1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cao học môn quan hệ quốc tế chính sách đối ngoại việt nam – lào trong thời gian qua và tình hình hợp tác trong thời gian tới

23 9 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách đối ngoại Việt Nam – Lào trong thời gian qua và tình hình hợp tác trong thời gian tới
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Thể loại Tiểu luận cao học
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 212,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. MỞ ĐẦU Việt Nam - Lào là hai nước láng giềng, có đường biên giới chung dài hơn 2.300 km. Chính phủ hai nước luôn khuyến khích đẩy mạnh quan hệ hợp tác trực tiếp, toàn diện giữa các địa phương của hai bên, tổ chức các hoạt động đối ngoại chính thức và đối ngoại nhân dân, xây dựng các mô hình hợp tác, kết nghĩa, mở rộng trên nhiều lĩnh vực để ngày càng mang lại hiệu quả thiết thực. Trong quá trình hội nhập và phát triển, hai nước thường xuyên trao đổi thông tin và tham khảo ý kiến với nhau, khẳng định trách nhiệm và quyết tâm coi trọng, gìn giữ và tăng cường quan hệ đặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào. Đồng thời, đây cũng là nền tảng vững chắc góp phần thúc đẩy quan hệ hai nước tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch COVID-19 bùng phát, Việt Nam và Lào vẫn duy trì các chuyến thăm và tiếp xúc trực tiếp ở cấp cao nhất. Các chuyến thăm giữa lãnh đạo cấp cao hai nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tiếp tục khẳng định tình đoàn kết, gắn bó tin cậy, thủy chung, trong sáng, trước sau như một của Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về tăng cường mối quan hệ hữu nghị, tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Lào, thời gian qua, tỉnh Bình Định đã thiết lập và phát triển quan hệ hợp tác toàn diện và ngày càng đi vào chiều sâu đối với 4 tỉnh Nam Lào: Attapu, Sekong, Champasak và Salavan. Trong năm 2021, do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch COVID-19, các hoạt động đối ngoại nói chung và hoạt động hợp tác với Lào nói riêng đều bị chi phối theo hướng ít thuận lợi. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay mối quan hệ Việt Nam – Lào nói chung và Bình Định với các tỉnh Nam Lào nói riêng đặt dưới những thách thức của tình hình thế giới và khu vực trong thời kỳ mới, do đó cần có những giải pháp nhằm tiếp tục duy trì sự gắn kết của 2 quốc gia nhằm đem lại sự phát triển thịnh vượng chung, đồng thời đảm bảo tình hình an ninh trật tự của khu vực và trên thế giới.

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 3

B NỘI DUNG 4

I HỢP TÁC, LIÊN KẾT VIỆT NAM – LÀO TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 4

1 Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng 4

1.1 Trong khuôn khổ hợp tác, liên kết song phương 4

1.2 Trong khuôn khổ hợp tác, liên kết khu vực và quốc tế 5

2 Trên lĩnh vực kinh tế 5

2.1 Trong khuôn khổ hợp tác, liên kết song phương 5

2.2 Trong khuôn khổ hợp tác, liên kết khu vực và quốc tế 6

3 Trên một số lĩnh vực khác 8

3.1 Trong khuôn khổ hợp tác song phương 8

II TÌNH HÌNH, KẾT QUẢ THỰC HIỆN HỢP TÁC GIỮA BÌNH ĐỊNH VỚI CÁC TỈNH NAM LÀO 10

1 Kết quả đạt được trong thời gian qua 10

1.1 Hoạt động hỗ trợ, thăm hỏi, giúp đỡ lẫn nhau 10

1.2 Lĩnh vực giáo dục - đào tạo 10

1.3 Lĩnh vực quốc phòng 11

1.4 Lĩnh vực đối ngoại 12

1.5 Các lĩnh vực khác 13

2 Đánh giá chung về tình hình, hợp tác giữa Bình Định và các tỉnh Nam Lào thời gian qua 14

2.1 Thuận lợi 14

2.2 Một số khó khăn, vướng mắc 14

2.3 Nguyên nhân: 15

III GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ VIỆT NAM – LÀO VÀ CỦA BÌNH ĐỊNH VỚI CÁC TỈNH NAM LÀO 15

1 Các giải pháp thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Lào 15

Trang 2

1.1 Nhóm giải pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác, liên kết việt Nam - Lào 15

1.2 Nhóm giải pháp thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Lào - Canipuchia trong khuôn khổ hợp tác, liên kết khu vực và quốc tế 16

2 Các giải pháp thúc đẩy hợp tác giữa Bình Định và các tỉnh Nam Lào 18

C KẾT LUẬN 20

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

Trang 3

A MỞ ĐẦU

Việt Nam - Lào là hai nước láng giềng, có đường biên giới chung dài hơn2.300 km Chính phủ hai nước luôn khuyến khích đẩy mạnh quan hệ hợp tác trựctiếp, toàn diện giữa các địa phương của hai bên, tổ chức các hoạt động đối ngoạichính thức và đối ngoại nhân dân, xây dựng các mô hình hợp tác, kết nghĩa, mởrộng trên nhiều lĩnh vực để ngày càng mang lại hiệu quả thiết thực Trong quá trìnhhội nhập và phát triển, hai nước thường xuyên trao đổi thông tin và tham khảo ýkiến với nhau, khẳng định trách nhiệm và quyết tâm coi trọng, gìn giữ và tăngcường quan hệ đặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước ViệtNam - Lào Đồng thời, đây cũng là nền tảng vững chắc góp phần thúc đẩy quan hệhai nước tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới Đặc biệt, trong bối cảnh đạidịch COVID-19 bùng phát, Việt Nam và Lào vẫn duy trì các chuyến thăm và tiếpxúc trực tiếp ở cấp cao nhất Các chuyến thăm giữa lãnh đạo cấp cao hai nước có ýnghĩa đặc biệt quan trọng, tiếp tục khẳng định tình đoàn kết, gắn bó tin cậy, thủychung, trong sáng, trước sau như một của Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về tăng cường mối quan hệhữu nghị, tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam -Lào, thời gian qua, tỉnh Bình Định đã thiết lập và phát triển quan hệ hợp tác toàndiện và ngày càng đi vào chiều sâu đối với 4 tỉnh Nam Lào: Attapu, Sekong,Champasak và Salavan Trong năm 2021, do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịchCOVID-19, các hoạt động đối ngoại nói chung và hoạt động hợp tác với Lào nóiriêng đều bị chi phối theo hướng ít thuận lợi Tuy nhiên, trong tình hình hiện naymối quan hệ Việt Nam – Lào nói chung và Bình Định với các tỉnh Nam Lào nóiriêng đặt dưới những thách thức của tình hình thế giới và khu vực trong thời kỳmới, do đó cần có những giải pháp nhằm tiếp tục duy trì sự gắn kết của 2 quốc gianhằm đem lại sự phát triển thịnh vượng chung, đồng thời đảm bảo tình hình anninh trật tự của khu vực và trên thế giới

Trang 4

Chuyển sang thời kỳ đổi mới, cả Việt Nam và Lào vẫn luôn bị các thếlực thù địch tìm mọi cách chống phá Trước tình hình đó, hợp tác về an ninh giữaViệt Nam và Lào là rất quan trọng và cấp bách Ngay từ những năm đầu thập niên

90 của thế kỷ XX, hai Chính phủ đã ký kết những hiệp định, nghị định về hợp tác,

hỗ trợ nhau trong công tác bảo vệ an ninh Hai bên rất coi trọng việc trao đổi thôngtin và kinh nghiệm xây dựng lực lượng, chống xâm nhập, chống bạo loạn và vôhiệu hóa các hoạt động “diễn biến hòa bình” của kẻ địch Trong mối quan hệ này,phía Việt Nam luôn chủ động và đảm nhiệm gánh vác các công việc khó khăn nhấtvới phương châm “giúp bạn là tự giúp mình”, “an ninh của bạn cũng chính là anninh của mình” Việt Nam đã giúp Lào củng cố và xây dựng được một lực lượng

an ninh có chất lượng cao và đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ theo yêu cầu củatình hình mới

Trang 5

Hợp tác về quốc phòng giữa hai nước cũng được đặc biệt quan tâm.

Bộ Quốc phòng Việt Nam chú trọng giúp Lào xây dựng một chiến lược quốcphòng dài hạn, một đường lối quốc phòng toàn dân, toàn diện Thông qua đội ngũchuyên gia, Việt Nam đã giúp Lào xây dựng quân đội của mình trở thành một độiquân vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và chuyên môn Quân đội Làođược xây dựng theo hướng chính quy và hiện đại, có sức chiến đấu cao, đủ khảnăng làm chỗ dựa cho thế trận chiến tranh nhân dân Hợp tác an ninh, quốc phònggiữa hai nước không ngừng phát triển trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt về huấnluyện, đào tạo Hai bên tiếp tục phối hợp triển khai tốt các thỏa thuận hợp tác anninh, quốc phòng

Việt Nam và Lào luôn hợp tác bảo vệ an ninh biên giới Hai bên đã hoànthành dự án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào; ký Nghịđịnh thư về đường biên giới và mốc quốc giới Việt Nam - Lào, Hiệp định về Quychế quản lý biên giới và cửa khẩu biên giới Việt Nam - Lào; tiếp tục đẩy mạnhtriển khai thỏa thuận giữa hai Chính phủ về giải quyết vấn đề người di cư tự do vàkết hôn không giá thú ở vùng biên giới Việt Nam - Lào

1.2 Trong khuôn khổ hợp tác , liên kết khu vực và quốc tế

Sau Chiến tranh lạnh, hợp tác, liên kết đa phương trên lĩnh vực chínhtrị, an ninh của Việt Nam - Lào đã được tiến hành, trong đó có việc cải thiện quan

hệ với các nước ASEAN khi hai nước đều gia nhập ASEAN Việt Nam - Làokhông chỉ dừng lại ở cấp độ quan hệ song phương, mà còn hợp tác ủng hộ lẫn nhautại các diễn đàn quốc tế và khu vực Hai nước đã tham gia những cơ chế, giải phápkhá hữu hiệu, có khả năng ngăn ngừa xung đột, tạo môi trường khu vực hòa bình,hữu nghị và hợp tác để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế trong nước, củng

cố độc lập chủ quyền quốc gia và thúc đẩy liên kết khu vực trên các lĩnh vực Chođến nay, hai nước cùng các nước ASEAN đã và đang thực hiện tương đối có hiệuquả hàng loạt thỏa thuận liên quan đến chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng

2 Trên lĩnh vực kinh tế 2.1 Trong khuôn khổ hợp tác, liên kết song phương

Trang 6

Về thương mại: Cho đến nay, các hiệp định thương mại được ký kết

đều nhằm vào mục đích mở rộng hơn nữa quan hệ thương mại giữa hai nước trên

cơ sở bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng truyền thống hợp tác và tập quán thươngmại quốc tế Để thúc đẩy trao đổi thương mại, hai nước đã tiến hành các hoạt độngnhư: ký Hiệp định quá cảnh hàng hóa, ban hành quy chế về hàng hóa của Lào quácảnh lãnh thổ Việt Nam; xây dựng nhiều siêu thị và trung tâm giới thiệu hàng hóacủa Việt Nam tại các địa phương của Lào Bằng các nỗ lực nêu trên, trao đổithương mại Việt Nam - Lào không ngừng tăng lên, nếu như năm 2005 mới chỉ đạt

165 triệu USDthì đến hết tháng 9/2020, kim ngạch thương mại hai chiều giữa ViệtNam và Lào đạt gần 740 triệu USD

Về đầu tư: đây là lĩnh vực được hai nước coi trọng Thông qua các

hoạt động như giao lưu, trao đổi, xúc tiến đầu tư - thương mại, Việt Nam tiếp tục làmột trong ba nhà đầu tư lớn nhất tại với 413 dự án và tổng vốn đăng ký là 4,22 tỷUSD, tăng 35% so với năm 2010 Đặc biệt, năm 2020 có bước đột phá với 9 dự ánđược cấp mới và điều chỉnh, vốn lũy kế hơn 143 triệu USD, tăng 130% so với cùng

kỳ năm 2019 Nhiều dự án đầu tư phát huy hiệu quả, sản xuất kinh doanh có lãi,đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển của hai nước, tạo công ăn việc làm,phúc lợi xã hội, giúp Lào thực hiện tốt chính sách xóa nghèo

Về viện trợ không hoàn lại: tuy vẫn còn khó khăn về vốn nhưng Việt

Nam luôn dành nguồn viện trợ phát triển nhất định cho Lào Giai đoạn 1996-2000,Việt Nam đã viện trợ không hoàn lại cho Lào gần 26,6 triệu USD; giai đoạn 2001-

2005 là 37 triệu USD; năm 2013-2014 là 28,2 triệu USD; giai đoạn 2016-2020 là3.250 tỷ đồng Viện trợ của Việt Nam đã được tài trợ cho các hoạt động trongnhiều lĩnh vực khác nhau, quan trọng nhất là phát triển nguồn nhân lực

2.2 Trong khuôn khổ hợp tác, liên kết khu vực và quốc tế

Trang 7

Về hợp tác trong Asian: Việt Nam - Lào đã đề ra nhiều biện pháp

nhằm thúc đẩy hơn nữa các chương trình liên kết kinh tế hiện có của ASEAN như:Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Chương trình hợp tác công nghiệpASEAN (AICO), Hiệp định đầu tư ASEAN (ACIA), Hiệp định thương mại vàhàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định thương mại và dịch vụ ASEAN (AFAS),Hiệp định khung về điện tử ASEAN (e-ASEAN) , đẩy mạnh hoàn thiện cáckhung chính sách nhằm đưa ASEAN trở thành khu vực kinh tế có sức cạnh tranh,thúc đẩy phát triển cân bằng bền vững và thu hẹp khoảng cách phát triển

Về hợp tác tiểu vùng Mekong mở rộng (GMS): trong quá trình triển

khai, GMS ngày càng chứng tỏ là một mô hình hợp tác hiệu quả giữa các nướcASEAN với các đối tác bên ngoài, đưa tiểu vùng Mekong trở thành chiếc cầu nốivới hai nền kinh tế đang nổi lên ở châu Á là Trung Quốc và Ấn Độ GMS thực sự

là diễn đàn của tình hữu nghị, sự hợp tác mang lại lợi ích cho tất cả các bên thamgia Do đó, mô hình hợp tác này không chỉ được các nước trong ASEAN, mà cảcác nước ngoài khu vực, nhất là Nhật Bản, Ấn Độ, Mỹ và Hàn Quốc hết sức quantâm

Về hợp tác kỉnh tể ba dòng sông Ayeyawad - Chao Praya - Mekong (ACMECS): tổ chức ACMECS được thành lập vào tháng 11/2003 Đây là khuôn

khồ hợp tác kinh tế giữa 5 quốc gia là Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar vàThái Lan, nhằm tăng cường hợp tác kinh tế chung và song phương để khai tháccũng như phát huy lợi thế so sánh giữa các vùng, các nước thành viên, nâng caosức cạnh tranh, thu hẹp khoảng cách phát triển Theo đó, ACMECS gắn kết hơnnữa với quá trình xây dựng AEC-2015 và thực hiện Kế hoạch tổng thể về kết nốiASEAN, nâng cao tính cạnh tranh, vai trò và vị trí của các nước ACMECS trongchuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu Đặc biệt trong kết nối giao thông, tạo thuậnlợi cho thương mại và đầu tư giữa 5 nước, phát triển các hành lang kinh tế liênquốc gia như hành lang kinh tế Đông - Tây, hành lang kinh tế phía Nam, phát triển

du lịch xanh và hợp tác nông nghiệp

Trang 8

Về hợp tác và hội nhập kinh tế giữa các nước Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam (CLMV): Hội nghị cấp cao hợp tác và hội nhập kinh tế giữa

các nước CLMV lần thứ nhất đã diễn ra vào tháng 11/2004 tại Viêng Chăn (Lào).Tại Hội nghị, các nhà lãnh đạo 4 nước đã thông qua Tuyên bố Viêng Chăn về hợptác và hội nhập kinh tế giữa các nước CLMV Tuyên bố đã nêu ra các lĩnh vực hợptác: thương mại - đầu tư, nông nghiệp, công nghiệp - năng lượng, giao thông, côngnghệ thông tin, du lịch, phát triển nguồn nhân lực và y tế Đến năm 2020 đã diễn ra

10 lần Hội nghị cấp cao hợp tác và hội nhập kinh tế giữa các nước CLMV Có thểthấy, từ khi hình thành, cơ chế hợp tác tứ giác phát triển CLMV đã hoạt động rấttích cực và đạt được nhiều thành tựu, đặc biệt là mục tiêu xóa đói giảm nghèo vàthu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước CLMV Hợp tác giữa 4 nước là điềukiện cần và là nhân tố quan trọng cho tiến trình hội nhập chung của ASEAN vàcùng với quan hệ hợp tác trong ASEAN, CLMV sẽ giúp duy trì hòa bình, ổn định

và phát triển bền vững trong khu vực

Trang 9

Bên cạnh đó, Việt Nam - Lào còn tích cực tham gia những sáng kiếnhợp tác với nhiều cơ chế hợp tác đa phương theo nhóm nước như: Diễn đàn pháttriển toàn diện Đông Dương (1993); sự phối hợp giữa ASEAN và Nhật Bản thànhlập Nhóm công tác về hợp tác kinh tế giữa CLMV (1994); hợp tác ASEAN pháttriển lưu vực sông Mekong (1995); hợp tác sông Mekong - Sông Hằng, gồm 6nước Lào, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam, Ân Độ (2000) Việt Nam -Lào, chú trọng phát triển hợp tác, liên kết trong khuôn khổ các cơ chế đa phươngnhư: ASEM (1996), APEC (1989), Hội nghị kinh tế Thái Bình Dương (PECC),hợp tác tiểu vùng ASEAN + 1 (hình thành trong những năm 70-80 của thế kỷ XX),ASEAN + 3 (1997), ACD (2002), EAS (2005) là động lực mạnh mẽ thúc đẩyhợp tác và liên kết khu vực ở Đông Á Việt Nam, Lào cùng các bên đối thoại củaASEAN đã tích cực tham gia nhiều cơ chế hợp tác của ASEAN trên các lĩnh vựckhác nhau Hai nước cùng với các nước thành viên khác góp phần nâng cao vai tròtrung tâm của ASEAN, nhờ biết chủ động điều hòa gắn kết và cân bằng các mốiquan tâm và lợi ích để cùng nhau xây dựng môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác

ở khu vực, hỗ trợ các nỗ lực liên kết và phát triển Đây là nhân tố quan trọng giúpmột tổ chức có quy mô khiêm tốn, gồm các quốc gia vừa và nhỏ như ASEAN trởthành hạt nhân thu hút các đối tác lớn và nhỏ cả trong và ngoài khu vực cùng tíchcực tham gia các tiến trình đối thoại và hợp tác ở châu Á - Thái Bình Dương

3 Trên một số lĩnh vực khác 3.1 Trong khuôn khổ hợp tác song phương

Trang 10

Về giáo dục: Việt Nam tiếp tục dành cho Lào nhiều suất học bổng

hàng năm ở tất cả các cấp Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ và nguồn nhân lực choLào ngày càng được tăng cường về cả số lượng và chất lượng Việt Nam - Lào cóquan hệ hợp tác rất khăng khít và hiệu quả trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.Trong giai đoạn 2011-2020, đã phối hợp thực hiện tốt các nội dung của Đề án nângcao chất lượng và hiệu quả hợp tác Việt - Lào trong lĩnh vực giáo dục và phát triểnnguồn nhân lực giai đoạn 2011-2020 Việt Nam đã đào tạo cho Lào gần 30.000người với cơ cấu ngành nghề và cấp bậc đào tạo khác nhau Việt Nam cũng đã cử

156 giáo viên sang giảng dạy tiếng Việt tại các trường phổ thông, trường đại học

và bồi dưỡng tiếng Việt cho cán bộ các bộ, ngành của Lào Trong giai đoạn

2011-2019, phía Lào cũng đã tiếp nhận 395 sinh viên Việt Nam sang học tập, trong đó

có 44 người học thạc sĩ, 289 người học đại học và 62 người thực tập tiếng Lào

Về văn hóa: Quan hệ Việt - Lào trên lĩnh vực văn hóa ngày càng được

củng cố, mở rộng và phát triển Sự hợp tác này được thể hiện qua những văn bảnthỏa thuận chiến lược, hiệp định hợp tác đã được hai bên ký kết qua các năm vàquá trình thực hiện, kết quả đã đạt được trong việc thực hiện các thỏa thuận, hiệpđịnh hợp tác ấy, như bảo tồn, bảo tàng, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, xuất bảnbáo chí thông tin, hợp tác quốc tế, đào tạo cán bộ

Về du lịch: Hai nước thường xuyên trao đổi đoàn để giúp nhau thông

tin và kinh nghiệm, cũng như giúp đào tạo cán bộ và khảo sát các tuyến du lịch, sốlượng khách du lịch qua lại giữa Việt Nam và Lào ngày một tăng

Về y tế: Hai nước Việt Nam và Lào tăng cường hợp tác trên lĩnh vực y

tế, góp phần tích cực vào việc thực hiện các nhiệm vụ chiến lược phát triển kinh tế

- xã hội của mỗi nước Việt Nam giúp đỡ về kinh nghiệm và cử chuyên gia kỹthuật y tế sang giúp Lào xây dựng mạng lưới phòng, chống và chữa bệnh ở nhiềuđịa phương Việt Nam cam kết tăng cường hợp tác, giúp Lào xây dựng và pháttriển mạng lưới y tế từ trung ương đến cơ sở Ngoài ra, Việt Nam còn giúp Làotrong việc đào tạo, nâng cao trình độ cho cán bộ y tế của Lào theo chương trìnhchung

Trang 11

II TÌNH HÌNH, KẾT QUẢ THỰC HIỆN HỢP TÁC GIỮA BÌNH ĐỊNH VỚI CÁC TỈNH NAM LÀO

1 Kết quả đạt được trong thời gian qua 1.1 Hoạt động hỗ trợ, thăm hỏi, giúp đỡ lẫn nhau

Thực hiện Bản ghi nhớ hợp tác đã ký kết, những năm qua, tỉnh BìnhĐịnh đã thường xuyên hỗ trợ 4 tỉnh Nam Lào trong phát triển kinh tế - xã hội, khắcphục hậu quả thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh Năm 2021, do phát sinh đại dịch COVID-

19, điều kiện qua lại giữa hai bên không cho phép nên vấn đề hỗ trợ phát triển kinh

tế - xã hội cho các tỉnh Nam Lào giảm đáng kể Ngoài khoản hỗ trợ đào tạo nguồnnhân lực và xây dựng các công trình hữu nghị cho một số đơn vị quân đội của haitỉnh Champasak và Attapu; tháng 5/2021 trên cơ sở đề nghị của Tổng Lãnh sựquán Việt Nam tại Pakse và mối quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai nước ViệtNam - Lào nói chung và giữa tỉnh Bình Định với 4 tỉnh Nam Lào nói riêng, Tỉnh

ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân - Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Namtỉnh Bình Định đã quyết định sử dụng nguồn ngân sách tỉnh để hỗ trợ cho 4 tỉnhNam Lào (Attapu, Champasak, Salavan và Sekong), với số tiền 800 triệu đồng(mỗi tỉnh 200 triệu đồng) phục vụ công tác phòng, chống dịch COVID-19 Khoảnkinh phí hỗ trợ nêu trên đã chuyển đến các tỉnh Nam Lào thông qua tài khoản ngânhàng được các tỉnh bạn cung cấp

Ngoài ra, do ảnh hưởng của dịch COVID-19, hoạt động trao đổi đoàncấp cao hai bên tuy không diễn ra nhưng lãnh đạo tỉnh Bình Định và các tỉnh NamLào vẫn thường xuyên trao đổi Thư thăm hỏi, động viên, chúc mừng nhân dịp Lễ,Tết, của hai nước Việt Nam - Lào và các sự kiện tổ chức cấp địa phương

1.2 Lĩnh vực giáo dục - đào tạo

Theo thỏa thuận hợp tác giữa tỉnh Bình Định và 04 tỉnh Nam Lào,hàng năm tỉnh Bình Định cấp 40 suất học bổng cho sinh viên 04 tỉnh Nam Làosang học tại các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Bình Định Hiện nay, có

115 sinh viên Lào đang học tập tại tỉnh

Ngày đăng: 29/11/2022, 15:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Quan hệ quốc tế (Dùng cho hệ đào tạo Cao cấp lý luận chính trị), Nxb. Lý luận chính trị, H.202L Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quan hệ quốc tế (Dùng cho hệ đào tạo Cao cấp lý luận chính trị)
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Lý luận chính trị
2. Phạm Minh Sơn (Chủ biên): Giáo trình Chính sách đổi ngoại của một số nước lớn trên thể giới, Nxb.Lý luận chính trị, H.2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chính sách đổi ngoại của một số nước lớn trên thể giới
Tác giả: Phạm Minh Sơn
Nhà XB: Nxb.Lý luận chính trị
Năm: 2020
3. Lê Đình Chính: Quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào giai đoạn 1954-2017, Nxb.Thông tin và Truyền thông, H.2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào giai đoạn 1954-2017
Tác giả: Lê Đình Chính
Nhà XB: Nxb.Thông tin và Truyền thông
Năm: 2017
4. Vũ Dương Ninh (Chủ biên): Việt Nam trong thể giới đang đổi thay, Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội, H.2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam trong thể giới đang đổi thay
Tác giả: Vũ Dương Ninh
Nhà XB: Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2017
5. Báo cáo tình hình hợp tác giữa Bình Định và các tỉnh Nam Lào năm 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình hợp tác giữa Bình Định và các tỉnh Nam Lào năm 2021
Năm: 2021

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w