1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ UEH nghiên cứu cấu trúc tài chính ảnh hưởng đến nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh

125 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Cấu Trúc Tài Chính Ảnh Hưởng Đến Nợ Vay Ngân Hàng Của Các Doanh Nghiệp Niêm Yết Trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Võ Thị Thúy Hằng
Người hướng dẫn PGS-TS. Trầm Thị Xuân Hương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Tp.Hcm
Chuyên ngành Tài Chính - Ngân Hàng
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 2,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi xin cam đoan luận văn “NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC TÀI CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỢ VAY NGÂN HÀNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” là công trình n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

-oOo -

VÕ THỊ THÚY HẰNG

NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC TÀI CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỢ VAY NGÂN HÀNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh, Năm 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

-oOo -

VÕ THỊ THÚY HẰNG

NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC TÀI CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỢ VAY NGÂN HÀNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS-TS TRẦM THỊ XUÂN HƯƠNG

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn “NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC TÀI CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỢ VAY NGÂN HÀNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” là

công trình nghiên cứu của chính tác giả, nội dung được đúc kết từ quá trình học tập và các kết quả nghiên cứu thực tiễn trong thời gian qua, các số liệu sử dụng là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS-TS Trầm Thị Xuân Hương

Thành phố Hồ Chí Minh, Ngày 28 tháng 11 nam 2012

Tác giả luận văn

VÕ THỊ THÚY HẰNG

Trang 4

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới:

Ban Giám hiệu và Khoa đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu trong suốt thời gian qua

Quý Thầy Cô Trường Đại học Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy cho tôi trong suốt quá trình tham gia học tập tại Trường

PGS-TS Trầm Thị Xuân Hương đã tận tình hướng dẫn,

và có những ý kiến đóng góp quý báu đã giúp tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi nhất và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Trân trọng cảm ơn,

Thành phố Hồ Chí Minh, Ngày 28 tháng 11 nam 2012

Tác giả luận văn

VÕ THỊ THÚY HẰNG

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ADB : Ngân hàng phát triển Châu Á (Asian Development Bank) BASEL : Ủy ban giám sát ngân hàng quốc tế

OECD : Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organisation for Economic

Co-operation and Development) GDP : Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product) Tp.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 2.1 : Ký hiệu các biến trong mô hình 35

Bảng 2.2 : Tóm tắt các kết quả lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm 36

Bảng 2.3 : Danh sách ngành và số lượng doanh nghiệp khảo sát 43

Bảng 3.1 : Tóm tắt mô tả thống kê các biến phụ thuộc 46

Bảng 3.2 : Tóm tắt mô tả thống kê các biến độc lập 47

Bảng 3.3 : Kết quả kiểm định Hausman mô hình 1 49

Bảng 3.4 : Tác động các biến độc lập đến cấu trúc tài chính 50

Bảng 3.5 : Kiểm định sự bằng nhau của các tác động cố định 50

Bảng 3.6 : Hệ số tác động cố định của các yếu tố tác động lên cấu trúc tài chính51 Bảng 3.7 : Kết quả kiểm định Anova mô hình 1 52

Bảng 3.8 : Kết quả kiểm định Levene’s mô hình 1 52

Bảng 3.9 : Kết quả kiểm định Hausman mô hình 2 54

Bảng 3.10 : Tác động các biến độc lập đến nợ vay ngân hàng ngắn hạn 55

Bảng 3.11 : Kiểm định sự bằng nhau của các tác động cố định 55

Bảng 3.12 : Hệ số tác động cố định của các yếu tố tác động lên nợ vay ngân hàng ngắn hạn theo từng công ty 56

Bảng 3.13 : Kết quả kiểm định Anova mô hình 2 57

Bảng 3.14 : Kết quả kiểm định Levene’s mô hình 2 57

Bảng 3.15 : Kết quả kiểm định Hausman mô hình 3 59

Bảng 3.16 : Tác động các biến độc lập đến nợ vay ngân hàng dài hạn 60

Bảng 3.17 : Kiểm định sự bằng nhau của các tác động cố định 60

Bảng 3.18 : Hệ số tác động cố định của các yếu tố tác động lên nợ vay ngân hàng dài hạn 61

Bảng 3.19 : Kết quả kiểm định Anova mô hình 3 62

Bảng 3.20 : Kết quả kiểm định Levene’s mô hình 3 62

Bảng 3.21 : Kết quả kiểm định Hausman mô hình 4 64

Trang 7

Bảng 3.23 : Hệ số tác động ngẫu nhiên của cấu trúc tài chính lên nợ vay ngân

hàng ngắn hạn 66 Bảng 3.24 : Kết quả kiểm định Hausman mô hình 5 67

Bảng 3.25 : Tác động của cấu trúc tài chính đến nợ vay ngân hàng dài hạn 68

Bảng 3.26 : Hệ số tác động ngẫu nhiên của cấu trúc tài chính lên nợ vay ngân

hàng dài hạn 69 Bảng 3.27 : Tổng hợp kết quả nghiên cứu của 5 mô hình 70

Bảng 3.28 : Tình hình vay nợ của 170 doanh nghiệp khảo sát từ 2008 – 2011 74

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VẼ

Trang

Hình 1.1 : Cấu trúc vốn tối ưu và giá trị doanh nghiệp 10

Hình 1.2 : Trật tự phân hạng của các lựa chọn tài trợ 11

Hình 3.1 : Tổng nợ theo ngành từ năm 2008 – 2011 75

Hình 3.2 : Tổng nợ vay ngân hàng theo ngành từ năm 2008 – 2011 76

Trang 9

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Trang

Phụ lục 1 : Danh sách các doanh nghiệp chọn mẫu khảo sát 91

Phụ lục 2 : Mối quan hệ tác động của cấu trúc tài chính giữa các ngành theo kiểm định Tamhane mô hình 1 97

Phụ lục 3 : Mối quan hệ tác động của nợ vay ngắn hạn giữa các ngành theo kiểm định Tamhane mô hình 2 102

Phụ lục 4 : Mối quan hệ tác động của nợ vay dài hạn giữa các ngành theo kiểm định Tamhane mô hình 2 105

Phụ lục 5 : Quy trình cho vay 108

Phụ lục 6 : Bộ chị tiêu của cấu trúc tài chính 110

Phụ lục 7 : Bộ chỉ tiêu của nợ vay ngân hàng 112

Trang 10

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN LỜI CẢM ƠN DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

TÍNH CẤP THIẾT VÀ XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 3

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỢ VAY NGÂN HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP 4

1.1 CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 4

1.1.1 Khái niệm cấu trúc tài chính 4

1.1.2 Các thành phần của cấu trúc tài chính 5

1.1.3 Một số lý thuyết về cấu trúc tài chính của doanh nghiệp 6

1.1.3.1 Lý thuyết MM của Modigliani và Miller 6

1.1.3.2 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn 7

1.1.3.3 Lý thuyết trật tự phân hạng 9

1.1.3.4 Lý thuyết chi phí đại diện 10

1.1.3.5 Lý thuyết tín hiệu 11

1.2 NỢ VAY NGÂN HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP 12

1.2.1 Khái niệm nợ vay ngân hàng 12

1.2.2 Rủi ro tín dụng 13

1.2.3 Các lý thuyết liên quan nợ vay ngân hàng 15

1.2.3.1 Lý thuyết 5 C 16

1.2.3.2 Lý thuyết 5 P 17

Trang 11

1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC TÀI CHÍNH VÀ NỢ VAY NGÂN

HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP 20

1.4 CÁC NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH ẢNH HƯỞNG NỢ VAY NGÂN HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP 23

1.4.1 Lợi nhuận 23

1.4.2 Tài sản hữu hình 24

1.4.3 Thuế thu nhập doanh nghiệp 25

1.4.4 Quy mô doanh nghiệp 26

1.4.5 Cơ hội tăng trưởng 28

1.4.6 Thời gian niêm yết 29

1.4.7 Tính thanh khoản 30

1.4.8 Đặc điểm riêng của sản phẩm 30

1.4.9 Doanh thu 31

1.4.10 Ngành 31

Chương 2: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CẤU TRÖC TÀI CHÍNH TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ VAY NGÂN HÀNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 34

2.1 KÝ HIỆU BIẾN NGHIÊN CỨU 34

2.2 TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 35

2.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 36

2.2.1 Mô hình 1: Mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa các nhân tố tác động đến cấu trúc tài chính 37

2.2.2 Mô hình 2: Mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến nợ vay ngân hàng ngắn hạn 38

2.2.3 Mô hình 3: Mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến nợ vay ngân hàng dài hạn 39

2.2.4 Mô hình 4: Nghiên cứu cấu trúc tài chính tác động đến nợ vay ngân hàng ngắn hạn 40

2.2.5 Mô hình 5: Nghiên cứu cấu trúc tài chính tác động đến nợ vay ngân hàng dài hạn 40

Trang 12

2.3 NGUỒN SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THU THẬP DỮ LIỆU 41

2.3.1Nguồn số liệu khảo sát 41

2.3.2Đặc điểm của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM 41

2.3.2Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 43

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CẤU TRÖC TÀI CHÍNH TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ VAY NGÂN HÀNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 45

3.1 MÔ TẢ THỐNG KÊ CÁC BIẾN PHỤ THUỘC VÀ BIẾN ĐỘC LẬP 45

3.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH 1 48

3.2.1 Kiểm định Hausman 48

3.2.2 Kết quả ước lượng 48

3.2.3 Kiểm định mô hình 49

3.2.4 Phân tích sự khác biệt về cấu trúc tài chính giữa các ngành trong nghiên cứu 51

3.3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH 2 53

3.3.1 Kiểm định Hausman 53

3.3.2 Kết quả ước lượng 53

3.3.3 Kiểm định mô hình 54

3.3.4 Phân tích sự khác biệt về nợ vay ngân hàng ngắn hạn giữa các ngành trong nghiên cứu 56

3.4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH 3 58

3.4.1 Kiểm định Hausman 58

3.4.2 Kết quả ước lượng 58

3.4.3 Kiểm định mô hình 59

2.4.4 Phân tích sự khác biệt về nợ vay ngân hàng dài hạn giữa các ngành trong nghiên cứu 61

3.5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH 4 63

3.5.1 Kiểm định Hausman 63

Trang 13

3.6 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH 5 66

3.6.1 Kiểm định Hausman 66

3.6.2 Kết quả ước lượng 66

3.7 PHÁT HIỆN MỚI TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 68

3.8 HẠN CHẾ CỦA MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 73

3.9 ĐÁNH GIÁ VIỆC SỬ DỤNG VỐN VAY CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HCM 73

Chương 4: ĐỀ XUẤT THEO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT, NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 78

4.1 ĐỀ XUẤT THEO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT, NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 78

4.1.1 Đối với các nhà nghiên cứu 78

4.1.2 Đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư 78

4.1.3 Đối với ngân hàng 79

4.1.4 Đối với Chính phủ 80

4.2 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI LÀ CƠ SỞ NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 82

KẾT LUẬN CHUNG 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

PHỤ LỤC 1 90

PHỤ LỤC 2 96

PHỤ LỤC 3 101

PHỤ LỤC 4 104

PHỤ LỤC 5 107

PHỤ LỤC 6 109

PHỤ LỤC 7 111

Trang 14

LỜI MỞ ĐẦU TÍNH CẤP THIẾT VÀ XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Theo xu thế phát triển của nền kinh tế xã hội thì các tổ chức tài chính ở Việt Nam ngày càng phát triển, đặc biệt là sự phát triển của các ngân hàng thương mại trong những năm gần đây, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận với vốn đi vay đáp ứng với nhu cầu cần thiết của doanh nghiệp mình

Từ năm 2008 đến nay, diễn biến kinh tế vĩ mô của các quốc gia trên thế giới

và Việt Nam phức tạp; thị trường tài chính thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng bắt đầu gặp khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu Năm 2011,

9 tháng đầu năm 2012 và những năm tiếp theo tiếp tục là những năm khó khăn

Điều đó làm ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng nợ vay và tiếp cận nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp Việt Nam Theo số liệu từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cho biết 9 tháng đầu năm 2012, có hơn 40 nghìn doanh nghiệp đang gặp khó khăn, phải giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2011 Điều đáng lưu ý là từ đầu năm 2011 cho đến hết Quý III năm 2012 đã có khoảng xấp xỉ 100.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể và phá sản Con số này rất lớn, trong khi các năm trước, mỗi năm chỉ có khoảng 5 – 7.000 doanh nghiệp giải thể và phá sản Nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động không hiệu quả và mất khả năng thanh khoản, khoản nợ tăng lên trong cấu trúc tài chính của doanh nghiệp mà trong

đó chủ yếu là nợ vay ngân hàng, một gánh nặng cho doanh nghiệp, từ thực tế này, tác giả đặt ra vấn đề cần nghiên cứu cấu trúc tài chính ảnh hưởng đến nợ vay ngân hàng như thế nào?

Từ trước đến nay, hầu hết các nghiên cứu liên quan cấu trúc tài chính đều không đề cập đến nợ vay hoặc một số nghiên cứu số liệu khảo sát chỉ dừng lại ở 1 năm nên chưa thấy được tác động theo thời gian,

Do vậy, tác giả tiến hành thu thập số liệu 4 năm để xây dựng mô hình tìm ra mối quan hệ để chứng minh sự ảnh hưởng của cấu trúc tài chính đến nợ vay ngân hàng với mẫu nghiên cứu 170 doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng

Trang 15

nghiệm để tiến hành các nghiên cứu tiếp theo của họ; cung cấp cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư những bằng chứng làm cơ sở trong công tác quản trị doanh nghiệp; giúp các ngân hàng trong công tác xây dựng các chỉ tiêu chấm điểm xếp hạng tín dụng khi thẩm định cho vay; và cuối cùng kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cho các cơ quan Nhà nước có thêm thông tin thực nghiệm để từ đó xây dựng hoặc sửa đổi các chính sách tài kinh tế - tài chính nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động của các doanh nghiệp cũng như giảm nợ xấu của hệ thống ngân hàng.

Luận văn thạc sĩ kinh tế với đề tài “ Nghiên cứu cấu trúc tài chính ảnh hưởng đến nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” là thực sự cần thiết trong tình hình thực tiễn hiện nay

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Với những lý thuyết về cấu trúc tài chính, lý thuyết nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp và các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước kết hợp với thực tiễn tại Việt Nam trong thời gian qua, tác giả xây dựng mô hình các nhân tố để làm rõ mối quan hệ giữa cấu trúc tài chính và nợ vay ngân hàng

Kết quả nghiên cứu sẽ trả lời các câu hỏi sau đây:

- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của một doanh nghiệp?

- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến việc lựa chọn nguồn tài trợ ngắn hạn, dài hạn của các doanh nghiệp hay ngân hàng xây dựng chính sách tín dụng cần xem xét đến những nhân tố nào liên quan đến quyết định đi vay của doanh nghiệp?

- Mối quan hệ giữa cấu trúc tài chính và nợ vay ngân hàng theo chiều hướng như thế nào?

Kết quả nghiên cứu được vận dụng trong việc nghiên cứu tiếp theo của các nhà nghiên cứu; vận dụng đối với các doanh nghiệp niêm yết, các ngân hàng thương mại tại Thành phố Hồ Chí Minh

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: Cấu trúc tài chính và các khoản nợ vay ngân hàng

của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh

Trang 16

- Phạm vi nghiên cứu: tác giả sử dụng số liệu báo cáo tài chính từ năm 2008

đến năm 2011 của 170 doanh nghiệp thuộc 11 ngành (ngoại trừ các doanh nghiệp hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm thuộc mã ngành K theo danh sách phân ngành của Ủy ban chứng khoán Nhà nước Việt Nam năm 2011) niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đã được kiểm toán bởi Công ty kiểm toán độc lập theo quy định của Bộ Tài chính Tác giả chọn mẫu hơn 50% số lượng doanh nghiệp tính đến cuối ngày 31/12/2011 theo từng nhóm ngành được phân loại theo Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Tác giả sử dụng các phương pháp thu thập dữ liệu từ các phương tiện thông tin đại chúng đáng tin cậy, các tài liệu chuyên ngành, các kết quả nghiên cứu trước đó

- Sử dụng các phương pháp tính toán, so sánh, làm sạch dữ liệu trước khi đưa vào mô hình tính toán

- Xây dựng các nhân tố đưa vào mô hình kinh tế lượng, bằng phương pháp hồi quy tuyến tính

- Sử dụng các chương trình như Microsoft Office Excel, Eviews để hỗ trợ tính toán trong nghiên cứu

KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Luận văn được chia làm 4 chương Bao gồm:

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN

NỢ VAY NGÂN HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP Chương 2: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CẤU TRÖC TÀI CHÍNH TÁC ĐỘNG

ĐẾN NỢ VAY NGÂN HÀNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CẤU TRÖC TÀI CHÍNH TÁC ĐỘNG

ĐẾN NỢ VAY NGÂN HÀNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chương 4: VẬN DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI DOANH

NGHIỆP NIÊM YẾT, NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI

Trang 17

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỢ VAY NGÂN HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1.1 Khái niệm cấu trúc tài chính

Cấu trúc tài chính là cơ cấu các loại nguồn vốn hình thành nên các loại tài sản của doanh nghiệp Cơ cấu các loại nguồn vốn là sự kết hợp các khoản nợ ngắn hạn, các khoản nợ trung dài hạn và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Hay nói cách khác cấu trúc tài chính là cấu trúc các nguồn tài trợ cho hoạt động của một doanh nghiệp, bao gồm tài trợ bằng vốn chủ sở hữu và tài trợ bằng vốn vay

Khi tài sản được hình thành từ vốn vay có nghĩa là doanh nghiệp đã sử dụng đòn bẩy tài chính, đồng nghĩa với việc tạo ra một cấu trúc tài chính mới Chính vì vậy, mà thuật ngữ đòn bẩy tài chính cũng hàm ý cấu trúc tài chính của doanh nghiệp

Sử dụng đòn bẩy tài chính để đánh giá mức độ mà một doanh nghiệp tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình bằng vốn vay Khi một doanh nghiệp vay tiền, doanh nghiệp luôn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi, các cổ đông chỉ nhận được những gì còn lại sau khi chi trả cho chủ nợ Do đó, vay nợ được xem như là tạo ra đòn bẩy Đối với ngân hàng, căn cứ vào đòn bẩy tài chính để ấn định mức lãi suất cho vay Đối với doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính sẽ giúp cho nhà quản lý lựa chọn cấu trúc tài chính hợp lý nhất cho doanh nghiệp Thông qua đòn bẩy tài chính nhà đầu tư thấy được rủi ro về tài chính của doanh nghiệp và từ đó dẫn đến các quyết định đầu tư của mình

Cấu trúc tài chính là một khái niệm trừu tượng, nên khi nghiên cứu về lĩnh vực này, các nhà nghiên cứu đã cụ thể hóa bằng nhiều cách đo khác trong các công trình của mình Đây là một vấn đề cần quan tâm vì mỗi cách đo lường khác nhau đều ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu, không giống như các định nghĩa phổ biến trong các giáo trình tài chính Rajan và Zingales (1995) cho rằng định nghĩa về cấu trúc tài chính tùy thuộc vào mục tiêu phân tích Theo đó, cấu trúc tài chính cũng hàm ý đòn bẩy tài chính hay đòn bẩy nợ Do vậy, tác giả sử dụng chỉ tiêu tổng nợ

Trang 18

trên tổng tài sản để đại diện cho cấu trúc tài chính nhằm phản ánh mức độ sử dụng

nợ trong cấu trúc tài chính của từng doanh nghiệp và được tính toán như :

Tổng nợ

(1.1) Tổng tài sản

1.1.2 Các thành phần của cấu trúc tài chính

Vốn chủ sở hữu: là các nguồn vốn thuộc sở hữu của doanh nghiệp Nguồn

vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm: vốn đầu tư của chủ sở hữu, thặng dư vốn cổ phần, các khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá, các quỹ và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối Đặc trưng của nguồn vốn chủ sở hữu là thời gian sử dụng nguồn vốn dài, không chịu áp lực trả nợ và tạo điều kiện để huy động các nguồn vốn khác

Nợ phải trả: bao gồm nợ ngắn hạn và dài hạn như: phải trả người bán, người

mua trả tiền trước, các khoản nợ thuế, nợ người lao động, nợ vay ngân hàng hay nợ vay các tổ chức tài chính khác, phát hành các công cụ nợ, thuê tài sản, các nguồn vốn chiếm dụng khác,…Nợ phải trả của doanh nghiệp có đặc trưng là thời hạn sử dụng có giới hạn và phải chịu áp lực trả nợ

Sự kết hợp của nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư để hình thành nên tài sản của một doanh nghiệp Khi nói đến cấu trúc tài chính là nói đến nợ và vốn chủ sở hữu và mục tiêu của một doanh nghiệp là hướng tới một cấu trúc tài chính tối ưu

Cấu trúc tài chính tối ưu là cấu trúc tài chính mà tại đó tối đa hóa giá trị doanh nghiệp (lợi nhuận của cổ đông được tối đa), tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn và tối thiểu hóa rủi ro Đây được xem như là bộ ba cần đạt được của bất kỳ một doanh nghiệp nào nhưng lại là bộ ba bất khả thi Theo quan điểm trên thì cấu trúc tài chính tối ưu chỉ tồn tại trên lý thuyết Trên thực tế, nợ cao luôn song hành với rủi ro cao

Một doanh nghiệp có sử dụng nợ cao sẽ mang lại lợi ích nhiều hơn cho cổ đông từ tấm chắn thuế của lãi vay

Trang 19

đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo ra cho mình một lợi nhuận trước thuế và lãi vay lớn hơn hoặc bằng với phần chi phí lãi vay để có nguồn trả nợ, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải luôn có dòng tiền dương Bên cạnh đó, khi doanh nghiệp vay nợ càng nhiều thì các cổ đông đòi hỏi một tỷ suất sinh lời cao hơn cho phần vốn góp của mình và chủ nợ yêu cầu chi phí phải trả cho mỗi đồng nợ tăng thêm cũng cao hơn

Do vậy, không thể khẳng định các doanh nghiệp nên vay bao nhiêu là đủ trong cấu trúc tài chính của mình và lựa chọn sử dụng bao nhiêu nợ tùy thuộc vào đặc thù của từng doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định Chính vì thế, không thể

áp dụng một cấu trúc tài chính tối ưu cho tất cả các doanh nghiệp Do vậy, mỗi một doanh nghiệp có thể xác định cho mình một cấu trúc tài chính riêng để tìm kiếm lợi nhuận cao, chi phí sử dụng vốn, rủi ro thấp thì phải dựa vào những cơ sở lý thuyết

và những nghiên cứu thực nghiệm trước đó về cấu trúc tài chính

1.1.3 Một số lý thuyết về cấu trúc tài chính của doanh nghiệp 1.1.3.1 Lý thuyết MM của Modigliani và Miller

Năm 1958, lý thuyết MM (Franco Modigliani và Merton Miller) cho rằng trong thị trường hoàn hảo thì chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp và giá trị của doanh nghiệp độc lập với cấu trúc vốn Đây là lý thuyết quan trọng làm tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo của các nhà kinh tế học

Năm 1963, Modigliani và Miller tiếp tục nghiên cứu và đưa ra quan điểm mới về tính liên quan giữa cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp với việc có tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp Trong trường hợp có thuế, giá trị một doanh nghiệp sử dụng nợ bằng giá trị doanh nghiệp không sử dụng nợ ở cùng một dạng rủi ro cộng với khoản lợi từ việc sử dụng nợ (khoản lợi này chính là hiện giá của tấm chắn thuế do sử dụng nợ, giá trị của tấm chắn thuế hàng năm bằng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp nhân với tỷ lệ lãi vay và nhân với giá trị nợ) Như vậy, theo MM việc sử dụng nợ hay tỷ số nợ tăng lên làm gia tăng giá trị doanh nghiệp vì chi phí lãi vay là một khoản chi phí được khấu trừ trong thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp nên khi doanh nghiệp sử dụng nợ vay để tài trợ sẽ xuất hiện khoản tiết kiệm bằng tiền tăng thêm đối với các nhà đầu tư

Giá trị doanh = Giá trị nếu được tài trợ hoàn + PV (1.2)

Trang 20

nghiệp toàn bằng vốn cổ phần (tấm chắn thuế)

[17, trang 372]

Như vậy, theo MM thì các doanh nghiệp muốn nâng cao giá trị doanh nghiệp thì phải gia tăng sử dụng nợ trong cấu trúc tài chính của mình Nhưng trên thực tế, nhiều doanh nghiệp có mức sinh lợi cao nhưng không có sử dụng nợ hoặc có cũng ở mức độ thấp Để giải thích điều này, Miller đã lập luận rằng tiết kiệm thuế ròng từ

nợ vay của doanh nghiệp có thể bằng không khi xem xét cả thuế thu nhập cá nhân (Tp hoặc TpE) cũng như thuế thu nhập doanh nghiệp (Tc) Lãi từ việc tài trợ bằng nợ không chịu thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng chịu thuế thu nhập cá nhân Lợi nhuận vốn cổ phần chịu thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng phần lớn có thể tránh được thuế thu nhập cá nhân nếu là lãi vốn Như vậy, thuế suất thuế thu nhập cá nhân thực tế đánh trên lợi nhuận cổ phần (TpE) thường thấp hơn thuế suất thuế thu nhập

cá nhân thông thường áp dụng cho lãi từ chứng khoán nợ (Tp) Điều này làm giảm lợi thế tương đối của nợ:

1-Tp Lợi thế tương đối của nợ = - (1.3)

(1-TpE)(1-Tc) Nếu lãi từ chứng khoán nợ và lợi nhuận vốn cổ phần chịu thuế suất bằng thuế suất thuế thu nhập cá nhân thì lợi thế tương đối bằng 1/(1-Tc) [17, trang 373]

Lý thuyết MM về cấu trúc vốn1 được xem là lý thuyết hiện đại lý giải quan

hệ giữa giá trị doanh nghiệp, chi phí sử dụng vốn và mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp Đây là lý thuyết quan trọng làm tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo của các nhà kinh tế học

1.1.3.2 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn

Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn đề cập đến việc doanh nghiệp sẽ quyết định

1

Cấu trúc vốn (Capital structure) Trong phần liên quan đến các lý thuyết về cấu trúc tài chính của luận văn này, tác giả sử dụng thuật ngữ “cấu trúc vốn” hàm ý là cấu trúc tài chính Cấu trúc vốn của doanh nghiệp bao

Trang 21

tài trợ bao nhiêu nợ và bao nhiêu vốn chủ sở hữu cho các hoạt động của mình nhằm cân đối giữa chi phí và lợi nhuận Lý thuyết đánh đổi cấu trúc xem xét ƣu nhƣợc điểm của các nguồn tài trợ và thừa nhận các tỷ lệ nợ mục tiêu có thể khác nhau giữa các doanh nghiệp2 Khi tài trợ bằng nợ thì chi phí lãi vay sẽ đƣợc khấu trừ trong thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp, do vậy làm tăng lợi nhuận sau thuế, làm tăng giá trị doanh nghiệp từ đó làm tăng thu nhập trên mỗi cổ phần cho các cổ đông Tuy nhiên, nếu sử dụng nợ nhiều sẽ làm tăng chi phí khốn khó tài chính3 và từ đó làm gia tăng rủi ro vỡ nợ Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn cho rằng doanh nghiệp nên sử dụng nợ đến điểm tại đó giá trị biên của lá chắn thuế bằng với chi phí khốn khó tài chính biên (Frank và Goyal, 2007) Khi đó doanh nghiệp đạt đƣợc cấu trúc vốn tối

ƣu (Hình 1.1)

Điểm xác định cấu trúc vốn tối ƣu là tại đó với mỗi lƣợng nợ tăng thêm thì:

PV(tấm chắn thuế) = PV( chi phí khốn khó tài chính) (1.4)

Hình 1.1 cho thấy giá trị doanh nghiệp đƣợc phân thành ba phần:

Giá trị doanh nghiệp

=

Giá trị nếu đƣợc tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần

+

PV (tấm chắn thuế)

-

PV (chi phí khốn khó tài chính)

(1.5)

[17, trang 379]

2

Các doanh nghiệp có tài sản hữu hình an toàn và nhiều thu nhập chịu thuế để đƣợc khấu trừ nên có tỷ lệ nợ mục tiêu cao Các doanh nghiệp không sinh lợi có các tài sản vô hình nhiều rủi ro nên dựa chủ yếu vào tài trợ vốn cổ phần

3 Chi phí khốn khó tài chính dịch từ “Financial distress cost.”

Trang 22

Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn giải thích mỗi một ngành thì các doanh nghiệp xác định cho mình một tỷ lệ nợ tối ưu, nhưng chưa giải thích được tại sao các doanh nghiệp sinh lợi nhất trong cùng ngành thường có cấu trúc vốn bảo thủ nhất (vay ít nhất)

1.1.3.3 Lý thuyết trật tự phân hạng

Lý thuyết trật tự phân hạng khắc phục được nhược điểm của lý thuyết đánh đổi là giải thích được tại sao các doanh nghiệp sinh lợi nhất lại có cấu trúc vốn bảo thủ nhất Trật tự phân hạng là kết quả của thông tin bất cân xứng Thông tin bất cân xứng dùng để chỉ rằng nhà quản lý biết nhiều về các tiềm năng cũng như rủi ro và các giá trị của doanh nghiệp mình hơn là các nhà đầu tư từ bên ngoài Do thông tin bất cân xứng giữa người bên trong và người bên ngoài, các doanh nghiệp sẽ thích tài trợ bởi các nguồn vốn bên trong hơn là nguồn vốn bên ngoài Nếu các khoản tài trợ bên ngoài là không thể tránh khỏi thì các khoản nợ ít rủi ro sẽ được ưu tiên sử dụng và cuối cùng là khoản tăng vốn góp thông qua việc huy động các cổ đông mới (Myers và Majluf, 1984)

Hình 1.2 cho thấy một trật tự phân hạng, theo đó đầu tư của doanh nghiệp sẽ được tài trợ trước tiên bằng vốn nội bộ, chủ yếu là lợi nhuận giữ lại; rồi mới đến vay nợ mới; và cuối cùng phát hành vốn cổ phần mới

Hình 1.1 : Cấu trúc vốn tối ưu và giá trị doanh nghiệp

VU

VL = VU + TcD

Giá trị thị trường doanh nghiệp (V)

Tỷ lệ nợ (D)

D *

Tỷ lệ nợ tối ưu

PV(chi phí khốn khó tài chính)

PV (tấm chắn thuế)

Giá trị doanh nghiệp

Trang 23

Lý thuyết trật tự phân hạng nhấn mạnh đến giá trị của các thặng dư tài chính4 Có thặng dư tài chính thì doanh nghiệp sẽ ưu tiên lựa chọn tài trợ bằng vốn nội bộ trước mặc dù chi phí sử dụng vốn cao Điều đó làm cho nợ vay ngân hàng giảm trong cấu trúc tài chính của doanh nghiệp

Theo lý thuyết trật tự phân hạng các doanh nghiệp có khả năng sinh lời nhất thường vay ít và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp trong ngành tương quan nghịch với cấu trúc tài chính

Lý thuyết trật tự phân hạng chưa giải thích các khác biệt trong cấu trúc tài chính giữa các ngành Năm 1984, hai nhà nghiên cứu Myers và Majluf cho rằng sẽ không có một cấu trúc vốn tối ưu áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp Lý thuyết này về sau được mở rộng bởi nhiều nhà nghiên cứu khác như Krasker (1986), Brennan và Kraus (1987), Noe (1988)

1.1.3.4 Lý thuyết chi phí đại diện

Vấn đề đại diện luôn chứa đựng mâu thuẫn tiềm tàng về lợi ích giữa chủ nợ,

cổ đông và người quản lý doanh nghiệp trong quản trị tài chính Và chi phí đại diện

là chi phí phát sinh mà người chủ sở hữu doanh nghiệp phải gánh chịu khi có sự

4

Thặng dư tài chính (hay dòng tiền thừa hay còn gọi là dòng tiền tự do của doanh nghiệp): Financial Slack

ĐẦU TƯ

Vốn nội bộ chủ yếu là lợi nhuận giữ lại

Phát hành

nợ mới hay vay nợ ngân hàng

Phát hành

cổ phần mới

Khi doanh nghiệp đã sử dụng hết khả năng vay nợ, khi có mối đe dọa của các chi phí khốn khó tài chính

Hình 1.2: Trật tự phân hạng của các lựa chọn tài trợ

Trang 24

tách bạch giữa quyền sở hữu (owership) và quyền quản lý (control) Do vậy, một tỷ

lệ nợ cao sẽ gây áp lực trả nợ cho các nhà quản lý, điều đó sẽ hạn chế nhà quản lý đầu tư vào các dự án có nhiều rủi ro (Theo Brealey, Myers và Stewart, 2008)

Bài nghiên cứu năm 1976 của Jenshen và Meckling cho rằng có hai dạng mâu thuẫn về đại diện: mâu thuẫn giữa cổ đông và nhà quản lý doanh nghiệp và mâu thuẫn giữa cổ đông và chủ nợ Chính sự mâu thuẫn cơ bản này đã tạo nên chi phí đại diện Và cho rằng một cấu trúc vốn tối ưu có thể đạt được bằng việc cân đối giữa chi phí đại diện với lợi ích do sử dụng nợ, chi phí đại diện làm giảm lợi ích do

sử dụng nợ để tài trợ

Tóm lại, theo lý thuyết chi phí đại diện thì doanh nghiệp nên sử dụng vốn vay trong cấu trúc tài chính của mình Tức là, nợ vay ngân hàng sẽ tăng lên trong cấu trúc tài chính, điều đó, gây áp lực trả nợ cho các nhà quản lý sẽ làm giảm chi phí đại diện

1.1.3.5 Lý thuyết tín hiệu

Việc lựa chọn cấu trúc vốn của một doanh nghiệp có thể truyền những dấu hiệu cho người đầu tư bên ngoài về thông tin của người bên trong doanh nghiệp Lý thuyết này bắt đầu từ công trình của Ross (1977) và Lyland, Pyle (1977) Theo đó, nhà quản lý biết rõ hơn nhà đầu tư bên ngoài về triển vọng của doanh nghiệp Khi doanh nghiệp được dự báo sẽ có triển vọng hoạt động tốt, nhà quản lý không muốn chia sẻ lợi nhuận với những người chủ sở hữu mới, tức là họ lựa chọn hình thức sử dụng thêm nợ vay ngân hàng, nợ vay ngân hàng sẽ tăng lên Ngược lại, khi doanh nghiệp dự báo có triển vọng không sáng sủa, nhà quản lý mong muốn chia sẻ những rủi ro này với những người chủ mới của doanh nghiệp Do vậy, khi một doanh nghiệp công bố phát hành thêm cổ phần mới hay vay nợ, sự kiện này có thể được coi là đang cung cấp một tín hiệu cho thị trường tài chính về viễn cảnh tương lai của doanh nghiệp Các hành động làm tăng nợ vay trong cấu trúc tài chính thường gắn với thu nhập cổ phần dương và ngược lại các hành động làm giảm nợ vay trong cấu trúc tài chính thường gắn với thu nhập cổ phần âm

Trang 25

1.2 NỢ VAY NGÂN HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.2.1 Khái niệm nợ vay ngân hàng

Nợ vay ngân hàng của doanh nghiệp là một khoản tiền được ngân hàng cho doanh nghiệp vay, nhằm sử dụng vào mục đích tài trợ cho hoạt động kinh doanh và

có thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi

Nợ vay ngân hàng của doanh nghiệp được cấu thành nên cấu trúc tài chính của doanh nghiệp Tùy theo quyết định tài trợ cũng như nhu cầu của doanh nghiệp

mà ngân hàng thiết kế các sản phẩm phù hợp tương ứng với các thể loại ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ

và các dự án đầu tư phát triển của doanh nghiệp Và phần nợ vay ngân hàng là một

bộ phận của nợ phải trả trong cấu trúc tài chính của doanh nghiệp, bao gồm: nợ vay ngân hàng ngắn hạn và nợ vay ngân hàng dài hạn đến hạn trả; nợ vay ngân hàng dài hạn

Khi xem xét các nhân tố tác động đến nợ vay ngân hàng ngắn hạn, nợ vay ngân hàng dài hạn của doanh nghiệp, chúng ta cần xem xét doanh nghiệp đã sử dụng bao nhiêu nợ vay ngân hàng để tài trợ cho tổng tài sản Do vậy, nợ vay ngân hàng ngắn hạn và nợ vay ngân hàng dài hạn của doanh nghiệp được tính toán như sau:

Tỷ lệ nợ vay ngân

hàng ngắn hạn =

Nợ vay ngân hàng ngắn hạn

(1.6) Tổng tài sản

Tỷ lệ nợ vay ngân

hàng dài hạn =

Nợ vay ngân hàng dài hạn

(1.7) Tổng tài sản

Trong hoạt động cho vay (hoạt động tín dụng) của ngân hàng, đôi khi ngân hàng không thu hồi được vốn gốc và lãi do khách hàng sử dụng vốn không đạt hiệu quả dẫn đến không trả được nợ vay ngân hàng Trường hợp ngân hàng không thu hồi được tiền cho vay được xem là rủi ro tín dụng

Trang 26

1.2.2 Rủi ro tín dụng

Rủi ro là sự không chắc chắn liên quan đến sự tổn thất hay mất mát trong tương lai Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực

tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định

Rủi ro tín dụng là loại rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra, có thể khiến ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng, phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng

Rủi ro tín dụng theo Basel 2 “là khả năng một bên vay hay đối tác của ngân hàng thất bại trong việc thực hiện các nghĩa vụ theo các điều khoản đã thỏa thuận”

Trường hợp không có rủi ro, nguồn thu của ngân hàng trong quá trình cấp tín dụng dưới dạng lãi nhận được từ các khoản cho vay, ngược lại ngân hàng thường mất toàn bộ phần lãi và có thể mất một phần hay toàn bộ vốn gốc, điều này còn phụ thuộc vào khả năng bồi hoàn của tài sản thế chấp và kết quả của việc thanh lý tài sản trong trường hợp người đi vay phá sản

Rủi ro tín dụng xuất phát từ nhiều phía:

Thứ nhất, xuất phát từ doanh nghiệp (là người đi vay) thì rủi ro có thể gặp trong rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính của doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp không đảm bảo được nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho khoản nợ vay ngân hàng Và một loại rủi ro quan trọng của doanh nghiệp cần phải nói đến đó là rủi ro đạo đức, là một vấn đề do thông tin bất cân xứng tạo ra sau khi mối quan hệ vay và cho vay giữa doanh nghiệp và ngân hàng đã được thiết lập Xảy ra khi doanh nghiệp có ý muốn thực hiện những hoạt động không tốt (thiếu đạo đức) xét theo quan điểm của ngân hàng, bởi vì những hoạt động này khiến ít có khả năng khoản nợ vay này sẽ hoàn trả

Thứ hai, xuất phát từ ngân hàng (người cho vay) Do trình độ nghiệp vụ, năng lực còn hạn chế và vấn đề đạo đức của cán bộ tín dụng cũng như những mặt

Trang 27

Bên cạnh đó, yếu tố thị trường như biến động của giá cả, đặc biệt là giá cả hàng hóa chủ lực, nguyên nhiên liệu đầu vào như sắt thép, xăng dầu…tác động ảnh hưởng trực tiếp đến việc triển khai dự án, đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và gián tiếp ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng ngân hàng

và gây ra rủi ro tín dụng Mặt khác, những diễn biến phức tạp của thị trường hàng hóa, thị trường xuất khẩu, là nguyên nhân tiềm ẩn, chứa đựng rủi ro đối với hoạt động tín dụng

Ngoài ra, môi trường kinh tế, pháp lý không thuận lợi; Chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp chịu sự tác động bởi những thành tựu công nghệ, mức độ cạnh tranh, chính sách của Chính Phủ, những điều luật mới về sở hữu, cầm cố và thế chấp tài sản…hoặc những quy định mới có thể đe dọa sự tồn tại của doanh nghiệp, sự thay đổi quan điểm và sở thích của người tiêu dùng ; Tình hình kinh tế thế giới như biến động của giá vàng thế giới, giá một số ngoại tệ mạnh hoặc giá một số vật tư chủ yếu có xu hướng tăng cao Những nguyên nhân trên đều dẫn đến rủi ro tín dụng

Như vậy, rủi ro tín dụng có thể làm cho ngân hàng bị mất thanh khoản, làm giảm uy tín ngân hàng; có thể ngân hàng bị phá sản làm ảnh hưởng theo chiều hướng xấu đến hệ thống tài chính của quốc gia và trên thế giới Do đó, ngân hàng cần thiết phải quản trị rủi ro tín dụng

Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững Tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, từ đó tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh cả trong ngắn hạn

và dài hạn của ngân hàng thương mại

Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng, theo Basel 2, là tối đa hóa lợi suất đã điều chỉnh theo rủi ro của ngân hàng bằng cách duy trì rủi ro tín dụng trong phạm vi chấp nhận được Để đạt được mục tiêu đặt ra thì quản trị rủi ro tín dụng phải thỏa mãn những yêu cầu sau: Quản trị rủi ro tín dụng phải hướng vào việc đảm bảo hiệu

Trang 28

quả của hoạt động tín dụng và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại ngay trong những điều kiện thị trường đầy biến động, nguy cơ rủi ro không ngừng gia tăng Nói một cách cụ thể hơn thì quản trị rủi ro tín dụng phải nhằm vào việc hạ thấp rủi ro tín dụng ở mức hợp lý, nâng cao mức độ an toàn cho kinh doanh của mỗi ngân hàng thương mại bằng các chính sách, các biện pháp quản lý, giám sát các hoạt động tín dụng khoa học và hiệu quả Đồng thời quản trị rủi ro tín dụng phải đảm bảo thực hiện đúng các quy định của nhà nước và pháp luật

Tóm lại, rủi ro tín dụng có thể xảy ra đối với bất kỳ một ngân hàng nào ở nhiều khía cạnh, mức độ khác nhau Do vậy, đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng trong công tác thẩm định cho vay và bằng cách lượng hóa, đánh giá rủi ro tín dụng để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng Muốn làm được như vậy, các nhà quản trị ngân hàng cần phải dựa vào những lý thuyết về nợ vay ngân hàng liên quan

1.2.3 Các lý thuyết liên quan nợ vay ngân hàng

Khi doanh nghiệp lựa chọn cho mình một cấu trúc tài chính và phần nợ được tài trợ bằng vay ngân hàng, đồng nghĩa với việc dư nợ tín dụng của ngân hàng tăng lên tương ứng Và để khoản tài trợ này được ngân hàng đồng ý tài trợ cho doanh nghiệp thì quá trình vay của doanh nghiệp, cho vay của ngân hàng diễn ra theo một quy trình tín dụng (hay quy trình cho vay – phụ lục 5) nhằm hạn chế những rủi ro tín dụng có thể xảy đến với ngân hàng Một trong những bước tiến hành của quy trình tín dụng là ngân hàng tiến hành thẩm định tình hình tài chính của doanh nghiệp để chấm điểm và xếp hạng tín nhiệm trước khi quyết định cho vay nhằm giảm thiểu những rủi ro tín dụng xảy đến cho ngân hàng Và các lý thuyết (tiêu chuẩn) để ngân hàng đánh giá khách hàng trước khi cho vay bao gồm:

Trang 29

1.2.3.1 Lý thuyết 5 C

Thứ nhất, Character – Tính cách (hay tư cách) của người đi vay (doanh

nghiệp): Người đi vay (người đại diện pháp lý của doanh nghiệp) phải có năng lực,

trí tuệ, uy tín và đạo đức của mình Điều này thể hiện qua tính cách của người đi vay trong nhiều khía cạnh Tìm và lựa chọn một người đi vay có tính cách tốt là mong muốn của bất kỳ một ngân hàng nào Để làm được điều đó, người đại diện ngân hàng phải là người có kinh nghiệm để tiến hành tiếp xúc phỏng vấn, thẩm định chính khách hàng là người đi vay hoặc những người xung quanh của khách hàng, đối thủ của khách hàng hoặc những thông tin từ trung tâm (doanh nghiệp) thông tin

về tín dụng cung cấp,…Một khi có tư cách tốt, doanh nghiệp đó sẽ dễ dàng tiếp cận gần hơn với nợ vay ngân hàng Ngân hàng thực hiện kỹ tiêu chuẩn này thì góp phần giảm thiểu những rủi ro về đạo đức có thể xảy đến với món vay của ngân hàng

Thứ hai, Capacity – Năng lực hoặc khả năng (vay và trả nợ) của doanh

nghiệp: Đây là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để ngân hàng quyết định cho

vay hay không Bởi vì, tiêu chuẩn này cho thấy trong tương lai doanh nghiệp có tạo

ra nguồn thu để trả nợ vay mới hay không tương ứng với việc ngân hàng có thu lại được nợ gốc và lãi hay không Nếu doanh nghiệp chứng minh được mình có năng lực vay và trả nợ đối với ngân hàng thì việc cấp tín dụng của ngân hàng được thực hiện dễ dàng hơn

Thứ ba, Capital – Vốn: Vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu của doanh

nghiệp Khi một doanh nghiệp có tỷ lệ vốn chủ lớn để tài trợ cho tài sản thì ý muốn lao vào những mạo hiểm sẽ giảm đi nhiều do nếu rủi ro theo chiều hướng xấu đi thì doanh nghiệp sẽ mất đi phần lớn lợi ích Nếu doanh nghiệp có vốn đối ứng để sản xuất kinh doanh thì ngân hàng tin tưởng hơn vào nhu cầu sử dụng vốn của doanh nghiệp Hơn nữa, tài sản hình thành từ vốn vay ngân hàng của doanh nghiệp là những tài sản hình thành trong tương lai và rủi ro không thể lường hết trước được

Do vậy, ngân hàng không thể tài trợ hoàn hoàn bằng vốn vay cho toàn bộ nhu cầu vốn của doanh nghiệp cũng như không một doanh nghiệp nào tiến hành sản xuất kinh doanh mà chỉ dựa vào vốn vay ngân hàng “Vốn của doanh nghiệp và vốn vay

Trang 30

ngân hàng phải phối hợp với nhau theo một tỷ lệ hợp lý thì sản xuất kinh doanh mới

có hiệu quả cao” [4, trang 63-64] Khi đó, doanh nghiệp sẽ đáp ứng được tiêu chuẩn

C thứ hai Tiêu chuẩn C thứ ba thể hiện, nếu một doanh nghiệp có một tỷ lệ vốn chủ

so với giá trị tài sản cao thì khoản cấp tín dụng được thực hiện dễ dàng hơn Khi đó, ngân hàng cho rằng doanh nghiệp sẽ xử sự theo chiều hướng đã cam kết trước, phù hợp với mong muốn của ngân hàng

Thứ tư, Collateral – Tài sản cầm cố, tài sản thế chấp: Một khoản nợ vay

ngân hàng nếu được đảm bảo bằng tài sản cầm cố hay tài sản thế chấp, sẽ gắn chặt trách nhiệm và nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp Nếu xảy ra những rủi ro khách quan, doanh nghiệp không trả được nợ, thì tài sản cầm cố, tài sản thế chấp sẽ trở thành nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng với điều kiện các tài sản này thỏa mãn những điều kiện quy định Đối với tiêu chuẩn thứ tư này, tùy điều kiện cụ thể và từng doanh nghiệp cụ thể mà ngân hàng áp dụng hay không áp dụng, nó chỉ mang tính đảm bảo an toàn hơn cho hoạt động của ngân hàng chứ không thể hiện tính hiệu quả Thế nhưng, đối với bất kỳ ngân hàng nào cũng muốn an toàn hơn cho khoản cấp tín dụng của mình, do đó tài sản thế chấp, tài sản cầm cố của doanh nghiệp càng nhiều, giá trị càng lớn thì khoản vay càng được tài trợ dễ dàng hơn

Thứ năm, Conditions – Điều kiện: Ngân hàng khi thẩm định cho doanh

nghiệp vay vốn điều nêu ra những điều kiện nhất định, đó là những điều kiện về pháp lý, kinh tế, tài chính như các vấn đề liên quan đến cho vay như mục đích vay, thời hạn cho vay, kỳ hạn cho vay, lãi suất cho vay,…Những điều kiện này nhằm mục đích đảm bảo cho hoạt động cho vay của ngân hàng tuân thủ những quy định của luật pháp và những quy định hạn chế các hoạt động của doanh nghiệp [4, trang 64-65]

1.2.3.2 Lý thuyết 5 P

Thứ nhất, Purpose – Mục đích: Doanh nghiệp khi muốn tài trợ bằng nợ vay

ngân hàng cho hoạt động của mình nhất định phải có mục đích sử dụng vốn Nếu mục đích sử dụng vốn vừa hợp pháp, vừa phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của họ thì ngân hàng mới đồng ý cho vay Mục đích vay vốn thể hiện rõ

Trang 31

Thứ hai, Payment – Thanh toán: Doanh nghiệp phải chứng tỏ mình có khả

năng thanh toán đối với những khoản nợ đến hạn thông qua các chỉ tiêu khả năng thanh toán được ngân hàng tính toán, chẳng hạn như khả năng thanh toán ngắn hạn, khả năng thanh toán nhanh Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phụ thuộc vào nguồn thu nhập của họ trong mối tương quan đối với các khoản nợ Nếu doanh nghiệp đạt được những chỉ tiêu về thanh toán thì ngân hàng đánh giá doanh nghiệp

sẽ thanh toán đúng hạn và như vậy sẽ cho vay dễ dàng hơn Ngược lại, thì ngân hàng sẽ yêu cầu bổ sung thêm những điều kiện khác hoặc từ chối cho vay

Thứ ba, Protection – Bảo vệ (bảo đảm cho ngân hàng): Nợ vay ngân hàng

của doanh nghiệp được ngân hàng thẩm định một cách kỹ lưỡng trước khi giải ngân cho doanh nghiệp Ngoài những điều kiện, nguyên tắc bắt buộc phải tuân thủ như vốn vay phải được sử dụng hợp pháp, đúng mục đích nhằm đảm bảo tính an toàn cho suốt chu kỳ luân chuyển vốn; vốn vay phải được đảm bảo bằng tài sản thế chấp, tài sản cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba Những điều kiện này được gọi là hệ thống bảo vệ cho ngân hàng Và mỗi một ngân hàng có một cách ứng dụng hệ thống bảo vệ này riêng biệt Ngoài ra, còn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể và từng doanh nghiệp cụ thể mà ngân hàng sẽ đưa ra điều kiện về hệ thống bảo vệ khác nhau

Thứ tư, Policy – Chính sách: Chính sách phát triển của doanh nghiệp có ý

nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong tương lai Việc hoạch định chiến lược và sách lược trong nhiều nội dung như đổi mới công nghệ, trang thiết bị, vấn đề đội ngũ công nhân lành nghề, cán bộ quản lý, ổn định chiếm lĩnh và phát triển thị trường, đổi mới mẫu mã chất lượng sản phẩm,…Trên một tầm nhìn có căn cứ, có định hướng thì khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp mới ổn định và vững chắc Và một doanh nghiệp có một chính sách hướng tới một tầm nhìn như trên sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận được với nợ vay ngân hàng dễ dàng hơn

Thứ năm, Pricing – Định giá: Đối với từng ngân hàng khác nhau họ sẽ thiết

lập những tiêu chí để định giá khách hàng là doanh nghiệp bằng cách chấm điểm xếp hạng tín nhiệm để quyết định cho vay Và thường các ngân hàng sử dụng mô

Trang 32

hình điểm số Z của M.Altman để đánh giá ra quyết định cho vay đối với doanh nghiệp Thang điểm được tính theo bộ công thức sau:

“Z = R1 + R2 + R3 + R4 + R5 (1.8) Trong đó,

R1 =

Vốn lưu động (Vốn luân chuyển)

(1.9) Tổng tài sản

Vốn luân chuyển = Tài sản lưu động + Đầu tư ngắn hạn – Nợ phải trả

R2 =

Lãi ròng

(1.10) Tổng tài sản

R3 =

Lãi trước thuế

(1.11) Tổng tài sản

R4 =

Giá trị thị trường của doanh nghiệp

(1.12) Giá hạch toán của doanh nghiệp

R5 =

Doanh thu

(1.13) Tổng tài sản

Sau khi tính toán chỉ số Z có kết quả theo Altman, có những trường hợp sau

Trang 33

1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC TÀI CHÍNH VÀ NỢ VAY NGÂN HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP

Khi doanh nghiệp đi vào hoạt động thì cần phải huy động vốn từ nhiều nguồn cho việc đầu tư, mua sắm tài sản Cấu trúc tài chính là kết quả từ các quyết định tài chính, trong đó có quyết định về tài trợ Các quyết định tài trợ sẽ xác định nguồn tài trợ, trong đó có tài trợ bằng vốn vay ngân hàng Nhưng việc vay vốn ngân hàng, doanh nghiệp cũng phải căn cứ vào rất nhiều nhân tố để đo lường, đánh giá và quyết định vay bao nhiêu, các nhân tố đó thường là lợi nhuận, tài sản đảm bảo, quy

mô doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng, tính thanh khoản, sự khác biệt của sản phẩm, doanh thu,…

Về phía ngân hàng, ngân hàng đóng vai trò một tổ chức trung gian đứng ra tập trung, huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế hình thành nên nguồn vốn tín dụng để cho vay đáp ứng các nhu cầu vốn kinh doanh và vốn đầu tư cho các doanh nghiệp Như vậy, doanh nghiệp là khách hàng sử dụng các sản phẩm của ngân hàng Ngân hàng cũng có nhu cầu cho khách hàng vay bởi thu nhập từ hoạt động cho vay là nguồn thu chủ yếu của ngân hàng thương mại

Nếu doanh nghiệp không vay, ngân hàng sẽ không có nguồn thu để trả lãi cho người gửi tiền tiết kiệm

Nhưng khi xem xét cho doanh nghiệp vay vốn, mỗi một ngân hàng đều có những quy trình cho vay khác nhau và khá chặt chẽ, trong đó, việc thẩm định cho vay là rất quan trọng Mỗi một ngân hàng đều xây dựng cho mình một hệ thống chấm điểm xếp hạng tín dụng khi xem xét các khoản vay Việc chấm điểm căn cứ vào rất nhiều tiêu chí định tính, định lượng khác nhau và đặc biệt các nhân tố lợi nhuận, tài sản đảm bảo, quy mô doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng, tính thanh khoản,

sự khác biệt của sản phẩm, doanh thu, không nằm ngoài các tiêu chí chấm điểm khi xếp hạng tín dụng

Ngoài ra, không phải doanh nghiệp muốn đi vay bao nhiêu cũng được và ngược lại, có thời điểm ngân hàng muốn cho vay nhưng cấu trúc tài chính của doanh nghiệp đã tối ưu không cần tài trợ bằng nợ vay nữa hoặc cũng cần tài trợ bằng nợ nhưng doanh nghiệp không đáp ứng đủ những điều kiện quy định của ngân hàng Tất cả phải có những điểm chung và phải thỏa mãn các điều kiện khi vay vốn

Trang 34

Nếu doanh nghiệp có nhu cầu nhưng không đáp ứng được các điều kiện của ngân hàng dẫn đến không được tài trợ bằng nợ vay ngân hàng Khi đó cấu trúc tài chính của doanh nghiệp không gia tăng được nợ, gây nhiều bất lợi cho doanh nghiệp như: một mặt doanh nghiệp không có cơ hội để nhận được lợi ích của tấm chắn thuế từ lãi vay mang lại; một mặt doanh nghiệp sẽ không có đủ điều kiện về vốn để thực hiện hoạt động kinh doanh của mình Doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng khó khăn Nếu những doanh nghiệp đã sử dụng nợ vay trước đó thì vẫn phải gánh chịu chi phí lãi vay kể cả khi không có nguồn thu tiếp theo và dẫn đến không

có khả năng trang trải các khoản nợ, doanh nghiệp mất thanh khoản và nguy cơ dẫn đến phá sản là điều không thể tránh khỏi

Bên cạnh đó, tình hình kinh tế vĩ mô cũng tác động mạnh mẽ đến hoạt động cho vay của ngân hàng và đi vay của doanh nghiệp Điển hình là Chính sách tiền tệ cũng tác động đến hoạt động cho vay và cấu trúc tài chính doanh nghiệp Khi chính sách tiền tệ thắt chặt thì doanh nghiệp sẽ rất khó tiếp cận vốn, do đó tỷ lệ nợ vay trong cấu trúc tài chính tài trợ cho tài sản cũng sẽ bị tác động do nguồn vốn tín dụng

bị hạn chế Khi chính sách tiền tệ nới lỏng, vốn tín dụng được nới lỏng, doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng nhưng sau đó lạm phát sẽ xảy ra đối với nền kinh tế, làm cho chi phí đầu vào tăng, lợi nhuận giảm và khi đó giảm khả năng thanh khoản dẫn đến nợ xấu ngân hàng

Vì vậy khi doanh nghiệp phát triển thì ngân hàng mới khỏe mạnh Để thực hiện các mục tiêu sản xuất, kinh doanh thì các doanh nghiệp cũng cần đến nhu cầu

sử dụng vốn vay và khi đó, ngân hàng là một trong những nhà tài trợ vốn cho doanh nghiệp Như vậy, giữa ngân hàng và doanh nghiệp tồn tại mối quan hệ gắn kết với nhau thể hiện qua sơ đồ sau:

Trang 35

Tuy nhiên, để có thể hợp tác, đồng hành được với nhau thì cũng phải dựa trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi Nhưng khi mối quan hệ vay và cho vay giữa doanh nghiệp và ngân hàng đã được thiết lập thì cấu trúc tài chính của doanh nghiệp

có gia tăng thêm nợ và nợ vay ngân hàng của doanh nghiệp tăng lên Nếu một doanh nghiệp có cấu trúc tài chính với tỷ lệ nợ vay vượt ngưỡng an toàn thì khó gia tăng nợ vay ngân hàng, vì nếu cho vay rủi ro cao xảy đến với ngân hàng Bởi vì, khoản vay của doanh nghiệp là dùng để tài trợ cho tài sản hình thành trong tương lai

và nó còn phụ thuộc vào các yếu tố vĩ mô như điều kiện nền kinh tế của quốc gia có lạm phát, suy thoái, hay về chính trị có ổn định hay không,… Và phụ thuộc năng lực tài chính của các doanh nghiệp; cơ chế quản lý, năng lực quản lý; công nghệ

…dẫn đến rủi ro cho doanh nghiệp có sử dụng nợ vay Và đối với doanh nghiệp, rủi

ro là điều tất yếu của hoạt động kinh doanh, lợi nhuận cao luôn song hành với rủi ro lớn Đương đầu và quản lý rủi ro là phần không thể thiếu của bất kỳ doanh nghiệp nào nếu muốn tạo ra lợi nhuận và mang lại giá trị cho cổ đông

Nợ vay ngân hàng của doanh nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong cấu trúc tài chính, nếu như doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả hoặc thua lỗ, phá sản thì rủi

ro tín dụng đối với ngân hàng, làm cho nợ xấu của ngân hàng tăng lên Và cứ tiếp tục như vậy, nhiều doanh nghiệp có vay nợ bị phá sản sẽ ngày càng làm giảm uy tín,

sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng Ngân hàng sẽ đánh mất thương hiệu của mình, có thể rơi vào tình trạng mất thanh khoản, có thể dẫn đến một cuộc rút tiền hàng loạt của khách hàng và ngân hàng phá sản là con đường tất yếu

Doanh nghiệp,

tổ chức kinh tế,

hộ gia đình, cá nhân

NGÂN HÀNG

Doanh nghiệp,

tổ chức kinh tế,

hộ gia đình, cá nhân

Huy động vốn

Cấp tín dụng

Trang 36

Nếu ngân hàng bị phá sản sẽ ảnh hưởng đến hàng ngàn người gửi tiền vào ngân hàng, hàng ngàn doanh nghiệp không được đáp ứng nhu cầu vốn,…làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, gây rối loạn trật tự xã hội Và hơn nữa, sẽ kéo theo sự sụp đổ của hàng loạt các ngân hàng trong nước, trong khu vực Điều này không những gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế trong nước mà còn ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới, vì trong điều kiện hội nhập

và toàn cầu hóa kinh tế thế giới hiện nay, nền kinh tế của mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới

Mặt khác, mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư giữa các nước phát triển rất nhanh nên rủi ro tín dụng tại một nước luôn ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế các nước

có liên quan Thực tế đã chứng minh qua cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á (1997), cuộc khủng hoảng tài chính Nam Mỹ (2001-2002) [6, trang 165-166] và mới đây là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu ở Mỹ năm 2007, sau đó lan rộng ra toàn cầu đến năm 2009

Tóm lại, nợ vay ngân hàng là một bộ phận trong nợ vay của cấu trúc tài chính và nợ vay ngân hàng là mối liên kết giữa doanh nghiệp với ngân hàng Khi doanh nghiệp lựa chọn cho mình một cấu trúc tài chính thì có nghĩa là quyết định lựa chọn nguồn tài trợ từ phía ngân hàng ngắn hạn, dài hạn sẽ tác động hoạt động của ngân hàng khi thiết lập các kỳ hạn cho vay cũng như có một cái nhìn toàn diện trong công tác chấm điểm, xếp hạng tín dụng nhằm giảm rủi ro nợ xấu trong toàn hệ thống ngân hàng

1.4 CÁC NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH ẢNH HƯỞNG NỢ VAY NGÂN HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP

1.4.1 Lợi nhuận

Có rất nhiều quan điểm cho rằng việc quyết định vay nhiều hay ít có tương quan đến lợi nhuận Theo lý thuyết trật tự phân hạng thì các nhà quản lý thích tài trợ cho các dự án bằng nguồn vốn từ nội bộ hơn sau đó mới đến nguồn vốn huy động từ bên ngoài Ngoài ra, các doanh nghiệp có lời không thích huy động thêm vốn chủ sở hữu nhằm tránh việc pha loãng quyền sở hữu Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp có lời sẽ có tỷ lệ nợ vay thấp

Trang 37

Các kết quả nghiên cứu của Kester (1986) tại Mỹ và Nhật; Chang (1987);

Titman và Wessels (1988); Friend và Lang (1988); Rajan và Zingales (1995) ở các nước phát triển; Wiwattanakantang (1999) ở Thái Lan; Booth et al (2001); Chen (2004) ở Trung Quốc cũng cho thấy mối quan hệ tỷ lệ nghịch (-) giữa cấu trúc tài chính, nợ vay ngân hàng và lợi nhuận

Tuy nhiên, theo lý thuyết đánh đổi lại cho rằng các doanh nghiệp đang hoạt động có lời nên vay mượn nhiều hơn, khi các yếu tố khác không đổi, vì như vậy họ

sẽ tận dụng được tấm chắn thuế nhiều hơn Ở khía cạnh khác, lý thuyết về chi phí đại diện cũng cho rằng, đối với các doanh nghiệp có dòng tiền tự do hay lợi nhuận cao, nợ nhiều sẽ hạn chế tính tùy tiện của ban quản lý Kết quả nghiên cứu của Long

và Malitz (1985) cũng cho thấy mối quan hệ tỷ lệ thuận (+) giữa cấu trúc tài chính,

nợ vay ngân hàng và lợi nhuận

Căn cứ vào lý thuyết và những nghiên cứu thực nghiệm tác giả nêu ra giả

thuyết thứ nhất (H1) như sau: Lợi nhuận tỷ lệ thuận (+) hoặc tỷ lệ nghịch (-) với

cấu trúc tài chính, nợ vay ngân hàng ngắn hạn, nợ vay ngân hàng dài hạn

Để đánh giá tác động của nhân tố lợi nhuận lên cấu trúc tài chính, tác giả sử dụng tỷ số lợi nhuận ròng sau thuế trên tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp và được tính như sau:

Tỷ suất lợi

Lợi nhuận ròng sau thuế

x 100% (1.14) Tổng tài sản bình quân

Trang 38

Lý thuyết về các chi phí đại diện cũng giải thích mối quan hệ này Jensen và Meckling (1976) cho rằng tài sản hữu hình sẽ làm giảm sự bất cân xứng về thông tin vì những tài sản này có thể sử dụng làm tài sản thế chấp, giảm rủi ro gánh chịu chi phí đại diện của khoản nợ của người cho vay và đảm bảo lợi ích của người cho vay trong trường hợp thiếu thông tin hoặc mâu thuẫn về lợi ích với cổ đông của doanh nghiệp Các doanh nghiệp không có tài sản thế chấp sẽ có chi phí cao khi sử dụng nợ để tài trợ Do vậy, một tỷ lệ tài sản hữu hình cao sẽ có tỷ số nợ cao

Các kết quả nghiên cứu đã đồng thuận mối quan hệ giữa tài sản hữu hình và cấu trúc tài chính như nghiên cứu của Marsh (1982); Long và Malitz (1985); Friend

và Lang, Titman và Wessels (1988); Van de Wijst và Thurik (1993); Rajan và Zingales (1995); Wald (1999) đã nghiên cứu ở Mỹ, Nhật, Anh, Đức và Pháp;

Wiwattanakantang (1999); Hirota (1999); Um (2001) cho thấy tài sản hữu hình có mối quan hệ tỷ lệ thuận với cấu trúc tài chính ở các nước phát triển, Wiwattnakantang (1999) và Chen (2004) cho thấy tài sản hữu hình có mối quan hệ

tỷ lệ thuận với cấu trúc tài chính tại Thái Lan và Trung Quốc

Căn cứ vào lý thuyết và những nghiên cứu thực nghiệm tác giả nêu ra giả

thuyết thứ hai (H2) như sau: Tài sản hữu hình có mối quan hệ tỷ lệ thuận (+) với

cấu trúc tài chính, nợ vay ngân hàng ngắn hạn, nợ vay ngân hàng dài hạn

Có nhiều cách để xác định tài sản hữu hình, chẳng hạn “tài sản cố định/ tổng tài sản” (Rajan và Zinggaless, 1995) hoặc là “(tài sản cố định+hàng tồn kho)/ tổng tài sản” (Hu Jun, 2008) Vì vậy, để đánh giá tác động này tác giả sử dụng cách tính như sau:

Tỷ lệ tài sản hữu hình =

Hàng tồn kho+Tài sản hữu hình+Bất động sản đầu tư

(1.15) Tổng tài sản

1.4.3 Thuế thu nhập doanh nghiệp

Hầu hết, các nhà nghiên cứu cho rằng thuế thu nhập doanh nghiệp có ảnh hưởng rất quan trọng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Ảnh hưởng của nhân tố thuế đối với cấu trúc vốn được giải thích theo lý thuyết của MM Các doanh nghiệp

Trang 39

Do đó, cấu trúc tài chính, nợ vay ngân hàng đứng ở góc độ doanh nghiệp sẽ

có quan hệ cùng chiều với nhân tố thuế thu nhập doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu của Graham, John R (1996); Harris, Milton and Artur Raviv (1991); Frank and Goyal (2003) cũng cho thấy thuế thu nhập doanh nghiệp có quan hệ thuận chiều với cấu trúc tài chính

Căn cứ vào lý thuyết và những nghiên cứu thực nghiệm tác giả nêu ra giả

thuyết thứ ba (H3) như sau: Thuế thu nhập doanh nghiệp có mối quan hệ tỷ lệ thuận

(+) với cấu trúc tài chính, nợ vay ngân hàng ngắn hạn, nợ vay ngân hàng dài hạn

Nhân tố thuế thu nhập doanh nghiệp trong nghiên cứu này, tác giả tính toán như sau:

Thuế thu nhập doanh nghiệp =

Số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ

(1.16) Lợi nhuận trước thuế

1.4.4 Quy mô doanh nghiệp

Nhân tố quy mô có nhiều điểm đối nghịch khi xem xét ảnh hưởng của nó đối với cấu trúc tài chính Nhiều nghiên cứu cho rằng giữa quy mô và cấu trúc tài chính

có mối quan hệ thuận chiều Theo lý thuyết đánh đổi thì quy mô của doanh nghiệp

có mối quan hệ tỷ lệ thuận (+) với nợ vay, bởi vì các doanh nghiệp lớn thường có rủi ro và chi phí phá sản thấp Marsh (1982) cho rằng các doanh nghiệp lớn thường

sử dụng nợ dài hạn nhiều hơn trong khi các doanh nghiệp nhỏ sử dụng chủ yếu nợ ngắn hạn Các doanh nghiệp lớn có thể tận dụng lợi thế quy mô số lớn trong việc tăng nợ vay dài hạn, và có thể có sức đàm phán cao hơn so với các định chế tài chính Do vậy, chi phí để tăng nợ và vốn chủ có quan hệ nghịch chiều (-) với quy

mô Ngoài ra, các doanh nghiệp lớn thường đa dạng hóa lĩnh vực hoạt động và có dòng tiền ổn định hơn, khả năng phá sản cũng bé hơn so với các doanh nghiệp nhỏ

Những đặc điểm trên dẫn dến quy mô có quan hệ cùng chiều (+) với cấu trúc tài chính

Theo lý thuyết về chi phí đại diện cho rằng chi phí đại diện cũng thật sự lớn đối với các doanh nghiệp nhỏ vì các doanh nghiệp này có động lực chấp nhận rủi ro

để tăng trưởng, đặc biệt nếu các doanh nghiệp có đặc tính trách nhiệm hữu hạn về vốn Mối quan hệ này cũng được giải thích bởi lý thuyết bất cân xứng về thông tin

Trang 40

Theo đó, khi doanh nghiệp có quy mô càng nhỏ, sự bất cân xứng về thông tin càng lớn Fama và Jensen (1983), Rajan và Zingales (1995) cho rằng các doanh nghiệp lớn có khuynh hướng công bố thông tin cho người bên ngoài nhiều hơn các doanh nghiệp nhỏ Sự bất cân xứng thông tin ít hơn với các doanh nghiệp lớn làm các doanh nghiệp nhỏ khó có điều kiện để tiếp cận các khoản tín dụng và có khuynh hướng sử dụng vốn chủ nhiều hơn các khoản nợ Trong khi đó, các doanh nghiệp có quy mô lớn có chi phí đại diện thấp, chi phí kiểm soát thấp, ít chênh lệch thông tin hơn so với các doanh nghiệp nhỏ hơn, dòng tiền ít biến động, dễ dàng tiếp cận thị trường tín dụng, và sử dụng nhiều nợ vay hơn để có lợi nhiều hơn từ tấm chắn thuế

Có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm xem xét vai trò quy mô doanh nghiệp như: Marsh (1982); Rajan và Zingales (1995) ở các nước phát triển; Huang và Song (2002); Frank và Goyal (2002); Panno, Ojah và Manrique (2003); và Chen (2004) ở các nước đang phát triển; và gần đây nhất là nghiên cứu của Psillaki và Daskalakis (2009) đã nghiên cứu các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hy Lạp, Ý, Bồ Đào Nha cũng

đã cho thấy quy mô của doanh nghiệp và cấu trúc tài chính có mối quan hệ tỷ lệ thuận (+)

Tuy nhiên, nghiên cứu của Rajan và Zingales (1995) ở Đức, các doanh nghiệp có quy mô lớn dễ dàng tiếp cận với thị trường cổ phiếu nên có nhiều thuận lợi hơn và do đó ít sử dụng nợ Sau đó được Kremp et al (1999) đã nghiên cứu lập luận rằng mối quan hệ nghịch mà Rajan và Zingales (1995) kết luận là do đặc trưng riêng của luật phá sản Đức và sự bảo vệ các chủ nợ tốt hơn các quốc gia khác của hệ thống ngân hàng Hausbank ở Đức chứ không phải do kết quả của thông tin bất cân xứng; kết quả nghiên cứu của Beven và Danbolt (2002) lại cho thấy quy mô doanh nghiệp có quan hệ tỷ lệ nghịch với nợ ngắn hạn và tỷ lệ thuận với nợ dài hạn

Căn cứ vào lý thuyết và những nghiên cứu thực nghiệm tác giả nêu ra giả

thuyết thứ tư (H4) như sau: Quy mô doanh nghiệp có mối quan hệ tỷ lệ thuận (+)

hoặc nghịch (-) với cấu trúc tài chính, nợ vay ngân hàng ngắn hạn, nợ vay ngân hàng dài hạn Quy mô của doanh nghiệp được đo lường như sau:

Quy mô doanh nghiệp = Ln(tổng tài sản cuối kỳ) (1.17)

Trong đó, hàm Ln là hàm log cơ số e

Ngày đăng: 29/11/2022, 19:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bảo Anh, 2011, Thực lỗ Vinashin gấp 3 lần báo cáo, Doanh nhân – VnEconomy, < http://doanhnhan.vneconomy.vn/20110603044755359P0C5/>. [Ngày truy cập 20/08/2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực lỗ Vinashin gấp 3 lần báo cáo
2. Hồng Anh, 2009, Nhiều doanh nghiệp Nhà nước ngập trong nợ nần, VN Express, < http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2009/07/3ba119a4/>. [Ngày truy cập 20/08/2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiều doanh nghiệp Nhà nước ngập trong nợ nần
3. Cổng thông tin dữ liệu Tài chính – Chứng khoán Việt Nam (CafeF), báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, <http://scafef.vn/du-lieu.chn>, [Ngày truy cập tháng 8/2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: báo cáo tài chính của các doanh nghiệp
4. Nguyễn Đăng Dờn, 2009, Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ ngân hàng thương mại
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
5. Nguyễn Trọng Hoài chủ biên, 2009, Dự báo và phân tích dữ liệu trong kinh tế và tài chính, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo và phân tích dữ liệu trong kinh tế và tài chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
7. Nguyễn Ninh Kiều, 2009, Tín dụng và thẩm định tín dụng, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín dụng và thẩm định tín dụng
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
8. Nguyễn Minh Kiều, 2009, Tài chính doanh nghiệp căn bản, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính doanh nghiệp căn bản
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
9. Hồ Công Minh, 2011, Vay nợ của các doanh nghiệp Việt Nam và vấn đề kiệt quệ tài chính, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vay nợ của các doanh nghiệp Việt Nam và vấn đề kiệt quệ tài chính
10. Nhật Minh, 2012, Tam sao thất bản lỗ lãi Vinalines và Vinalines lỗ hơn 1.400 tỷ đồng sau 6 tháng, VN Express, < http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2012/06>.[Ngày truy cập 20/08/2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tam sao thất bản lỗ lãi Vinalines và Vinalines lỗ hơn 1.400 tỷ đồng sau 6 tháng
14. Nguyễn Hữu Nghĩa, 2012, Thực trạng nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam hiện nay, < www.sbv.gov.vn/.../Hop+bao+no+xau+12_7.doc>.[Ngày truy cập 10/10/2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam hiện nay
15. Trần Quý, 2012, Chính phủ cần ưu tiên giải quyết nợ xấu, Thanh tra, < http://www.thanhtra.com.vn/tabid/77/newsid/57962/temidclicked/5/ >, [Ngày truy cập 10/10/2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ cần ưu tiên giải quyết nợ xấu
16. Nguyễn Xuân Thành, 2012, “Kinh tế Việt Nam 2012: Tạo bước ngoặc để xoay chuyển tình thế”, Chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright ngày 24 tháng 9 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam 2012: Tạo bước ngoặc để xoay chuyển tình thế
17. Trần Ngọc Thơ chủ biên, 2005, Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nhà xuất bản Thống kê.B. TÀI LIỆU TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính doanh nghiệp hiện đại
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê. B. TÀI LIỆU TIẾNG ANH
18. Abe de Jong, Rezaul Kabir, Nguyen Thu Thuy, 2007, Capital structure around the world: The roles of firm – and country-specific determinants, SSRN- id890525. [p.5-p.12, p33] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Abe de Jong, Rezaul Kabir, Nguyen Thu Thuy, 2007, "Capital structure around the world: The roles of firm – and country-specific determinants
19. André Bender, Elion Jani, Martin Hoesli and Philippe Gaud, 2003, The capital structure of Swiss companies: an empirical analysis using dynamic panel data.[p.5-p.11, p14-p17] Sách, tạp chí
Tiêu đề: André Bender, Elion Jani, Martin Hoesli and Philippe Gaud, 2003, "The capital structure of Swiss companies: an empirical analysis using dynamic panel data
20. Artur Raviv and Milton Harris, 1991, The Theory of Capital Structure, The Journal of Finance, Vol. 46, No. 1. [p.297-p355] Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Theory of Capital Structure
11. Ngân hàng Nhà nước, 2005, Quyết định Số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005, về việc ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức Khác
12. Ngân hàng Nhà nước, 2001, Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001, về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng Khác
13. Ngân hàng Nhà nước, 2005, Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 3 tháng 2 năm 2005, về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2 cho thấy một trật tự phân hạng, theo đó đầu tƣ của doanh nghiệp sẽ đƣợc tài trợ trƣớc tiên bằng vốn nội bộ, chủ yếu là lợi nhuận giữ lại; rồi mới đến  vay nợ mới; và cuối cùng phát hành vốn cổ phần mới - Luận văn thạc sĩ UEH nghiên cứu cấu trúc tài chính ảnh hưởng đến nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh
Hình 1.2 cho thấy một trật tự phân hạng, theo đó đầu tƣ của doanh nghiệp sẽ đƣợc tài trợ trƣớc tiên bằng vốn nội bộ, chủ yếu là lợi nhuận giữ lại; rồi mới đến vay nợ mới; và cuối cùng phát hành vốn cổ phần mới (Trang 22)
Hình 1.2: Trật tự phân hạng của các lựa chọn tài trợ - Luận văn thạc sĩ UEH nghiên cứu cấu trúc tài chính ảnh hưởng đến nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh
Hình 1.2 Trật tự phân hạng của các lựa chọn tài trợ (Trang 23)
hình điểm số Z của M.Altman để đánh giá ra quyết định cho vay đối với doanh nghiệp. Thang điểm đƣợc tính theo bộ cơng thức sau: - Luận văn thạc sĩ UEH nghiên cứu cấu trúc tài chính ảnh hưởng đến nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh
h ình điểm số Z của M.Altman để đánh giá ra quyết định cho vay đối với doanh nghiệp. Thang điểm đƣợc tính theo bộ cơng thức sau: (Trang 32)
Chƣơng 2: MƠ HÌNH NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC TÀI CHÍNH TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ VAY NGÂN HÀNG CỦA CÁC DOANH  NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN - Luận văn thạc sĩ UEH nghiên cứu cấu trúc tài chính ảnh hưởng đến nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh
h ƣơng 2: MƠ HÌNH NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC TÀI CHÍNH TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ VAY NGÂN HÀNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN (Trang 47)
Bảng 2.2: Tóm tắt các kết quả lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm - Luận văn thạc sĩ UEH nghiên cứu cấu trúc tài chính ảnh hưởng đến nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh
Bảng 2.2 Tóm tắt các kết quả lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm (Trang 48)
2.2 MƠ HÌNH NGHIÊN CỨU - Luận văn thạc sĩ UEH nghiên cứu cấu trúc tài chính ảnh hưởng đến nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh
2.2 MƠ HÌNH NGHIÊN CỨU (Trang 49)
Từ kết quả khảo sát, tính toán số liệu và đƣa vào mơ hình của 170 doanh nghiệp,  đƣợc  phân  loại  11  ngành  khác  nhau  từ  năm  2008  đến  năm  2011  tính  đến  31/12/2011, đã niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khốn Thành phố Hồ Chí Minh,  kết  quả  thốn - Luận văn thạc sĩ UEH nghiên cứu cấu trúc tài chính ảnh hưởng đến nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh
k ết quả khảo sát, tính toán số liệu và đƣa vào mơ hình của 170 doanh nghiệp, đƣợc phân loại 11 ngành khác nhau từ năm 2008 đến năm 2011 tính đến 31/12/2011, đã niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khốn Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả thốn (Trang 58)
Bảng 3.2: Tóm tắt mơ tả thống kê các biến độc lập - Luận văn thạc sĩ UEH nghiên cứu cấu trúc tài chính ảnh hưởng đến nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh
Bảng 3.2 Tóm tắt mơ tả thống kê các biến độc lập (Trang 59)
Bảng 3.3: Kết quả kiểm định Hausman mô hình 1 - Luận văn thạc sĩ UEH nghiên cứu cấu trúc tài chính ảnh hưởng đến nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh
Bảng 3.3 Kết quả kiểm định Hausman mô hình 1 (Trang 61)
Bảng 3.4: Tác động các biến độc lập đến cấu trúc tài chính - Luận văn thạc sĩ UEH nghiên cứu cấu trúc tài chính ảnh hưởng đến nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh
Bảng 3.4 Tác động các biến độc lập đến cấu trúc tài chính (Trang 62)
3.2.3 Kiểm định mơ hình - Luận văn thạc sĩ UEH nghiên cứu cấu trúc tài chính ảnh hưởng đến nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh
3.2.3 Kiểm định mơ hình (Trang 62)
Với kết quả kiểm định từ bảng 3.5 về sự bằng nhau của các tác động cố định giữa  các  doanh  nghiệp  cho  thấy  các  yếu  tố  ảnh  hƣởng  giữa  các  doanh  nghiệp  là  không giống nhau - Luận văn thạc sĩ UEH nghiên cứu cấu trúc tài chính ảnh hưởng đến nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh
i kết quả kiểm định từ bảng 3.5 về sự bằng nhau của các tác động cố định giữa các doanh nghiệp cho thấy các yếu tố ảnh hƣởng giữa các doanh nghiệp là không giống nhau (Trang 63)
Bảng 3.7: Kết quả kiểm định ANOVA mô hình 1 - Luận văn thạc sĩ UEH nghiên cứu cấu trúc tài chính ảnh hưởng đến nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh
Bảng 3.7 Kết quả kiểm định ANOVA mô hình 1 (Trang 64)
Bảng 3.9: Kết quả kiểm định Hausman mơ hình 2 - Luận văn thạc sĩ UEH nghiên cứu cấu trúc tài chính ảnh hưởng đến nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh
Bảng 3.9 Kết quả kiểm định Hausman mơ hình 2 (Trang 66)
Bảng 3.10: Tác động các biến độc lập đến nợ vay ngân hàng ngắn hạn - Luận văn thạc sĩ UEH nghiên cứu cấu trúc tài chính ảnh hưởng đến nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh
Bảng 3.10 Tác động các biến độc lập đến nợ vay ngân hàng ngắn hạn (Trang 67)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w