứu, xây dựng và kiểm định thang đo, tiến hành khảo sát trên mẫu sinh viên được lựa chọn để xác định các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn chuyên ngành
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố tác động đến xu hướng lựa chọn chuyên ngành tổ chức nhân sự của sinh viên HVHC
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu này đã tiến hành khảo sát và đánh giá mức
độ tác động của các nhân tố đến đến xu hướng lựa chọn chuyên ngành tổ chức nhân sự của 450 sinh viên của HVHC cơ sở TP.HCM
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện thông qua 2 bước: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện thông qua phương pháp định tính trên cơ sở nghiên cứu trước đây về các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn ngành, các định nghĩa về xu hướng lựa chọn ngành và các thành phần của xu hướng Sau đó thông qua kỹ thuật tham vấn ý kiến của các chuyên gia và giảng viên có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này, đồng thời quan sát tại nơi học tập các biểu hiện của các nhân tố tố ảnh hưởng để điều chỉnh thang đo thiết lập bảng câu hỏi sử dụng cho nghiên cứu ở bước tiếp theo Nghiên cứu chính thức được thực hiện theo phương pháp định lượng với kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi điều tra
Mẫu điều tra trong nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện với khoảng 450 sinh viên đang theo học tại Học viện Hành chính
Kết quả đo lường trong nghiên cứu chính thức được sử dụng để điều chỉnh mô hình nhân tố ảnh hưởng chính thức Bảng câu hỏi điều tra được hình thành theo cách:
Bảng câu hỏi hình thành từ các nghiên cứu định tính, sau đó tham vấn lấy ý kiến của các chuyên gia, điều chỉnh để đưa ra bảng câu hỏi chính thức Việc kiểm định thang đo nghiên cứu sơ bộ cùng với các giả thuyết đề ra bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA dựa trên kết quả xử lý số liệu
Trang 14bằng phần mềm SPSS 16 Thang đo cũng được kiểm định so sánh theo các đặc điểm bằng phân tích phương sai Anova
5 Ý nghĩa - Khả năng ứng dụng
Đề tài nghiên cứu sẽ cho biết những yếu tố nào sinh viên quan tâm nhiều nhất trong quá trình lựa chọn chuyên ngành theo đuổi Kết quả này có thể giúp Khoa và Học viện có chính sách tư vấn hướng nghiệp một cách chính xác, đáp ứng mong đợi của sinh viên Ngoài ra, dựa trên những mong muốn của sinh viên đề tài cũng đưa ra các biện pháp, hướng thực hiện giúp nhà trường hỗ trợ sinh viên ngay
từ đầu để tránh đi những sai sót trong việc xác định tương lai của mình
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu luận được kết cấu 05 chương Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chương 3: Thiết kế và đánh giá thang đo
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 15CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận về lựa chọn chuyên ngành
2.1.1 Một số khái niệm 2.1.1.1 Lựa chọn
Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng loại phương thức hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức hiện có để đạt được mục tiêu trong các điều kiện khan hiếm nguồn lực Sinh viên sau giai đoạn học đại cương thường được nhà trường, gia đình, người thân tư vấn trong việc chọn ngành học phù hợp với mục tiêu nghề nghiệp và học lực Sau khi chọn ngành, nghề mình thích, căn cứ vào các tiêu chí:
năng lực bản thân, điểm chuẩn, chỉ tiêu tuyển, nhu cầu xã hội, việc làm sau khi ra trường, điều kiện vị trí địa lý sinh viên xác định ngành học phù hợp với năng lực rồi làm các thủ tục đăng ký ngành học Trong nghiên cứu này, khái niệm lựa chọn được để chỉ hành vi ra quyết định và đó chính là quyết định theo đuổi một chuyên ngành để học tập và có tấm bằng cử nhân đại học để làm hành trang vào đời Lựa
chọn chuyên ngành là sự quyết định nghề nghiệp trong tương lai
2.1.1.2 Xu hướng lựa chọn chuyên ngành
Tuỳ thuộc vào đặc trưng cho mỗi lĩnh vực hoạt động khoa học mà khi xem xét lựa chọn chuyên ngành có thể có những quan điểm khác nhau về khái niệm này Có quan điểm cho rằng đó là hệ thống các biện pháp giúp cho thế hệ trẻ chọn ngành nghề có tính đến nhu cầu của xã hội và năng lực của bản thân; quan điểm khác cho rằng đó là những mối quan hệ kinh tế giúp cho mỗi thành viên xã hội phát triển năng lực đối với lao động và đưa họ vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể, phù hợp với việc phân bố lực lượng lao động xã hội Trong nghiên cứu này, lựa chọn chuyên nghành là sự tác động của một tổ hợp các lực lượng xã hội, các điều kiện xã hội tồn tại trong môi trường giáo dục đại học giúp cho các sinh viên có những hiểu biết cơ bản về một số chuyên ngành phổ biến để khi tốt nghiệp ra
Trang 16trường, các em có thể lựa chọn cho mình một cách có ý thức nghề nghiệp tương lai trên cơ sở kiến thức đã học của những chuyên ngành mà mình đã lựa chọn
Xu hướng lựa chọn chuyên ngành là tập hợp tất cả các khả năng làm cho sinh viên có thể ra quyết định một cách chắc chắn về một chuyên ngành nào đó để lựa chọn Tập hợp các khả năng có thể do các nhân tố bên ngoài, bên trong quyết định để làm cho chủ thể lựa chọn có thể chắc chắc lựa chọn hoặc quan tâm đến chuyên ngành nào đó nhiều hơn khi quyết định lựa chọn
Xu hướng lựa chọn được đo lường bằng việc ưu tiên lựa chọn, sẽ lựa chọn trong tương lai, quan tâm nghiên cứu để cân nhắc cẩn trọng trước khi quyết định cuối cùng
2.1.2 Bản chất của sự lựa chọn chuyên ngành
Thứ nhất, sự lựa chọn chuyên ngành mang bản chất chủ quan của từng cá nhân một cách sâu sắc
Lựa chọn chuyên ngành của sinh viên diễn ra với sự tác động, ảnh hưởng, chi phối bởi nhiều yếu tố đan xen Những yếu tố này tồn tại và xuất phát từ trong môi trường gia đình, cộng đồng, lớp học, nhà trường, nơi sinh viên học tập, sinh sống Môi trường hay những yêu tố này tác động tới suy nghĩ, ý thức, tư tưởng, nhu cầu, động cơ, sở thích nghề nghiệp của sinh viên Tuy nhiên yếu tố bản thân của sinh viên mới chính là nhân tố quyết định, thể hiện tính chủ thể của quá trình lựa chọn chuyên ngành Tỷ lệ ảnh hưởng của những tác động khách quan tới sự lựa chọn trên mỗi cá nhân là nhiều ít khác nhau, song quyết định cuối cùng của quá
trình lựa chọn ngành nghề bao giờ cũng thuộc về một con người cụ thể
Thứ hai, sự lựa chọn chuyên ngành có tính chất quyết định đến tương lai của chủ thể lựa chọn
Sự kết hợp giữa nhu cầu, nguyện vọng cá nhân với yêu cầu do nghề nghiệp
và xã hội đòi hỏi là đặc trưng mang tính bản chất của quá trình lựa chọn chuyên ngành Nhiều khi sự mong muốn ngành nghề của bản thân lại không được xã hội ủng hộ, chấp nhận Sự đòi hỏi về số lượng, chất lượng nguồn nhân lực trong các
Trang 17lĩnh vực nghề nghiệp với nguyện vọng cá nhân kết hợp với nhau trong trở thành hai nhân tố chính yếu cấu thành nên tính chính xác của việc lựa chọn chuyên ngành Sự lựa chọn đó đòi hỏi mỗi cá nhân phải có trách nhiệm Vừa là trách nhiệm với bản thân, vừa là trách nhiệm đối với xã hội Trách nhiệm và quyền lợi nhiều khi là một, và trong tình huống này thì quyền lợi và trách nhiệm chồng khít lên nhau Chủ thể của sự lựa chọn phải dựa trên những gì mà mình có được từ những hoạt động của mình để có thể có sự lựa chọn phù hợp Sự phù hợp vùa giúp cho xã hội có được một người lao động đủ chuẩn để tham gia gia vào thị trường, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực, vừa là cơ hội để giúp bản thân phát triển trở thành những thành viên tích cực, có ích cho xã hội thay vì là những gánh nặng thất nghiệp do sự chọn lựa nhầm lẫn ban đầu Quyết định lựa chọn chuyên ngành dường như có tính chất quyết định đến tương lai của sinh viên sau này Tuy nhiên
sự lựa chọn chuyên ngành của sinh viên là rất đa dạng và phức tạp Muốn xác định được chuyên ngành sẽ chọn phù hợp với mình, ngoài việc hiểu biết về chuyên ngành đó, sinh viên phải tự hiểu mình Chỉ có trên cơ sở này, bản thân sinh viên mới đáp ứng với những yêu cầu của nghề nghiệp
Trang 18Trong quá trình tồn tại và phát triển, giai đoạn lựa chọn chuyên ngành được coi là một bộ phận, một mắt xích trong cấu trúc đời sống của con người Khi xác định cho mình một hướng đi, một vị trí hoạt động trong đời sống xã hội chính là lúc con người ta lựa chọn nghề Quá trình lựa chọn chuyên ngành không phải là chốc lát, không phải diễn ra chỉ một lần mà nó nảy sinh trong các mối quan hệ phức tạp, lựa chọn chuyên ngành được đặt trong một hệ thống các mối quan hệ giữa chủ thể (người lựa chọn) và những điều kiện khách quan có mối quan hệ trực tiếp đối với nghề nghiệp Nếu như việc xem xét và lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên tách khỏi các dạng lựa chọn trong đặc trưng của cuộc sống con người thì sẽ dẫn tới sự hạn chế kết quả thực tế của các biện pháp hướng nghiệp, giới hạn khả năng điều khiển quá trình tái sản xuất nguồn nhân lực cho đất nước
2.1.3 Các yếu tố tác động đến xu hướng lựa chọn chuyên ngành
Trong rất nhiều phương pháp hướng dẫn lựa chọn ngành nghề [21] đã đưa ra giả thuyết rằng việc cá nhân đối mặt với việc lựa chọn ngành nghề trong suốt quá trình lựa chọn ngành nghề đã ảnh hưởng tích cực đến việc triển khai quyết định nghề nghiệp Như vậy, điều này có nghĩa là chính yếu tố thuộc về bản thân cá nhân người đi học sẽ quyết định nhiều đến việc lựa chọn chuyên ngành ở bậc đại học
Như những giả thuyết đề cập ở trên nhưng ở mức độ rõ ràng hơn, một giả thuyết khác cho rằng sự khám phá bản thân và môi trường sẽ giúp con người cảm thấy có sự thích hợp cao hơn với chuyên ngành đã chọn Điều này sẽ giúp con người cảm thấy hài lòng hơn, dễ dàn xếp hơn, chắc chắn hơn và gắn bó hơn với lựa chọn của mình [22]
Những học thuyết tương tự đã được phát triển thêm với cái nhìn về ảnh hưởng của sự cam kết của chuyên ngành đã chọn dựa trên những khía cạnh của việc triển khai sự chọn lựa (e.g., Harren, 1979) và hiện thực hóa chọn lựa (Lent, Brown, & Hackett, 1994) Bất chấp những giả thuyết này, một tài liệu về cách ra
Trang 19quyết định nói rằng kinh nghiệm đã cho thấy mối quan hệ giữa việc đối phó với nhiệm vụ mang tính lựa chọn của cá nhân với việc triển khai lựa chọn
Dựa trên nguyên tắc phân loại của những vấn đề lựa chọn sự nghiệp [19] các tác giả đã phân loại 6 nhân tố chính ảnh hưởng quá trình lựa chọn chuyên ngành:
1 Sự định hướng (nhận thức được sự cần thiết của việc ra quyết định và có động lực tham gia vào quá trình lựa chọn sự nghiệp)
2 Sự khám phá bản thân (tìm hiểu về bản thân)
3 Sự tìm hiểu bao quát về môi trường (tìm hiểu về những ngành nghề khác nhau)
4 Sự khám phá theo chiều sâu về môi trường (tìm hiểu về xu hướng tăng giảm của những ngành nghề khác nhau)
5 Quyền lựa chọn (cố gắng chọn ngành mình thích)
6 Sự cam kết (sức mạnh của niềm tin và gắn bó với một nghề nghiệp cụ thể)
Sự khám phá môi trường để tìm hiểu về ngành nghề cho chúng ta nhận thức được được một điều rằng bản thân sinh viên tự tìm hiểu sẽ gặp những trắc trở không mong muốn Đó là những quan điểm phi chính thức dựa trên những nền tảng thiếu hụt một cách trầm trọng về thông tin cũng như những am hiểu cần thiết
về chuyên ngành đó Như vậy, nhất thiết phải có hoạt động hướng nghiệp Các bộ phận có trách nhiệm, các giảng viên hay ít ra là những người có tiếng nói chính thức sẽ phải chịu trách nhiệm về vấn đề này nếu như họ không muốn rằng những thông tin lệch chuẩn xuất hiện một cách đáng tiếc
Bên cạnh đó, một bài báo khác cũng đưa ra những thang đo cho việc đánh giá chất lượng của việc lựa chọn chuyên ngành, bao gồm: muốn biến lựa chọn thành hiện thực, sự thỏa mãn về chọn lựa, sự điều chỉnh về chuyên ngành đã lựa chọn, sự thể hiện trong nghề nghiệp đã lựa chọn và sự ổn định của chọn lựa [17]
Một số tác giả khác, cũng nghiên cứu và chỉ rõ 3 nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng lựa chọn chuyên ngành của sinh viên: (1) sinh viên có hay không vào học tại trường mà họ muốn vào (2) sự cam kết về ngành học đã chọn (3) sự đánh
Trang 20giá chuyên môn trong suốt những học kì đầu được báo cáo bởi sinh viên Sự đánh giá chuyên môn là thành tích của sinh viên so với yêu cầu từ ngành học bao gồm động lực từ công việc chuyên môn, khả năng đáp ứng yêu cầu từ ngành học cũng như khả năng làm việc (Baker &Syrik, 1989)
Ngoại trừ 3 yếu tố trên, thành tích học tập cũng được xem xét trong bài nghiên cứu này (Wintre, Bowers, Gordner, & Lange, 2006) Một số lượng lớn sinh viên bỏ học và không hoàn thành được khóa học đại học(Wintre, Bowers, Gordner, & Lange, 2006) nên việc tìm ra lí do cho hiện tượng này cũng khá là quan trọng Dựa trên những mẫu lý thuyết e.g., Tinto, 1993; Livingston, 1982) và những nghiên cứu trước đây trên sự nỗ lực và thành tích của sinh viên (e.g., Gerdes& Mallinckrodt,1994; Lacante et al., 2001; Napoli &Wortman, 1998;
Pascarella&Terenzini, 1980), chúng ta có thể hi vọng rằng sự hiện thực lựa chọn,
sự cam kết về ngành đã học, và đánh giá chuyên môn vào năm đầu của bậc đại học
có thể dự đoán thành tích học tập của sinh viên trong những năm tiếp theo của giai đoạn chuyên ngành
Theo D.W.Chapman [20] trong việc lựa chọn chuyên ngành ở bậc đại học, người đi học bị tác động mạnh mẽ bởi sự thuyết phục, khuyên nhủ của bạn bè và gia đình của chính họ Sự ảnh hưởng của các cá nhân này đến các sinh viên có thể được thực hiện theo 3 cách sau: (1) Ý kiến của họ ảnh hưởng đến mong đợi về một ngành ở trường đại học cụ thể nào đó là như thế nào (2) Họ cũng có thể khuyên trực tiếp về nơi mà sinh viên nên lựa chọn (3) Trong trường hợp là bạn thân, thì chính nơi mà bạn thân lựa chọn cũng ảnh hưởng đến quyết định chọn chuyên ngành ở bậc đại học
Theo Hossler và Gallagher [24] một lần nữa khẳng định ngoài sự ảnh hưởng mạnh mẽ của bố mẹ, sự ảnh hưởng của bạn bè cũng là một trong những ảnh hưởng mạnh đến quyết định chọn chuyên ngành ở bậc đại học Bên cạnh đó, Hossler và Gallagher [24] còn cho rằng ngoài bố mẹ, anh chị và bạn bè, các cá nhân ở trường
Trang 21cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn chuyên ngành ở bậc đại học của sinh viên Xét trong điều kiện giáo dục của Việt Nam, cá nhân có ảnh hưởng lớn đến quyết định chuyên ngành ở bậc đại học chính là thầy cô của người đi học
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể xác định có những yếu tố tác động hay ảnh hưởng đến xu hướng lựa chọn chuyên ngành của sinh viên như sau:
* Kết quả học tập
Kết quả học tập hay thành tích học tập làm cho sinh viên có cái nhìn đầy cảm nhận về bản thân mình Sự so sánh hay nhận thức hướng nội sẽ làm cho họ chín chắn để biết mình có sở trường với chuyên ngành nào Sự hứng thú xuất phát
từ kết quả học tập cao các môn học có liên quan đến chuyên ngành mình sẽ lựa chọn trong tương lai Ví dụ, sinh viên học giỏi các môn học về luật sẽ có xu hướng lựa chọn ngành Thanh tra để sau này làm việc cho các cơ quan Thanh tra của Chính phủ Một công việc đòi hỏi kỹ năng về pháp luật rất cao
Trang 22* Khả năng có thể theo đuổi
Học viện Hành chính tuyển sinh các khối A, C, D Thông thường sinh viên
dự thi đầu vào khối A có khả năng học tập cao hơn Bằng cách quan sát sơ bộ, số
đề tài nghiên cứu khoa học do sinh viên đăng ký thực hiện nhiều hơn và có kết quả nghiệm thu cao hơn các sinh viên khác Với khả năng được đánh giá là tư duy các vấn đề có tính logic, nhanh nhẹn, các sinh viên này thường giỏi đều các môn và có khả năng theo đuổi tất cả các chuyên ngành của Học viện Họ thường có trường lựa chọn rộng hơn Họ thường phải cân nhắc nhiều hơn trong một loạt các thông tin phải dàn xếp Như vậy có nghĩa là chưa chắc nhiều khi đem lại cho các sinh viên này sự thuận lợi Các sinh viên dự thi đầu vào khối C có xu hướng tránh các ngành Tài chính công, Quản lý kinh tế, Quy hoạch đô thị, nhất là chuyên ngành Tài chính công vì có thể sinh viên nghĩ rằng các môn học của chuyên ngành đòi hỏi sự tính toán vốn đã không quen với họ từ lâu Qua bảng danh sách sinh viên chuyên ngành
Tổ chức nhân sự, hầu hết các sinh viên đều là thí sinh dự thi đầu vào khối C Số lượng sinh viên dự thi đầu vào khối A chỉ chiếm 5/450 sinh viên
* Sự nắm bắt
Sinh viên sau năm học thứ nhất có khả năng nắm bắt yêu cầu cuộc sống rất cao Trong môi trường đại học, từ sự truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm sống của giảng viên đến việc tham gia các hoạt động xã hội do đoàn, hội tổ chức, rồi qua các buổi giao lưu tiếp xúc với các chuyên gia trong các chương trình quảng bá, xúc tiến hình ảnh của doanh nghiệp, sinh viên có cái nhìn tổng thể hơn về xã hội và tương lai của các chuyên ngành mình sẽ chọn Họ dự báo, suy luận hay phỏng đoán, tất
cả đều có cơ sở và các em luôn tin vào những gì mà mình đang tư duy, quan sát, nhìn nhận, nắm bắt Khả năng đó không phải ai cũng có Nó phụ thuộc vào tính tích cực trong hoạt động của sinh viên Những ai hay dành thời gian tham gia vào các chương trình xã hội bổ ích hay đi làm thêm ngoài giờ hay gặp gỡ các thầy cô hay nghiên cứu sách vở, báo chí ở thư viện sẽ có sự lựa chọn chuyên ngành chín chắn hơn
Trang 23Hầu hết các sinh viên học viện đều hiểu rõ những chuyên ngành đào tạo
Sinh viên có một cái nhìn tương đối chuẩn xác về các công việc có thể làm được khi theo đuổi các chuyên ngành đó Sự hiểu biết về vị trí, vai trò hay địa vị của những con người làm việc theo đúng các chuyên ngành đã lựa chọn là một đặc điểm nổi bật Dường như họ không mơ hồ khi lựa chọn mà phần lớn đều có định hướng rõ ràng Xong vấn đề mà các sinh viên quan tâm là liệu mình đã đúng chưa
và nói chung là vẫn còn thiếu rất nhiều kỹ năng quan trong lựa chọn chuyên ngành Điều này cũng có nghĩa là tính cảm tính cũng chiếm một dung lượng khá lớn trong quyết định lựa chọn đó
Nhiều sinh viên có biểu hiện dao động và thường xin làm các thủ tục chuyển chuyên ngành Quyết định lựa chọn một chuyên ngành đối với họ thật là khó khăn
Nhiều khi thông tin quá nhiều nhưng chưa có một sự chắc chắn nào cho bất kỳ một thông tin nào nên sự dao động là không thể tránh
* Sự tác động bởi những xu hướng xã hội nhất là các xu hướng tiêu cực
Một điều không thể chối cãi là các vấn nạn tiêu cực đang diễn ra khó kiểm soát từ phái các nhà chức năng Lúc đầu là sự riêng lẻ, không kiểm soát sẽ dẫn đến làn sóng, phong trào hay xu hướng Một khi có thông tin cho rằng làm ngành này ngành nọ có thu nhập cao nhờ những khoản nọ khoản kia phi chính thức lập tức tác động đến nhận thức sinh viên làm cho họ có những hành vi lựa chọn nghề nghiệp lệch chuẩn Tác giả làm một cuộc phỏng vấn nhỏ sinh viên ngành Thanh tra với câu hỏi là “tại sao em chọn ngành này”, có em trả lời rằng làm việc trong ngành sẽ hứa hẹn nhiều quyền lực và thu nhập Đây có thể là đặc thù riêng có của sinh viên học viện Được học tập trong môi trường mang nặng dấu ấn của “quan trường”, những tiêu cực dễ có khả năng len lỏi vào trong ngóc ngách nhân cách của các sinh viên
Khi bị những yếu tố trên tác động thì thường các sinh viên bỏ qua tính sở trường hay những yêu cầu xã hội cho chuyên ngành Tuy đây không phải là sự phổ biến
Trang 24nhưng cũng không phải là một con số nhỏ sinh viên chịu ảnh hường của những làn sóng tiêu cực khi chọn chuyên ngành, nghề nghiệp
2.1.3.2 Yếu tố gia đình
Gia đình là yếu tố rất quan trọng đối với sự phát triển về mọi mặt của sinh viên trong đó có cả vấn đề định hướng, lựa chọn nghề nghiệp của các em Trong gia đình, cha mẹ là người luôn luôn gần gũi, hiểu rõ các em nhất nên cha mẹ có thể biết được hứng thú, năng lực, sở thích của các em ra sao Cha mẹ là những người
đi truớc có nhiều kinh nghiệm thực tế, có sự hiểu biết về thế giới, nghề nghiệp trong xã hội hơn các em Vì vậy các em có sự ảnh hưởng và tin tưởng rất lớn từ cha mẹ trong việc lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân Hơn nữa trong điều kiện xã hội hiện nay, vấn đề việc làm sau khi ra trường còn phụ thuộc rất nhiều vào các mối quan hệ và khả năng tài chính của gia đình Điều đó càng khẳng định vai trò quan trọng của gia đình đối với việc lựa chọn chuyên ngành của sinh viên
Tuy nhiên, sự can thiệp, ảnh hưởng quá lớn từ cha mẹ đến việc lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên sẽ có tác động hai mặt: Mặt tích cực, đối với những trường hợp cha mẹ hiểu rõ năng lực, hứng thú của con, hiểu biết rõ về các ngành nghề trong xã hội nên hướng cho con mình lựa chọn những nghề phù hợp Mặt tiêu cực là có một bộ phận không nhỏ các bậc phu huynh lại áp đặt con cái lựa chọn nghề nghiệp theo ý mình Với suy nghĩ là cha mẹ phải có trách nhiệm với con cái
từ việc chọn nghề đến lúc tìm việc làm mà hầu như không tính đến hứng thú, năng lực sở trường của các em Điều này đã dẫn đến việc lựa chọn chuyên ngành sai lầm của sinh viên, hình thành ở các sinh viên tính thụ động, ỷ lại vào cha mẹ Và đây cũng là một trong số các nguyên nhân cơ bản dẫn đến hiện tượng không thành đạt trong nghề, chán nghề, bỏ nghề của các sinh viên sau này
2.1.3.3 Tư vấn hướng nghiệp của các Khoa
Về mặt lí luận, giáo dục hướng nghiệp hay tư vấn hướng nghiệp trong nhà trường phải đóng vai trò chủ đạo trong việc định hướng và lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên Hoạt động sẽ cung cấp thông tin một cách chính thức về chuyên
Trang 25ngành Thông tin về các môn học, về yêu cầu năng lực, về môi trường và khả năng phát triển sau này, về công việc và cơ hội việc làm Những thông tin này rất bổ ích
và cần thiết đối với các sinh viên Đây là điều mà họ luôn quan tâm, khát khao, kỳ vọng hay mong đợi một tiếng nói chính thức của nhà trường hay ít ra cũng từ những con người được gọi là chuyên gia về các chuyên ngành, am hiểu, nắm bắt rất kỹ về thực trạng các chuyên ngành đó Thường thì các sinh viên khi chuẩn bị suy nghĩ để thực hiện hành vi lựa chọn có rất nhiều lo âu, trăn trở, đa số trong họ đều cần hoạt động tư vấn hướng nghiệp này
Nhận thức được việc này, sau khi Quyết định đào tạo 08 chuyên ngành được triển các khoa chuyên ngành đều tổ chức tư vấn hướng nghiệp Các khoa cũng dành nhiều thời gian để nghiên cứu và cố gắng thu hút số sinh viên tham gia đăng
ký chuyên ngành của mình Tuy nhiên để có được một buổi tư vấn đúng nghĩa không phải là dễ Có thể chúng ta hiểu sai vấn đề Tư vấn đề hướng nghiệp hay tư vấn để thu hút sinh viên
2.1.3.4 Yếu tố bạn bè
Mở rộng các mối quan hệ xã hội trong đó có quan hệ bạn bè là một đặc điểm tâm lý quan trọng của lứa tuổi sinh viên Quan hệ bạn bè là một nhu cầu không thể thiếu và được các sinh viên rất coi trọng, bởi vì thông qua mối quan hệ này các sinh viên có thể giải bày tâm sự, nguyện vọng, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, kể cả những điều thầm kín, riêng tư những dự định về nghề nghiệp, về tương lai Trong mối quan hệ này các sinh viên có thể tự khẳng định được khả năng, vị trí của mình, được giúp đỡ bạn bè
Sinh viên Học viện thường xin được tư vấn bởi những sinh viên học ở khóa trước về kinh nghiệm chọn ngành, sự hứng thú hay thất vọng khi đã chọn để làm thông tin tham khảo Những quan điểm cá nhân đôi khi cũng là một thang đo đầy chuẩn mực và tin cậy đối với một cá nhân nhưng tính trách nhiệm thì khó được đảm bảo
Trang 262.1.3.5 Yếu tố các phương tiện thông tin đại chúng
Trong thời đại bùng nổ của thông tin và các phương tiện thông tin đại chúng như hiện nay đã tác động không nhỏ tới việc lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên
Với sự hỗ trợ của sách, báo, phim ảnh, truyền hình đặc biệt là kho thông tin khổng
lồ - mạng Internet, các sinh viên dễ dàng nắm bắt, tiếp thu các thông tin đa dạng về mọi mặt của các lĩnh vực đời sống xã hội Tuy nhiên, dù đa dạng đến mức nào thì đây cũng là những dạng thông tin một chiều, ít có cơ hội để các sinh viên trao đổi
và nhận được sự tư vấn cần thiết đặc biệt là trong vấn đề tư vấn hướng nghiệp Tuy nhiên cũng cần được phải khẳng định rằng trong điều kiện giáo dục hướng nghiệp trong các nhà trường và gia đình đang có nhiều bất cập như hiện nay thì các phương tiện thông tin đại chúng giữ vai trò quan trọng, đã phần nào cung cấp cho sinh viên các thông tin về nghề nghiệp trong xã hội, các yêu cầu của nghề giúp cho sinh viên tự định hướng trong việc lựa chọn nghề nghiệp
2.1.4 Tổng quan về các công trình nghiên cứu có lên quan
Ở Việt Nam giáo dục hướng nghiệp hay lựa chọn ngành, chuyên ngành tuy được xếp ngang tầm quan trọng với các mặt giáo dục khác như đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục nhưng bản thân nó lại rất non trẻ, mới mẻ cả về nhận thức, lý luận và thực tiễn, rất thiếu về lực lượng, không mang tính chuyên nghiệp Ở các trường đại học, vấn đề tư vấn chọn ngành cũng mới chỉ bắt đầu thực hiện Vì vậy, việc thực hiện không mang lại nhiều hiệu quả Vấn đề hướng nghiệp chỉ thực sự nóng lên và được xã hội quan tâm khi nền kinh tế đất nước bước sang cơ chế thị trường với sự đa dạng của các ngành nghề và nhu cầu rất lớn về chất lượng nguồn nhân lực
Đảng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm công tác hướng nghiệp, điều này được thể hiện qua các chỉ thị, nghị quyết, văn kiện, các nguyên lý giáo dục của Đảng và nhà nước Có thể lấy ví dụ như nghị định 126/CP ngày 19/03/1981 của Chính phủ về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp
lý HS các cấp PTCS và THPT tốt nghiệp ra trường Trong văn kiện Đại hội Đảng
Trang 27lần thứ IX đã ghi rõ “Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng HS trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương” Luật Giáo dục năm 2005 đã khẳng định: “Giáo dục THPT nhằm giúp cho HS củng cố và phát triển những kết quả của THCS, hoàn thiện học vấn để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học nghề nhiệp, học nghề, và đi vào cuộc sống lao động” Chiến lược phát triển giáo dục năm 2001 - 2010 đã xác định rõ: “Thực hiện chương trình phân ban hợp lý nhằm đảm bảo cho HS có học vấn phổ thông, cơ bản theo một chuẩn thống nhất, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát huy năng lực của mỗi HS, giúp HS
có những hiểu biết về kỹ thuật, chú trọng hướng nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân luồng sau THPT, để HS vào đời hoặc chọn ngành nghề học tiếp sau khi tốt nghiệp” Về mặt nghiên cứu khoa học hướng nghiệp ở Việt Nam, theo các chuyên gia thì ngành hướng nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh
mẽ vào những năm 1970, 1980
Đó là bức tranh tổng quan chung nhất về nghiên cứu xu hướng lựa chọn chuyên ngành ở bậc đại học Nói như vậy có nghĩa là cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu chính thức nào về vấn đề nghiên cứu của đề tài
Tổng kết các kết quả nghiên cứu có liên quan cho thấy phần lớn các đề tài nghiên cứu chỉ tập trung vào vấ đề hướng nghiệp cho các đối tượng là học sinh trung học phổ thông, các công trình có thể kể đến là:
Thứ nhất, GS Phạm Tất Dong, [1] là người có những đóng góp rất lớn cho giáo dục hướng nghiệp Việt Nam, ông đã dày công nghiên cứu các vấn đề lí luận
và thực tiễn cho giáo dục hướng nghiệp như xác định mục đích, ý nghĩa, vai trò của hướng nghiệp; hứng thú, nhu cầu và động cơ nghề nghiệp; hệ thống các quan điểm, nguyên tắc hướng nghiệp, các nội dung, phương pháp, biện pháp giáo dục hướng nghiệp Điều này được thể hiện ở rất nhiều các báo cáo, bài báo, sách, giáo trình của ông như bài: “Hướng nghiệp cho thanh niên”, đăng trên tạp chí Thanh Niên số
8 năm 1982; Báo cáo: “Một con đường hình thành lý tưởng nghề nghiệp cho HS
Trang 28lớn”; các tác phẩm như: “Nghề nghiệp tương lai - giúp bạn chọn nghề” hay cuốn
“Tư vấn hướng nghiệp - sự lựa chọn cho tương lai” Trong một công trình nghiên cứu gần đây ông đã chỉ ra rằng: “Công tác hướng nghiệp góp phần điều chỉnh việc chọn nghề của thanh niên theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế” Bởi vì theo tác giả, đất nước đang trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp CNH - HĐH, trong quá trình CNH - HĐH, cơ cấu kinh tế sẽ chuyển theo hướng giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ Xu hướng chọn nghề của thanh niên phù hợp với xu hướng chuyển cơ cấu kinh tế là một yêu cầu của công nghiệp
Thứ hai, GS Nguyễn Văn Hộ cũng là một trong những người rất tâm đắc và nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục hướng nghiệp Trong luận án tiến sĩ của mình tác giả đã đề cập đến vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho
HS Việt Nam” Tác giả đã xây dựng được luận chứng cho hệ thống giáo dục hướng nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Gần đây (2006), ông cũng đã cho xuất bản cuốn sách: “Hoạt động giáo dục hướng nghiệp và giảng dạy kĩ thuật trong trường THPT”, cuốn sách đã trình bày một cách hệ thống về cơ
sở lí luận của giáo dục hướng nghiệp, vấn đề tổ chức giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT và giảng dạy kĩ thuật ở nhà trường THPT trong điều kiện kinh tế thị trường và sự nghiệp CNH - HĐH đất nước hiện nay
Trong thời gian gần đây nhằm hiện thực hoá những phương hướng, mục tiêu
mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra về giáo dục hướng nghiệp và phân luồng HS phổ thông Đã có rất nhiều những nghiên cứu về hướng nghiệp ở nhiều cách tiếp cận khác nhau tạo nên một giai đoạn mới với sự đa dạng trong nghiên cứu khoa học hướng nghiệp ở Việt Nam
Thứ ba, kết quả nghiên cứu của Khoa Tâm lý – Đại học sư phạm Hà Nội đã rút ra kết luận: (1) Các hình thức hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông hiện tại chưa thực sự phong phú và được tổ chức thường xuyên Nhiều hình thức hấp dẫn,
có sức thuyết phục tốt như tham quan thực tế các cơ sở sản xuất địa phương, nghe các nghệ nhân nói chuyện về nghề … ít được thực hiện (2) Nhu cầu tìm hiểu nghề
Trang 29là nhu cầu chính đáng của học sinh, nhưng khi tìm hiểu về nghề thì các em gặp phải rất nhiều khó khăn như nhà trường ít tổ chức hướng nghiệp, các nội dung hướng nghiệp thực hiện không đồng bộ…(3) Do tác động của nhà trường trong việc hướng nghiệp chưa cao nên các thông tin về nghề mà học sinh thu nhận được khi chọn nghề phần lớn từ các kênh ngoài nhà trường, ngoài giáo viên như từ cha
mẹ người thân, từ những người đang làm trong nghề đó hay từ các sách báo hoặc phương tiện thông tin đại chúng khác
Thứ tư, kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP.HCM do PGS.TS Nguyễn Văn Tài chủ trì , [11] qua khảo sát hệ thống thứ bậc động cơ chọn ngành học tại ĐHQG TP.HCM đã kết luận: Yêu thích nghề nghiệp và có được nghề phù hợp với năng lực là lựa chọn chính của sinh viên khi vào học tại các trường thuộc ĐHQG TP.HCM, ngược lại các yếu tố như: điểm tuyển thấp và cơ hội vào học cao, theo ý kiến của bạn bè, theo truyền thống gia đình không phải là động cơ thúc đẩy sinh viên lựa chọn ngành học
Thứ năm, kết quả nghiên cứu của TS Nguyễn Đức Nghĩa – ĐHQG TP.HCM, [8] đã đưa ra kết luận: Sinh viên thường chọn các ngành đang hoặc có thể phát triển trong xã hội, nhưng chưa quan tâm đến các ngành cần thiết cho sự phát triển của xã hội… Một xu thế khác trong chọn ngành nghề của thí sinh là chọn những trường có điểm chuẩn trúng tuyển thấp trong kỳ tuyển sinh trước (để tăng cơ may trúng tuyển)
Thứ sáu, kết quả nghiên cứu của các tác giả Trần Văn Quí, Cao Hào Thi –
ĐH Bách Khoa TP.HCM, [9] qua kết quả phân tích 227 bảng trả lời của học sinh lớp 12 năm học 2008-2009 của 5 trường THPT tại Quảng Ngãi cho thấy 5 yếu tố:
yếu tố cơ hội việc làm trong tương lai; yếu tố đặc điểm của trường đại học; yếu tố
về bản thân cá nhân học sinh; yếu tố về các cá nhân có ảnh hưởng đến quyết định của học sinh và yếu tố thông tin có sẵn ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học
Trang 302.2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu 2.2.1 Cơ sở lý thuyết
2.2.1.1 Mô hình của D.W Chapman
D.W Chapman đã đề nghị một mô hình tổng quát của việc lựa chọn chuyên ngành bậc đại học của các sinh viên [20] Dựa vào kết quả thống kê mô tả, ông cho thấy có 2 nhóm yếu tố ảnh hưởng nhiều đến quyết định chuyên ngành bậc đại học của sinh viên
Thứ nhất là yếu tố thuộc về gia đình và cá nhân của sinh viên Đó là những đặc điểm, thành phần gia đình, những môi trường tồn tại của người đi học Thứ hai
là tác nhân không phụ thuộc vào đặc điểm của riêng cá nhân mà thuộc về các vấn
đề xã hội trong môi trường giáo dục hay nói cách khác đó là những đặc điểm của môi trường trường đại học và ngành học mà nó tồn tại trong môi trường đó có ảnh hưởng như: các đặc điểm cố định của trường đại học, ngành học và nỗ lực giao tiếp của trường đại học với các sinh viên D.W Chapman [20] và phát triển trên những
mô hình khác để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn chuyên ngành bậc đại học của các sinh viên
Bên cạnh đó, ông cũng cho rằng trong việc chọn chuyên ngành bậc đại học, các sinh viên bị tác động mạnh mẽ bởi sự thuyết phục, khuyên nhủ của bạn bè và gia đình
Những nhân tố bên ngoài và bên trong tác động đến tâm lý của sinh viên bằng những thông tin quan trọng có thể làm cho suy nghĩ của họ trở nên bao quát
và thận trọng hơn Sự suy nghĩ thận trọng về một chuyên ngành nào về những cơ hội trong tương lai hay sự hấp dẫn của chính bản thân ngành học này hay là sự tự hào vì chuyên ngành có sự danh tiếng, được mọi người nể trọng đã làm nên một sự
ấn tượng trong suy nghĩ và là cách thức tác động hết sức mạnh mẽ lên quyết định cuối cùng của sinh viên Nói chung, bản thân thân sinh viên là nhân tố nội sinh, song trong điều kiện có nhiều yếu tố ngoại sinh thì người mà họ tham khảo vẫn là
Trang 31bạn bè hay gia đình Từ sự ấn tượng về chuyên ngành học ở trường đại học, trong bối cảnh ở ngưỡng cửa mà sự tính toán với những suy nghĩ tiêu cực còn quá ít mà thay vào đó là cuộc sống đầy lý tưởng đã khiến các sinh viên ít chần chừ hay do dự
để đi đến quyết định thực hiện hành vi lựa chọn Khả năng lựa chọn chuyên ngành lúc này là rất cao
Trong nghiên cứu của mình D.W.Chapman [20] cho rằng các yếu tố cố định của chuyên ngành ở trường đại học như học phí, vị trí địa lý, chính sách hỗ trợ về chi phí sẽ có ảnh hưởng đến quyết định chọn chuyên ngành bậc đại học của các sinh viên Ngoài ra, ông còn nhấn mạnh ảnh hưởng của nỗ lực của các trường đến quyết định chọn chuyên ngành bậc đại học của các sinh viên D.W.Chapman còn cho rằng, các yếu tố tự thân cá nhân người học là một trong những nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành của bản thân họ
Hossler và Gallagher [24] còn cho rằng các cá nhân tại trường học cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định chọn chuyên ngành bậc đại học của các sinh viên
Cabera và La Nasa [27] nhấn mạnh rằng những kỳ vọng về một việc làm ổn định trong tương lai của sinh viên cũng là một nhóm yếu tố quan trong tác động đến quyết định lựa chọn chuyên ngành bậc đại học của các sinh viên
M J Burn [27] đã ứng dụng các kết quả từ các nghiên cứu của Chapman (1981) và Cabera và La Nasa (2000) vào một trường đại học cụ thể tại Mỹ một lần nữa khẳng định các kết quả nêu trên, đó là mối quan hệ giữa các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn chuyên ở bậc đại học của sinh viên
Mô hình nghiên cứu của Ruth E Kallio [29] còn cho thấy rằng giới tính cũng có tác động đến quyết định chọn chuyên ngành bậc đại học của các sinh viên
Mức độ tác động của các nhóm yếu tố trực tiếp sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ của đặc trưng về giới tính của sinh viên R.E.Kallio cho rằng giới tính khác nhau sẽ có mức
độ tác động gián tiếp khác nhau lên quyết định lựa chọn chuyên ngành bậc đại học của các sinh viên
Trang 32Tóm tắt các kết quả nghiên cứu của các tác giả, trong đó, chủ yếu từ lý thuyết của D.W.Chapman [20], cho thấy có các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hay xu hướng lựa chọn chuyên ngành ở bậc đại học của sinh viên, gồm:
1 Đặc điểm chuyên ngành học
2 Đặc điểm gia đình
3 Các cá nhân ảnh hưởng
4 Đặc điểm cá nhân
5 Nỗ lực giao tiếp của nhà trường đế sinh viên
Hình 2.1: Mô hình của D.W Chapman
Nguồn: The Journal of Higher Education, Vol 52, No 5 (Sep - Oct., 1981), pp
490-505 Published by: Ohio State University Press
Đặc điểm của ngành học
Đặc điểm gia đình
Các cá nhân ảnh hưởng
Trang 332.2.1.2 Mô hình của lý thuyết phát triển nghề nghiệp
Mei Tang, Wei Pan và Mark D.Newmeyer [28] đã áp dụng mô hình lý thuyết phát triển xã hội nghề nghiệp (SCCT, Lent, Brown và Hackett, 1994) để khảo sát các yếu tác động đến xu hướng lựa chọn nghề nghiệp Những phát hiện của nghiên cứu này chứng minh tầm quan trọng của các yếu tố: kinh nghiệm học tập, tự đánh giá năng lực nghề nghiệp, lợi ích, và kết quả mong đợi trong quá trình phát triển nghề nghiệp của người lựa chọn Mối quan hệ của các yếu tố này là động, vì vậy, để can thiệp thành công cần phải xem xét mối quan hệ phức tạp giữa các yếu tố và kết hợp một loạt các biện pháp can thiệp ở mức độ đa hệ thống Các nhà tư vấn nên góp phần vào sự phát triển và thực hiện một chương trình phát triển nghề nghiệp toàn diện giúp sinh viên phát triển năng lực nghề nghiệp thông qua hoạt động học tập thiết thực
Nghiên cứu của Bromley H Kniveton [18] trên cơ sở khảo sát 384 thanh thiếu niên (trong đó có 174 nam và 174 nữ) từ 14 đến 18 tuổi đã đã đưa ra kết luận:
Cả nhà trường và gia đình đều có thể cung cấp những thông tin và hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên Giáo viên có thể xác định những năng khiếu và khả năng qua đó khuyến khích học sinh tham gia các hoạt động ngoại khoá, tham gia lao động hướng nghiệp hoặc tham quan những cơ sở sản xuất Phụ huynh học sinh có ảnh hưởng rất lớn đến việc cung cấp những hỗ trợ thích hợp nhất định cho sự lưa chọn nghề nghiệp, ngoài ra còn có sự tác động của anh chị em trong gia đình, bạn bè…
Michael Borchert [16] trên cơ sở khảo sát 325 học sinh trung học của trường Trung học Germantown, bang Wisconsin đã đưa ra nhận xét: trong ba nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp là: Môi trường, cơ hội và đặc điểm
cá nhân thì nhóm yếu tố đặc điểm cá nhân có ảnh hưởng quan trọng nhất đến sự chọn lựa nghề nghiệp của học sinh trung học
Trang 34M.J.Burns và các cộng sự [27] đã cho rằng mức độ nổi tiếng và uy tín của trường, đội ngũ giáo viên danh tiếng cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn chuyên ngành bậc đại học của các sinh viên
M.J.Burns và các cộng sự [27] cho rằng: “tỷ lệ chọi” đầu vào, điểm chuẩn là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn chuyên ngành bậc đại học của các sinh viên
Theo Cabera và La Nasa [27] ngoài mong đợi về học tập trong tương lai thì mong đợi về công việc trong tương lai cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn chuyên ngành bậc đại học của các sinh viên
S.G.Washburn và các cộng sự [31] còn cho rằng sự sẵn sàng của bản thân cho công việc và cơ hội kiếm được việc làm sau khi tốt nghiệp cũng là những yếu
tố ảnh hưởng đến quyết định chọn chuyên ngành bậc đại học của các sinh viên
2.2.1.3 Tổng kết kết quả nghiên cứu các mô hình
Bảng 2.1: Tổng kết kết quả nghiên cứu các mô hình
Mô hình D.W
Chapman
Sự ấn tượng về một chuyên ngành sẽ là cơ
sở cho sự ra quyết định lựa chọn
- Đăc điểm cá nhân
- Đặc điểm gia đình
- Đặc điểm của ngành học
- Nỗ lực giao tiếp của trường
- Mức độ kỳ vọng về công việc trong tương lai của ngành lựa chọn
- Giới tính
- D.W Chapman
- Hossler và Gallagher
- Cabera và La Nasa
- M J Burn
-Ruth E Kallio
Mô hình lý thuyết phát triển nghề nghiệp
Sự hiểu biết và đánh giá khả năng theo đuổi nghề nghiệp
- Kinh nghiệm học tập
- Đánh giá năng lực nghề nghiệp
Trang 352.2.2 Lựa chọn mô hình nghiên cứu trong bối cảnh lựa chọn chuyên ngành của sinh viên Học viện Hành chính
Học viện Hành chính được triển khai đào tạo chương trình cử nhân chuyên ngành Hành chính học hệ chính quy từ năm 2000 Đến nay, đã tuyển sinh được 13 khóa với tổng số sinh viên là 6500, trung bình chỉ tiêu mỗi khóa là 500 sinh viên
Với chuyên ngành Hành chính học, mức phân ngành chưa sâu sắc, dẫn đến khối lượng kiến thức dàn trải, sự hiểu biết chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó không có
Sinh viên ra trường rất khó có định hướng để xin việc làm Các sinh viên sau khi tốt nghiệp có xu hướng về quê để xin việc vào cơ quan nhà nước Số ít xin việc vào các doanh nghiệp Từ đặc điểm này mà khả năng thu hút thí sinh của học viện rất kém Mỗ năm số lượng thí sinh dự thi không nhiều nên điểm chuẩn đầu vào rất
thấp Nhà trường hàng năm có gửi phiếu khảo sát về khả năng làm việc tại các
đơn vị sử dụng sinh viên Học viện sau khi tốt nghiệp ra trường Hầu hết các đơn vị bày tỏ sự quan ngại về chất lượng đào tạo và nhiều nơi tỏ ra thiếu tin tưởng vào những tân cử nhân hành chính Điều này một phần do chất lượng đầu vào thấp vì khả năng thu hút kém, một vì tính chuyên ngành rộng nên lượng kiến thức và kỹ năng thiếu hụt
Đánh giá được vấn đề này, từ năm 2007, Học viện đã tiến hành xây dựng chương trình đào tạo 08 chuyên ngành, xin cấp mã ngành và triển khai đào tạo từ năm 2009 Tám chuyên ngành gồm: Tổ chức nhân sự, Quản lý công, Quản lý xã hội, Quản lý kinh tế, Quản lý đô thị, Tài chính công, Thanh tra, Chính sách công
Với 08 chuyên ngành nói trên, sinh viên có cơ hội lựa chọn rộng hơn về lĩnh vực mình sẽ theo đuổi Khi ta trường họ sẽ có định hướng ngay từ ban đầu về công việc Số lượng sinh viên đăng ký vào các chuyên ngành như sau:
Trang 36Bảng 2.2: Số liệu sinh viên đăng ký theo học các chuyên ngành
và hoạch định đội ngũ lãnh đạo kế cận Đối với khu vực tư, bộ phận quản trị nhân
sự hay quản trị nguồn nhân lực trong các công ty trở thành bộ phận không thể thiếu nhất là khi quan điểm về con người có sự đổi mới và chuyển biến một cách rõ rệt trong thực tiễn quản trị nguồn nhận lực Công ty nào cũng cần có người làm công tác nhân sự giỏi để đảm bảo nguồn lực cho công ty hoạt động Từ đặc thù đó, chuyên ngành tổ chức nhân sự ngay từ đầu đã được sinh viên cảm nhận đây là chuyên ngành tốt nhất, hứa hẹn nhiều cơ hội trong tương lai
Khoa Tổ chức và quản lý nhân sự hiện nay có đội ngũ giảng viên có trình độ
từ thạc sỹ trở lên, trong đó 03 PGS.TS, 5 TS, 02 GVCC, 8 GVC Với thế mạnh về chất lượng giảng viên, Khoa trước khi đi vào triển khai đào tạo đã tổ chức tốt công
Trang 37tác biên soạn giáo trình, hệ thống khảo thí, thành lập câu lạc bộ cho sinh viên chuyên ngành và có những buổi tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên Nhờ vậy mà ngay từ khóa đầu tiên, số lượng sinh viên đăng ký vào chuyên ngành này khá cao
và đây cũng là ngành có điểm số đầu vào cao nhất
Trong 650 sinh viên đăng ký thì khóa 9 có 260 sinh viên, khóa 10 có 250 sinh viên, khóa 11 có 110 sinh viên Qua triển khai 03 khóa, Khoa nhận thấy số lượng sinh viên đăng ký chuyên ngành này giảm đi một cách rõ rệt Điều này chứng tỏ việc lựa chọn chuyên ngành này của sinh viên còn chịu nhiều yếu tố tác động Sinh viên có khả năng ra quyết định trong điều kiện thiếu nhiều thông tin
Ngoài chuyên ngành TCNS, các chuyên ngành còn lại hầu như còn gặp rất nhiều khó khăn trong triển khai thực hiện chương trình đào tạo Có những chuyên ngành hiện nay chưa xây dựng được hệ thống giáo trình, ngân hàng đề thi các môn học chuyên ngành Đội ngũ giảng viên rất mỏng Mặc dù tên môn học, mã học phần được xác định song vẫn chưa có đội ngũ giảng viên cơ hữu của trường giảng dạy mà phải mời giảng viên ở các cơ sở khác Với tên chuyên ngành gắn liền với những công việc xuất hiện trong khu vực công như chính sách công, thanh tra, quản lý xã hội đã làm cản trở đến khả năng phát triển nghề nghiệp và cơ hội việc làm trong tương lai bị thu hẹp theo như suy nghĩ của nhiều sinh viên Một số sinh viên khó có khả năng đánh giá được năng lực theo đuổi của mình khi chưa có thông tin đầy đủ của chuyên ngành về mức độ phức tạp của các học phần
Phần lớn là những chuyên ngành mới, mang tính đặc trưng sâu xắc của môi trường nhà nước và truyền thống đào tạo lâu đời của Học viện Hành chính, mức độ danh tiếng của các chuyên ngành còn thấp Chỉ có ngành TCNS là đều được sinh viên cảm nhận và suy nghĩ rất chính xác về mức độ danh tiếng của nó Sự phổ biến cũng như giá trị thị trường được khẳng định nhất là trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay làm cho sinh viên nghĩ nhiều hơn đến chuyên ngành TCNS
Trang 38Tuy nhiên vậy, việc lựa chọn chuyên ngành của sinh viên Học viện Hành chính cũng chịu ảnh hưởng nhiều yếu tố khác như đặc điểm bản thân, gia đình, giới tính, sở trường
Mô hình của D.W Chapman có nhiều thế mạnh khi được áp dụng nghiên cứu trong trường hợp này là mô hình được chọn lựa làm nền tảng để xây dựng mô hình nghiên cứu để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến xu hướng lựa chọn chuyên ngành Với điều kiện đặc thù, mô hình được hiệu chỉnh cho phù hợp, trong đó, yếu
tố cần quan tâm nhất xoay quanh nhân tố đặc điểm của chuyên ngành lựa chọn, đặc điểm của cá nhân và gia đình Kết hợp với mô hình lý thuyết xã hội nghề nghiệp,
cơ hội việc làm hay sự phát triển nghề nghiệp trong tương lai, mức độ danh tiếng của nghề nghiệp cũng được xem xét hiệu chỉnh Sự phát triển nghề nghiệp là một yếu tố quan trọng tác động đến hành vi lựa chọn vì suy cho cùng, mặc dù với những đặc điểm cá nhân thuận lợi, thì song song với nó, những cơ hội, sự kỳ vọng cũng được quan tâm tương tự Điều này sẽ giải thích được rằng trong bối cảnh rất thuận lợi để lựa chọn vì bản thân rất mong muốn nhưng sẽ bị cản trở vì tính tương lai không cho phép
2.2.3 Các giả thuyết nghiên cứu 2.2.3.1 Yếu tố về đặc điểm trường đại học, ngành học
Trong nghiên cứu của mình D.W.Chapman [20] cho rằng các vấn đề mang tính chất đặc thù có liên quan đến các khoản chi phí học tập của người đi học ở trường đại học, ngành học như học phí, vị trí địa lý, chính sách hỗ trợ về chi phí hay môi trường ký túc xá sẽ có ảnh hưởng đến quyết định chọn chuyên ngành bậc đại học của các sinh viên Ví dụ nhiều trường đại học có nhiều cơ sở được phân bố
ở nhiều nơi thì thường sinh viên vẫn thích lựa chọn chuyên ngành nào được học trong nội thành, nơi mọi điều kiện sinh hoạt trở nên dễ dàng hơn Tức có nghĩa là ngành học nào có điều kiện hỗ trợ học tập tốt hơn thì sinh viên có khả năng xu hướng lựa chọn nhiều hơn Dựa vào nhóm yếu tố về đặc điểm trường đại học, giả
Trang 39thuyết H1 đã được hiệu chỉnh cho phù hợp với trường hợp nghiên cứu của đề tài này được phát biểu như sau:
Đối với Học viện Hành chính, các chuyên ngành hầu như giống nhau về chỗ học, ký túc xá, học phí nhưng khác nhau ở chỗ có chuyên ngành hầu như giảng viên cơ hữu của trường không có phải mời các giảng viên ở các cơ sở đào tạo khác
Thông thường, các sinh viên luôn mong muốn có giảng viên tại chỗ của trường giảng dạy hơn Hay có chuyên ngành hầu như chưa có bất kỳ môn học nào là có giáo trình Điều này làm cho sinh viên vô cùng hoang mang trong học tập, ôn thi và
có ảnh hưởng ít nhiều kết kết quả học tập của họ
M.J.Burns và các cộng sự [27] đã bổ sung thêm mức độ hấp dẫn của ngành học sẽ là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của sinh viên
M.J.Burns và các cộng sự [27] đã cho rằng mức độ nổi tiếng và uy tín của trường, khoa, đội ngũ giáo viên danh tiếng cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn chuyên ngành bậc đại học của các sinh viên
Sinh viên Học viện Hành chính có sự đa dạng về đầu vào Trong đó, tỷ lệ sinh viên thi đầu vào khối C cao hơn rất nhiều so với các khối A, D Thường các sinh viên này không thích học những môn học có độ tính toán phức tạp như kinh tế
vĩ mô, toán cao cấp, tài chính công Chuyên ngành nào có những môn học mà có cảm thấy có thể học được vì nó gắn liền với thực tế, lý thuyết nhiều Sự hấp dẫn ở
là như vậy
D.W.Chapman [20] cũng đã khảo sát sự ảnh hưởng của sự mong đợi về học tập trong tương lai đến quyết định chọn chuyên ngành của họ M.J.Burns và các cộng sự [27] đã bổ sung thêm , “tỷ lệ chọi” đầu vào, điểm chuẩn của ngành là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn chuyên ngành bậc đại học của các sinh viên
Dựa trên cơ sở yếu tố về sự đặc thù, đa dạng và hấp dẫn của ngành học giả thuyết H1 sau khi đã được hiệu chỉnh được phát biểu như sau:
Trang 40Giả thuyết H1: Đặc điểm của chuyên ngành càng tốt, hấp dẫn xu hướng chọn chuyên ngành đó càng cao
2.2.3.2 Yếu tố về nỗ lực giao tiếp với sinh viên của Khoa đào tạo chuyên ngành
D.W.Chapman [20] sau nghiên cứu của mình cũng đặc biệt nhấn mạnh sự ảnh hưởng của nỗ lực giao tiếp của các trường với sinh viên đến quyết định chọn trường của các sinh viên Các khoa chuyên ngành phải tổ chức các buổi tư vấn hướng nghiệp Giới thiệu cho sinh viên biết được năng lực đào tạo, những cam kết
hỗ trợ từ phía Khoa, mức độ nhiệt tình sẵn sàng giúp đỡ sinh viên, nỗ lực nâng cao mức cảm nhận về sự tốt đẹp của Khoa trong sinh viên Các thông tin về chuyên ngành như chương trình đào tạo, mức độ hấp dẫn đa dang của các học phần, khả năng phát triển cao hơn ở bậc sau đại học, tính thị trường là những thông tin luôn luôn được mong đợi của sinh viên Khoa tư vấn kịp thời sẽ có tác dụng định hướng nagy từ đâu khi họ con thiếu rất nhiều nguồn lực để quyết định
Hossler và Gallagher [24] còn cho rằng việc tham quan trực tiếp hay các buổi giới thiệu về chuyên ngành cũng ảnh hưởng đến quyết định chọn chuyên ngành bậc đại học của các sinh viên D.W.Chapman [20] còn cho rằng, các tài liệu
có sẵn cũng tác động đến quá trình chọn chuyên ngành bậc đại học của các sinh viên Chọn ngành là một quyết định không đầy đủ thông tin của sinh viên Vì thế, chất lượng thông tin và sự sẵn sàng của thông tin trong tài liệu có sẵn như Website hay các tài liệu in khác sẽ là một hỗ trợ không nhỏ trong quyết định chọn chuyên ngành bậc đại học của các sinh viên
Dựa trên các yếu tố về nỗ lực giao tiếp của trường với sinh viên như tham tham gia các buổi giới thiệu về khoa, ngành học, giới thiệu học bổng, quảng cáo trên báo, tạp chí, TV và sự đầy đủ và chất lượng thông tin được cung cấp trong các tài liệu có sẵn, giả thuyết H2 được phát biểu như sau:
Giả thuyết H2: Khoa nỗ lực trong tư vấn chọn ngành đến sinh viên càng nhiều, sinh viên sẽ chọn chuyên ngành đó nhiều hơn