1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cao học môn quan hệ quốc tế những nhân tố tác động, kết quả đạt được của mối quan hệ việt nam lào thời gian qua, làm rõ cơ sở làm nên tính “đặc biệt” trong mối quan hệ việt nam

30 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu Luận Cao Học Môn Quan Hệ Quốc Tế Những Nhân Tố Tác Động, Kết Quả Đạt Được Của Mối Quan Hệ Việt Nam - Lào Thời Gian Qua, Làm Rõ Cơ Sở Làm Nên Tính “Đặc Biệt” Trong Mối Quan Hệ Việt Nam
Trường học trường đại học
Chuyên ngành quan hệ quốc tế
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 61,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ hữunghị, đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào từ năm 1930 đến nay là một bước tiến dài và đạt được nhiều thành quả to lớn, từthời kỳ nhân dân hai nước sát cánh bên nhau trong các cuộ

Trang 1

MỤC LỤC

YPHẦN I MỞ Đ

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 1

3 Ý nghĩa của đề tài 2

4 Kết cấu tiểu luận 2

PHẦN II NỘI DUNG 4

1 Những nhân tố tác động, kết quả đạt được của mối quan hệ Việt Nam - Lào thời gian qua 4

1.1 Những nhân tố tác động đến quan hệ hai nước Việt Nam – Lào thời gian qua 4

1.2 Kết quả đạt được của mối quan hệ Việt Nam - Lào 7

2 Tình hình thế và giới khu vực làm rõ cơ sở làm nên tính “đặc biệt” trong mối quan hệ Việt Nam – Lào 15

2.1 Tình hình thế giới và khu vực 15

2.2 Cơ sở làm nên tính “đặc biệt” Việt Nam – Lào 15

3 Các giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ giữa hai nước trong thời gian tới 19

3.1 Nhóm giải pháp thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Lào trong khuôn khổ hợp tác, liên kết song phương 19

3.2 Nhóm giải pháp thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Lào trong khuôn khổ hợp tác, liên kết khu vực và quốc tế 20

PHẦN III KẾT LUẬN 23

Trang 3

PHẦN I MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặcbiệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là một điển hình, một tấmgương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết bền chặt, thuỷ chung,trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc trong cuộc đấutranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội Có thể khẳng địnhđây là mối quan hệ hữu nghị, truyền thống đoàn kết đặc biệt

và hợp tác toàn diện Mối quan hệ này, bắt nguồn từ các điềukiện tự nhiên, nhân tố dân cư, xã hội, văn hoá và lịch sử,truyền thống chống giặc ngoại xâm của nhân dân hai nước,đặc biệt là sự dày công vun đắp của các thế hệ lãnh đạo cấpcao của hai Đảng, hai Nhà nước qua các thời kỳ Quan hệ hữunghị, đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào từ năm 1930 đến nay

là một bước tiến dài và đạt được nhiều thành quả to lớn, từthời kỳ nhân dân hai nước sát cánh bên nhau trong các cuộcđấu tranh giành độc lập dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sảnĐông Dương, thời kỳ liên minh chiến đấu chống thực dânPháp và đế quốc Mỹ, cho đến thời kỳ đoàn kết đặc biệt, hợptác toàn diện cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, từ hợp tác vềchính trị, đối ngoại, quốc phòng - an ninh đến hợp tác kinh tế,văn hóa, khoa học - kỹ thuật, hợp tác giữa các địa phương,góp phần thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc xây dựng, phát triển,hội nhập khu vực và quốc tế ở mỗi nước Do đó việc chọn đềtài “Những nhân tố tác động, kết quả đạt được của mối quan

hệ Việt Nam - Lào thời gian qua, làm rõ cơ sở làm nên tính

“đặc biệt” trong mối quan hệ Việt Nam – Lào và đề xuất các

Trang 4

giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ giữa hai nước trong thờigian tới”

2 Mục đích của đề tài

Nghiên cứu sâu sắc mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam Lào được khẳng định là “Quan hệ hữu nghị truyền thống,đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện”, làm rõ những cơ sởlàm nên tính “đặc biệt” của mối quan hệ đó Nghiên cứu đềxuất các giải pháp nhằm thúc đẩy mối quan hệ giữa hai nướcViệt Nam - Lào trong thời gian tới

-3 Ý nghĩa của đề tài

Thông qua nghiên cứu tuyên truyền thúc đẩy mối quan hệđặc biệt giữa hai nước Việt Nam - Lào không ngừng phát triển

và đơm hoa kết trái Mối quan hệ này đã trở thành quy luậtphát triển, là nhân tố quan trọng bảo đảm thắng lợi của sựnghiệp cách mạng của mỗi nước và là tài sản chung vô giácủa hai Đảng, hai dân tộc mà thế hệ hôm nay cần giữ gìn, bảo

vệ, vun đắp và truyền tiếp cho muôn đời con cháu mai sau

Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu; gópphần giúp các nhà lãnh đạo, quản lý, các cấp có cách nhìn sáthơn thực trạng mối quan hệ “đặc biệt” giữa hai nước ViệtNam - Lào trong thời gian qua

4 Kết cấu bài thu hoạch

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương như sau:

Chương 1: Những nhân tố tác động, kết quả đạt được

của mối quan hệ Việt Nam - Lào thời gian qua

Trang 5

Những nhân tố tác động đến quan hệ hai nước Việt Nam –Lào

Kết quả đạt được của mối quan hệ Việt Nam - Lào

Chương 2: Tình hình thế giới và khu vực làm rõ cơ sở làm

nên tính “đặc biệt” trong mối quan hệ Việt Nam – Lào

Tình hình thế giới và khu vực

Cơ sở làm nên tính “đặc biệt” Việt Nam – Lào

Chương 3: Các giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ giữa

hai nước trong thời gian tới

Nhóm giải pháp thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Lào trongkhuôn khổ hợp tác, liên kết song phương

Nhóm giải pháp thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Lào trongkhuôn khổ hợp tác, liên kết khu vực và quốc tế

Trang 6

PHẦN II NỘI DUNG

1 Những nhân tố tác động, kết quả đạt được của mối quan hệ Việt Nam - Lào thời gian qua

1.1 Những nhân tố tác động đến quan hệ hai nước Việt Nam – Lào thời gian qua

- Về Điều kiện tự nhiên: Việt Nam và Lào nằm trên bán

đảo Đông Dương, thuộc vùng Đông Nam Á lục địa, núi liềnnúi, sông liền sông, chung một dòng sông Mê Kông Trongphạm vi của bán đảo Đông Dương, Việt Nam nằm ở phía đôngdãy Trường Sơn, như một bao lớn nhìn ra biển; Lào nằm ởsườn tây dãy Trường Sơn, lọt sâu vào vùng đất liền của bánđảo Như vậy, dãy Trường Sơn có thể ví như cột sống của hainước, tạo thành biên giới tự nhiên trên đất liền giữa Việt Nam

và Lào Với địa hình tự nhiên này, về đường bộ cả Việt Nam vàLào đều theo trục Bắc - Nam Còn về đường biển, con đườnggần nhất để Lào có thể thông thương ra biển đó là từ SầmNưa thuộc tỉnh Hủa Phăn (Lào) qua Thanh Hoá; Xiêng khoảng(Lào) qua Nghệ An; Khăm Muộn (Lào) qua Hà Tĩnh;Savẳnnakhệt (Lào) qua Quảng Trị và Khăm Muộn (Lào) quaQuảng Bình

- Về Vị trí chiến lược: Việt Nam và Lào là những thuộc

nước “vừa” và “tương đối nhỏ” sống cạnh nhau, lại nằm kềcon đường giao thông hàng hải hàng đầu thế giới, nối liềnĐông Bắc Á qua Nam Á, nối Tây Thái Bình Dương với Ấn ĐộDương cho nên chiếm vị trí địa - chiến lược quan trọng ở vùngĐông Nam Á Trên con đường phát triển, vị trí chiến lược ngàycàng trở nên quan trọng không chỉ từ góc độ địa - chính trị và

Trang 7

quân sự - chiến lược mà cả ý nghĩa địa – kinh tế và địa - vănhóa đối với thế giới

- Về Kinh tế: Do điều kiện tự nhiên nên sự phát triển

kinh tế - xã hội của Việt Nam và Lào có nhiều điểm tươngđồng, lại vừa có những nét khác biệt Tuy nhiên, trong hoàncảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày nay, để hợp táccùng phát triển hai nước hoàn toàn có thể bổ sung cho nhaubằng tiềm năng, thế mạnh của mỗi nước về vị trí địa lý, tàinguyên, nguồn nhân lực, thị trường cũng như sự phân vùngkinh tế và phân công lao động hợp lý

- Về Quốc phòng: Dãy Trường Sơn, biên giới tự nhiên

giữa Việt Nam và Lào được ví như bức tường thành hiểm yếu,

để hai nước tựa lưng vào nhau, phối hợp giúp đỡ lẫn nhau tạo

ra thế chiến lược khống chế những địa bàn then chốt về kinh

tế và quốc phòng, trở thành điểm tựa vững chắc cho Việt Nam

- Lào trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước - Về cácnhân tố dân cư, xã hội: Hai nước Việt Nam - Lào đều là nhữngquốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ Chính quá trình cộng cư,hoặc sinh sống xen cài của những cư dân Việt Nam - Lào trênđịa bàn biên giới hai nước đã dẫn đến việc cùng khai thác vàchia sẻ nguồn lợi tự nhiên, đặc biệt là nguồn lợi sinh thuỷ.Điều này, thêm một lần nữa khẳng định các quan hệ cộinguồn và tiếp xúc chính là những điều kiện lịch sử - xã hộiđầu tiên, tạo ra những mối dây liên hệ, giao thoa văn hóanhiều tầng nấc giữa cư dân hai nước

- Về Nhân tố văn hóa và lịch sử: Do quan hệ gần gũi

và lâu đời nên người dân hai nước, đặc biệt là người dân ởvùng biên giới, am hiểu về nhau khá tường tận Các nền văn

Trang 8

hóa nghệ thuật truyền thống của Việt Nam - Lào dễ dàng tìmthấy sự đồng cảm lẫn nhau, chia sẻ các giá trị cộng đồng, coitrọng luật tục, tôn kính người già Sự tương đồng giữa vănhóa hai nước xuất phát từ cội nguồn cùng nền văn minh nôngnghiệp lúa nước ở Đông Nam Á

- Hai nước có chung kẻ thù xâm lược: Việt, Lào đều

cùng chung số phận là đối tượng bị cai trị và bóc lột của cácthế lực thực dân, đế quốc Hơn nữa, kẻ thù bao giờ cũng lớnmạnh gấp nhiều lần so với bất cứ một dân tộc nào trên bánđảo Đông Dương, nên các dân tộc ở đây tất yếu phải liên kếtchặt chẽ với nhau để chống kể thù chung

Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam, sau đổi thànhĐảng Cộng sản Đông Dương năm 1930 là bước ngoặt vĩ đại,đánh dấu mốc hình thành nên mối quan hệ mới của hai nước.Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào phát triển từ quan hệ truyềnthống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chínhngười cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chíXuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước,nhân dân hai nước dày công vun đắp Đó là cơ sở vững chắc

để củng cố và tăng cường khối đoàn kết Đông Dương, khốiliên minh chiến đấu giữa hai dân tộc, đảm bảo thắng lợi củacách mạng mỗi nước Từ nhu cầu và mối gắn kết lịch sử, liênminh đoàn kết chiến đấu Việt - Lào được hình thành và pháttriển, là sự tiếp nối mối quan hệ truyền thống có từ bao đờigiữa nhân dân hai dân tộc Đó không chỉ đơn thuần là mốiquan hệ láng giềng gần gũi, mà được nâng lên thành tìnhbạn, tình anh em, tình đồng chí ngày một thủy chung, son sắtcủa hai dân tộc cùng chung kẻ thù xâm lược, vì mục tiêu

Trang 9

giành và bảo vệ độc lập dân tộc Trải qua các giai đoạn vậnđộng đấu tranh giành chính quyền cách mạng (1930-1945),cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) và chống

đế quốc Mỹ (1954-1975), liên minh ấy được hình thành từchính đòi hỏi khách quan của lịch sử, càng thêm bền chặt, tạothành biểu tượng về tình đoàn kết và mối quan hệ quốc tếtrong sáng bậc nhất của thời đại Các thế hệ về sau, nhậnthức đầy đủ, tiếp tục phát triển quan hệ hữu nghị, đoàn kếthai nước là sứ mệnh lịch sử không thể thay đổi

Hai nước có chung định hướng XHCN dưới sự lãnh đạo củaĐảng cộng sản Có một quan hệ hợp tác cùng nhau chống lạicác nước lớn Cùng tiến hành công cuộc đổi mới (chỉnh đốnđảng, tái cơ cấu nền kinh tế) Việt Nam - Lào chưa từng xảy raxung đột lớn mà có song trùng lợi ích rất lớn Hợp tác cùngnhau trong cộng đồng ASEAN, là 02 quốc gia nằm trong nhómkém phát triển nên phải liên kết, đoàn kết Đoàn cấp cao giữahai Đảng, hai Nhà nước thường xuyên có các cuộc gặp, tiếpxúc, trao đổi lẫn nhau Các địa phương của Việt Nam - Làothường xuyên có mối quan hệ kết nghĩa với nhau

Việt Nam và Lào đã nhất trí thiết quan hệ ngoại giao vàongày 5-9- 1962, Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam – Lào(ngày 18/7/1977, Hiệp ước có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là

cơ sở pháp lý vững chắc cho việc tăng cường và mở rộng mốiquan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào trong thời kỳ mới; tạo cơ sở

để hai bên tiến tới ký kết hàng loạt các thỏa thuận hợp tácsau này giữa hai nước) Sau khi giành được độc lập hoàn toàn,quan hệ giữa hai nước tiếp tục phát triển trên các quan hệsong phương giữa hai nước

Trang 10

1.2 Kết quả đạt được của mối quan hệ Việt Nam Lào

-Trong hợp tác song phương:

* Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng

Quan hệ đặc biệt Việt - Lào tiếp tục được củng cố và tăngcường, đạt được những thành tựu lớn Hai nước vẫn giữ đượcđịnh hướng chính trị theo con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN).Trong bối cảnh Chiến tranh lạnh kết thúc, Việt Nam và Làođều mất đi một chỗ dựa về vật chất và tinh thần to lớn từ hệthống xã hội chủ nghĩa (XHCN) Tuy nhiên, cả Việt Nam vàLào vẫn kiên định con đường đổi mới, giữ vững định hướngchính trị, ổn định an ninh quốc gia, mở rộng quan hệ đối ngoạitheo hướng đa dạng hóa, đa phương hóa Việt Nam - Lào cóquan hệ hợp tác chính trị gắn bó, tin cậy sâu sắc, thườngxuyên có các cuộc gặp, tiếp xúc trao đổi cấp cao diễn ra vớitần suất dày, hợp tác giữa các bộ ngành, kết nghĩa giữa các

địa phương hai nước, thực hiện cơ chế đặc phái viên - Về chính trị - ngoại giao: Hai bên luôn hợp tác chặt chẽ với

nhau trong việc trao đổi về lý luận và thực tiễn của công cuộcđổi mới, kinh nghiệm xây dựng Đảng và phát triển đất nước,phát huy hợp tác giữa các địa phương, các tổ chức quầnchúng Hầu hết lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước hainước đều có các chuyến thăm lẫn nhau Qua các chuyến thăm

và buổi làm việc, hai bên luôn khẳng định sẽ tiếp tục, củng cố

và phát triển nâng tầm mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặcbiệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào trong bối cảnh mới,phù hợp với tình hình mỗi nước nói riêng và tình hình khu vực,

Trang 11

thế giới nói chung Với đường biên giới chung dài hơn2.300km, Chính phủ hai nước luôn khuyến khích quan hệ hợptác trực tiếp, toàn diện giữa các địa phương có chung đườngbiên giới, tổ chức các hoạt động đối ngoại chính thức và đốingoại nhân dân, đưa ra các mô hình hợp tác, kết nghĩa từ cấptỉnh đến cấp huyện, được mở rộng trên nhiều lĩnh vực vàmang lại hiệu quả ngày càng thiết thực Trong quá trình hộinhập và phát triển, hai nước thường xuyên trao đổi thông tin

và tham khảo ý kiến của nhau, điều này khẳng định tráchnhiệm và quyết tâm coi trọng, gìn giữ và tăng cường quan hệđặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nướcViệt Nam - Lào Quan hệ phát triển trong bối cảnh hai nướcđều mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới vàkhu vực, để tạo lập môi trường thuận lợi cho sự nghiệp bảo vệ

và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa(XHCN), trong đường lối đối ngoại của cả Việt Nam và Lào đềuxác định rõ chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệquốc tế Từ định hướng trên, bên cạnh việc đẩy mạnh mởrộng quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới,quan hệ hợp tác Việt Nam - Lào trên lĩnh vực ngoại giao cũngđược đẩy mạnh trên ba phương diện: đối ngoại Đảng, ngoạigiao Nhà nước và đối ngoại nhân dân theo phương châm

“láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện,bền vững lâu dài” Thông qua các cuộc gặp cấp cao, hai bên

đã trao đổi những kinh nghiệm quý báu của mình trong côngcuộc đổi mới và xây dựng đất nước

- Về An ninh - quốc phòng: Ngay từ những năm đầu

thập niên 90 của thế kỷ XX, hai Chính phủ, hai Bộ chức năng

Trang 12

(Bộ Nội vụ, nay là Bộ Công an) của hai nước đã ký kết nhữnghiệp định, nghị định về hợp tác, hỗ trợ nhau trong công tácbảo vệ an ninh Trong mối quan hệ này, phía Việt Nam luônchủ động và đảm nhiệm gánh vác các công việc khó khănnhất với phương châm “giúp bạn là tự giúp mình”,“an ninhcủa bạn cũng chính là an ninh của mình”, Việt Nam đã giúpLào củng cố và xây dựng được một lực lượng an ninh có chấtlượng cao và đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ theo yêu cầucủa tình hình mới Hợp tác về quốc phòng giữa hai nước cũngđược đặc biệt quan tâm Bộ Quốc phòng Việt Nam chú trọnggiúp Lào xây dựng một chiến lược quốc phòng dài hạn, mộtđường lối quốc phòng toàn dân, toàn diện Việt Nam đã giúpLào xây dựng quân đội của mình trở thành một đội quân vữngmạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và chuyên môn Quân độiLào được xây dựng theo hướng chính quy và hiện đại, có sứcchiến đấu cao, đủ khả năng làm chỗ dựa cho thế trận chiếntranh nhân dân Các lực lượng bộ đội địa phương, dân quân ởcấp bản, lực lượng dự bị động viên đều được chú ý xâydựng, củng cố và luyện tập thường xuyên để khi cần có thểhuy động được kịp thời Hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng -

an ninh giữa hai nước tiếp tục đạt được nhiều kết quả quantrọng, góp phần bảo đảm vững chắc ổn định chính trị, trật tự,

an toàn xã hội của mỗi nước Sau khi hoàn thành phân giới,cắm mốc trên thực địa trên toàn tuyến biên giới Việt Nam -Lào vào ngày 24-1-1986, hai nước tiếp tục phối hợp triển khai,thực hiện tốt theo các thỏa thuận đã ký kết về biên giới, ngănchặn và xử lý kịp thời mọi hành động xâm phạm biên giới,phối hợp đấu tranh chống tội phạm xuyên biên giới, thúc đẩy

ký kết các hiệp định trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh Thực

Trang 13

hiện thỏa thuận giữa hai nước; Bộ Công an Việt Nam cung cấptài liệu, cử cán bộ, chuyên gia và giảng viên sang Lào để hỗtrợ biên soạn giáo trình, giáo án và mở lớp bồi dưỡng nghiệp

vụ ngắn hạn cho lãnh đạo an ninh các cấp tại Lào Bên cạnh

đó, Lào cũng gửi cán bộ Công an sang đào tạo chính quy tạicác trường an ninh, cảnh sát ở Việt Nam Hằng năm, Việt Namđều tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho các đơn

vị an ninh, quân đội của Lào Việt Nam và Lào luôn hợp tácbảo vệ an ninh biên giới Hai bên đã hoàn thành dự án tăngdày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào; kýNghị định thư về đường biên giới và mốc quốc giới Việt Nam -Lào, Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới và cửa khẩu biêngiới Việt Nam - Lào; tiếp tục đẩy mạnh triển khai thỏa thuậngiữa hai Chính phủ về giải quyết vấn đề người di cư tự do vàkết hôn không giá thú ở vùng biên giới Việt Nam - Lào Về cơbản hai bên đã thực hiện xong việc cắm mốc biên giới để tạođường biên giới hòa bình

* Trên lĩnh vực kinh tế

- Về Thương mại: Cho đến nay, các hiệp định thương

mại được ký kết đều nhằm vào mục đích mở rộng hơn nữaquan hệ thương mại giữa hai nước trên cơ sở bình đẳng cùng

có lợi, tôn trọng truyền thống hợp tác và tập quán thương mạiquốc tế Để thúc đẩy trao đổi thương mại, hai nước đã tiếnhành các hoạt động như: ký Hiệp định quá cảnh hàng hóa,ban hành quy chế về hàng hóa của Lào quá cảnh lãnh thổViệt Nam; xây dựng nhiều siêu thị và trung tâm giới thiệuhàng hóa của Việt Nam tại các địa phương của Lào; xây dựngmột số khu thương mại tự do ở các cửa khẩu biên giới bằng

Trang 14

các nỗ lực nêu trên, trao đổi thương mại Việt - Lào khôngngừng tăng lên, nếu như năm 2005 mới chỉ đạt 165 triệu USDthì đến hết tháng 9-2020, kim ngạch thương mại hai chiềugiữa Việt Nam và Lào đạt gần 740 triệu USD (trong đó xuấtkhẩu từ Việt Nam sang Lào gần 423 triệu USD, nhập khẩu từLào hơn 316 triệu USD) Hiện nay, hai nước đã ký Hiệp địnhthương mại mới và Hiệp định thương mại biên giới, tạo điềukiện thuận lợi cho trao đổi thương mại giữa hai nước thời giantới, về hợp tác kinh tế, quan hệ giữa hai nước trong nhữngnăm qua có những bước phát triển quan trọng Giá trị thươngmại hai chiều tăng đều qua các năm Nếu như năm 2010,thương mại song phương Việt Nam - Lào mới ở mức 263,81triệu USD thì con số này đã tăng lên 824,24 triệu USD năm

2015 và đạt mức 1,51 tỷ USD năm 2019 Nếu như năm 2010,thương mại Việt Nam - Lào mới chỉ chiếm 5,96% tổng thươngmại của Lào thì đến năm 2019, tỷ lệ này đã tăng lên mức12,97% Như vậy, trong giai đoạn 2011-2020, tổng kim ngạchthương mại giữa hai nước đạt trên 10 tỷ USD Về đầu tư, theo

số liệu thống kê của Ủy ban Hợp tác Lào - Việt, đầu tư củaViệt Nam vào Lào tính lũy tiến trong giai đoạn 2011-2020 đạttrị giá trên 4 tỷ USD với 414 dự án, đứng thứ 3 trong số 53quốc gia và vùng lãnh thổ đang đầu tư, kinh doanh tại Lào(sau Trung Quốc và Thái Lan) Các dự án đầu tư lớn của ViệtNam tại Lào bao gồm mạng viễn thông Unitel của ViettelGlobal, các dự án trồng cao su và dầu cọ, xây sân bay NongKhang ở tỉnh Houaphanh, các dự án thủy điện Sekaman 1,Sekaman 3…đặc biệt là công trình Nhà Quốc hội Lào - mộttrong những biểu tượng cho mối quan hệ thủy chung, trongsáng và trước sau như một giữa Việt Nam - Lào

Trang 15

- Về Đầu tư: Đây là lĩnh vực được hai nước coi trọng.

Thông qua các hoạt động như giao lưu, trao đổi, xúc tiến đầu

tư - thương mại, Việt Nam tiếp tục là một trong ba nhà đầu tưlớn nhất tại Lào (cùng Trung Quốc và Thái Lan), với 413 dự ánvới tổng vốn đăng ký là 4,22 tỷ USD, tăng 35% so với năm

2010 Đặc biệt, năm 2020 có bước đột phá với 9 dự án đượccấp mới và điều chỉnh, vốn lũy kế hơn 143 triệu USD, tăng130% so với cùng kỳ năm 2019 Nhiều dự án đầu tư phát huyhiệu như sản xuất kinh doanh có lãi, đóng góp tích cực vàocông cuộc phát triển của hai nước, tạo công ăn việc làm, phúclợi xã hội, giúp Lào thực hiện tốt chính sách xóa nghèo

- Về viện trợ không hoàn lại: Tuy vẫn còn khó khăn về

vốn nhưng Việt Nam luôn dành nguồn viện trợ phát triển nhấtđịnh cho Lào Giai đoạn 1996-2000 Việt Nam đã viện trợkhông hoàn lại cho Lào gần 26,6 triệu USD; giai đoạn 2001-

2005 là 37 triệu USD; năm 2013-2014 là 28,2 triệu USD; giaiđoạn 2016-2020 là 3.250 tỷ đồng Viện trợ của Việt Nam đãđược tài trợ cho các hoạt động trong nhiều lĩnh vực khácnhau, quan trọng nhất là phát triển nguồn nhân lực

* Về giáo dục, văn hóa, du lịch, y tế

- Về Giáo dục: Hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực giáo

dục - đào tạo đạt được nhiều thành quả quan trọng Việt Nam

đã giúp Lào đào tạo đội ngũ cán bộ và nguồn nhân lực vớihàng chục nghìn người, ngày càng đáp ứng yêu cầu côngcuộc đổi mới của Lào Trong giai đoạn 2011-2020, đã có trên30.000 du học sinh Lào theo học tại Việt Nam với cơ cấungành nghề và cấp bậc đào tạo khác nhau như (cao đẳng, đạihọc, thạc sỹ, tiến sỹ) và hiện nay, con số này là 16.644 người

Ngày đăng: 29/11/2022, 16:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
(1) Xem Thiện Tâm: Triển lãm ảnh “Quan hệ đặc biệt hữu nghị Việt Nam – Lào”, http://baochinhphu.vn/Van-hoa/Trien-lam-anh-Quan-he-huu-nghidac-biet-Viet-Nam-Lao/415730.vgp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ đặc biệt hữunghị Việt Nam – Lào
(6) Báo điện tử Chính phủ: “Hợp tác Việt - Lào: Vượt mụctiêu trong nhiều lĩnh vực”,http://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Hop-tac-Viet-Lao-Vuot-muctieu-trong-nhieu-linh-vuc/416215.vgp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác Việt - Lào: Vượt mụctiêu trong nhiều lĩnh vực
(7) Ngô Minh Châu: “Việt Nam - Lào sánh bước trên con đường phát triển phồn vinh”, Thông tấn xã Việt Nam, ngày 2- 12-2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam - Lào sánh bước trên conđường phát triển phồn vinh
(2) Xem Trung tâm Truyền thông giáo dục: Việt Nam – Lào ký kết 3 năm hợp tác về giáo dục và đào tạo, http://moet.gov.vn/tintuc/Pages/tin-tonghop.aspx?ItemID=7116 Link
(3) Xem Vân Thiêng, Đặng Thùy/VOV- Vientiane: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Lào đã tăng trở lại, https://vov.vn/kinh-te/kim-ngachxuat-nhap-khau-viet-nam-lao-da-tang-tro-lai-815981.vov Link
(4) Xem Phạm Kiên (TTXVN/Vietnam+): Trao đổi thương mại Lào – Việt khó đạt mục tiêu đề ra do dịch Covid-19, https://ww.vietnamplus.vn/traodoi-thuong-mai-Lao-Viet-kho-dat-muc-tieu-de-ra-do-dichCovid-19/661201.vnp Link
(5) Ban Tuyên giáo Trung ương: Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào (1930-2017), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2017, tr. 135 - 136 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w