1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ UEH đánh giá hiệu quả kinh tế và chi phí khám chữa bệnh của những hộ nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, trường hợp nghiên cứu các hộ trồng rau tại thành phố hồ chí minh

89 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Hiệu Quả Kinh Tế Và Chi Phí Khám Chữa Bệnh Của Những Hộ Nông Dân Sử Dụng Thuốc Bảo Vệ Thực Vật: Trường Hợp Nghiên Cứu Các Hộ Trồng Rau Tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Nguyễn Đức Khoa
Người hướng dẫn Phó Giáo Sư - Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Vinh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh Tế Phát Triển
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN ĐỨC KHOA ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ CHI PHÍ KHÁM CHỮA BỆNH CỦA NHỮNG HỘ NÔNG DÂN SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU CÁC HỘ TRỒNG RAU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MIN

Trang 1

NGUYỄN ĐỨC KHOA

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ CHI PHÍ KHÁM CHỮA BỆNH CỦA NHỮNG HỘ NÔNG DÂN SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT:

TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU CÁC HỘ TRỒNG

RAU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2015

Trang 2

NGUYỄN ĐỨC KHOA

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ CHI PHÍ KHÁM CHỮA BỆNH CỦA NHỮNG HỘ NÔNG DÂN SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT:

TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU CÁC HỘ TRỒNG

RAU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : KINH TẾ PHÁT TRIỂN

Mã số chuyên ngành : 60310105

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PHÓ GIÁO SƯ - TIẾN SĨ NGUYỄN NGỌC VINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam kết đây là luận văn này được hoàn thành dựa trên kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác

Tp Hồ Chí Minh, Ngày 08 tháng 06 năm 2015

Người thực hiện

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH TÓM TẮT

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

1.2 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 4

1.5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4

1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

1.7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 5

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 6

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7

2.1 CÁC KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NGHIÊN CỨU 7

2.1.1 Hiệu quả kinh tế 7

2.1.1.1 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế 7

2.1.1.2 Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế 9

2.1.2 Chi phí y tế 13

2.1.2.1 Chi phí y tế 13

2.1.2.2 Viện phí 13

2.1.3 Thuốc bảo về thực vật 14

2.1.3.1 Khái niệm thuốc bảo về thực vật 14

2.1.3.2 Các nhóm thuốc bảo vệ thực vật 15

Trang 5

2.1.3.4 Vai trò của thuốc bảo vệ thực vật trong hoạt động sản xuất nông nghiệp 17

2.1.3.5 Tác động của thuốc bảo vệ thực vật đối với con người 18

2.1.4 Thực trạng tác hại thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam 19

2.2 CÁC LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NGHIÊN CỨU 22

2.3 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 23

2.4 KHUNG PHÂN TÍCH 38

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 39

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 40

3.2 MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 41

3.3 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 46

3.4 PHƯƠNG PHÁP XỮ LÝ DỮ LIỆU 47

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 48

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48

4.1 MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU 48

4.2 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 49

4.2.1 Phân tích hiệu quả sản xuất ra tại các hộ ở TP Hồ Chí Minh 49

4.2.2 Kiểm tra đa cộng tuyến 53

4.2.3 Kết quả hồi quy 54

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 64

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 59

5.1 KẾT LUẬN 59

5.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 59

5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 61

TÓM TẮT CHƯƠNG 5 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Tóm tắt một số nghiên cứu có liên quan 34

Bảng 3.1: Phân bố mẫu 46

Bảng 4.1: Mô tả mẫu nghiên cứu 48

Bảng 4.2: Thống kê mô tả 49

Bảng 4.3: Phân tích chi phí sản xuất rau bình quân 50

Bảng 4.4: Hiệu quả sản xuất rau của hộ nông dân 51

Bảng 4.5: So sánh lợi ích kinh tế và chi phí khám chữa bệnh của các hộ nông dân 53 Bảng 4.6: Kết quả hồi quy OLS về hiệu quả kinh tế của các hộ trồng rau 54

Bảng 4.7: Kết quả hồi quy Logistic về rủi ro sức khỏe của nông dân 57

Bảng 4.8: Kết quả tính toán tác động biên 59

Bảng 4.9: Kết quả hồi quy OLS chi phí y tế 61

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Khung phân tích 38Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 40

Trang 9

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là phân tích hiệu quả kinh tế của các hộ trồng rau có sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (TBVTV) ở thành phố Hồ Chí Minh, xem xét tác động của TBVTV lên thu nhập cũng như rủi ro sức khỏe và chi phí y tế của họ Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, tác giả tiến hành lược khảo các khái niệm, lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Dựa trên kết quả tổng quan tài liệu, tác giả đề xuất khung phân tích, mô hình nghiên cứu

và tiến hành thu thập dữ liệu để tiến hành phân tích

Bằng cách sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến và hồi quy Logistic đa biến, kết quả nghiên cứu đã cho thấy TBVTV có tác động tích cực đến hiệu quả kinh tế của các hộ trồng rau thông qua kênh cải thiện thu nhập Bên cạnh

đó, nghiên cứu cũng đã cho thấy diện tích canh tác, phân bón, ngày công lao động, trình độ học vấn của nông dân và độ màu mỡ của đất canh tác đều có tác động tích cực đến thu nhập của hộ trồng rau trên địa bàn TP Hồ Chí Minh Mặc dù TBVTV

có giúp cải thiện thu nhập cho người nông dân nhưng nghiên cứu cũng đã cho thấy việc sử dụng TBVTV sẽ làm tăng khả năng khám chữa bệnh và chi phí khám chữa bệnh của người nông dân Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng đã cho thấy tuổi của người nông dân và thói quen uống rượu sẽ làm tăng rủi ro sức khỏe và chi phí khám chữa bệnh của họ Kết quả nghiên cứu trên sẽ là căn cứ để tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách giúp cải thiện hiệu quả kinh tế của hộ trồng rau cũng như hạn chế bớt rủi ro sức khỏe và chi phí khám chữa bệnh của họ

Trang 10

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hiện nay việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật rất phổ biến ở Việt nam Thuốc bảo vệ thực vật (TBVTV) là các loại hoá chất do con người sản xuất ra để trừ sâu bệnh có hại cho cây trồng Các loại thuốc này có ưu điểm là diệt sâu bệnh nhanh, sử dụng lại đơn giản, nên được nông dân ưa thích TBVTV giúp tăng năng suất canh tác nông nghiệp, đem lại lợi ích kinh tế cho người làm nghề nông nói chung, và người trồng rau nói riêng Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm của việc sử dụng TBVTV trong phòng chống dịch bệnh, nâng cao năng suất và bảo vệ cây trồng, bảo đảm cung cấp lương thực, thực phẩm theo nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, TBVTV còn có những tác hại nhất định gây hậu quả xấu đến môi trường đặc biệt là ảnh hưởng tới sức khoẻ của những người phun thuốc

Ở Việt nam cũng như các nước đang phát triển khác, việc phun TBVTV đặc biệt có tác động xấu đến sức khỏe của nông dân Đó là do ở Việt nam và các nước đang phát triển, việc phun TBVTV được thực hiện thủ công Các chi phí y tế ước tính là rất lớn

Trong nghiên cứu này, phân tích hồi quy của các yếu tố quyết định đến chi phí y tế cho thấy, số lượng TBVTV được sử dụng, tần suất sử dụng TBVTV và số loại TBVTV được sử dụng là các yếu tố quan trọng nhất quyết định chi phí y tế

Các kết quả nghiên cứu có thể là tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng trong việc hoàn thiện chính sách liên quan đến sử dụng TBVTV ở nước ta

1.2 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Thuốc bảo vệ thực vật là một một thành phần có ý nghĩa quan trọng và được

sử dụng ngày càng tăng trong ngành nông nghiệp hiện đại Tuy nhiên, nó càng quan trọng để bảo vệ cây trồng khỏi bị sâu bệnh bao nhiêu, người nông dân cũng lại càng

Trang 11

thuốc trừ sâu (Antle và Capalbo, 1994; Arcury và cộng sự, 2000; Maumbe và Swinton, 2003; Wilson, 2005) Ngộ độc TBVTV trong quá trình phun trên các cây trồng rất phổ biến đối với nông dân ở các nước đang phát triển Nguyên nhân chủ yếu là do ở các nước đang phát triển, người nông dân phun TBVTV thủ công Mặc

dù vấn đề rất phổ biến, mức độ chính xác của các mức độ nghiêm trọng và tầm quan trọng của vấn đề chưa được làm rõ và phổ biến Tại các nước đang phát triển, tỷ lệ nhiễm độc TBVTV cấp tính thực tế chưa được làm rõ và không có số cụ thể Van Der Hoek và cộng sự (1998) ước tính có khoảng 7,5 phần trăm lao động nông nghiệp ở Sri Lanka bị nhiễm độc mỗi năm Các con số tương ứng cho Costa Rica và Nicaragua là 4.5 % và 6.3 % (Wesseling và cộng sự 1993)

Các nghiên cứu cho đến nay đã xem xét sự tiếp xúc của nông dân với TBVTV, chi phí chữa bệnh và các yếu tố quyết định khác của họ dựa trên các thông tin được cung cấp bởi người nông dân Trong nghiên cứu này, các dữ liệu sẽ được thu thập từ một khảo sát thực địa ở các khu vực trồng rau ở Tp Hồ Chí Minh

Dung và Dung (1999) cho rằng, Việt nam đã và đang sử dụng TBVTV ngày càng gia tăng nhanh chóng, đặc biệt là trong ba thập kỷ qua Tỷ lệ mắc và tử vong phát sinh do nhiễm độc TBVTV cũng đồng thời gia tăng Thật vậy, quan sát thấy rằng việc sử dụng TBVTV đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây, chủ yếu

do sản xuất ưu đãi được đưa ra bởi chính phủ Hiện nay, Việt Nam đã sử dụng 200 loại thuốc trừ sâu khác nhau, 83 loại thuốc trừ nấm, 52 loại thuốc diệt cỏ trong đó

có chứa thành phần organophosphates, carbamates, và pyrethroid (Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn, 1995) Với việc ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp trong đó có việc sử dụng TBVTV, phần lớn nông dân sử dụng thuốc trừ sâu các loại để kiểm soát sâu bệnh Khoảng 36% thuốc trừ sâu bị hạn chế đã được sử dụng tại tỉnh An Giang, làm tăng nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe của nông dân Ngoài ra, với thị trường lớn hơn và tự do hóa hơn, thuốc trừ sâu độc hại hơn, rẻ hơn có xu hướng được sử dụng nhiều hơn Rất ít nông dân sử dụng phù hợp với các hướng dẫn ban hành bởi Cục Bảo vệ thực vật

Trang 12

Có ít nhất ba lý do cho việc sử dụng nhiều TBVTV Thứ nhất, kỳ vọng của nông dân đối với sản lượng cao trong tương lai từ việc sử dụng thuốc trừ sâu Đa số nông dân tin rằng họ sẽ mất mùa nhiều hơn, nếu họ sử dụng một số lượng thuốc trừ sâu thấp hơn so với mức hiện nay Thứ hai, một số nông dân thay thế thuốc trừ sâu cho các yêu cầu đầu vào của lao động và vốn Ngoài ra nông dân còn cần phải sử dụng nhiều thuốc diệt cỏ hơn khi gieo lúa trực tiếp, so với hình thức cấy lúa Sau này, do ngày càng chú trọng vào lao động chuyên sâu hơn, việc làm cỏ bằng tay đã gần như biến mất trong khu vực được canh tác ở Sri Lanka (Van Der Hoek và cộng

sự 1998) Chi phí cũng rẻ hơn khi sử dụng thuốc diệt cỏ so với việc phải cày đất

Thứ ba, hoạt động xúc tiến bán hàng và khuyến khích tín dụng thúc đẩy việc lạm dụng thuốc trừ sâu trong nông dân Những lý do này cho thấy rõ ràng rằng, khi mà nông dân còn nhận thức: thuốc trừ sâu là không thể thiếu để cứu cây trồng và mùa màng canh tác của họ, họ sẽ tiếp tục sử dụng chúng mặc dù phải đối mặt với những nguy cơ đối với sức khỏe của họ Trước những nhận thức chưa sâu sắc của người dân đến sức khỏe thì cần có một đề tài nghiên cứu nghiêm túc với kết quả nghiên cứu cụ thể để chứng minh tác hại của TBVTV lên sức khỏe của người sử dụng, nhằm giúp người dân thấy rõ hơn về tác hại của TBVTV đến bản thân Với những

lý do đó mà tác giả đề tài chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế và chi phí khám

chữa bệnh của những hộ nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật: Trường hợp nghiên cứu các hộ trồng rau tại thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn

thạc sĩ của mình

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn nhằm so sánh lợi ích kinh tế đem lại của thuốc bảo vệ thực vật với chi phí phải bỏ ra cho chăm sóc sức khỏe người dân khi

sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất để đưa ra kết luận nên hay không nên lạm dụng TBVTV và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và sản xuất theo hướng an toàn

Trang 13

 Đánh giá hiệu quả kinh tế từ hoạt động trồng rau có sử dụng TBVTV với chi phí khám chữa bệnh

 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và chi phí khám chữa bệnh của hộ nông dân trồng rau trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

 Đưa ra một số giải pháp nhằm sản xuất nông nghiệp an toàn cho người sản xuất và tăng lợi ích kinh tế

1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Để đạt được mụ tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn cần trả lời được các câu hỏi nghiên cứu sau:

 Hiệu quả kinh tế từ việc trồng rau so với chi phí khám chữa bệnh bỏ ra hằng năm có cao hơn không?

 Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và chi phí y tế (khám chữa bệnh) của hộ nông dân trồng rau trên địa bàn TP Hồ Chí Minh?

 Cần có những giải pháp gì để hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng rau) của

hộ nông dân an toàn không ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng lợi nhuận mang lại cao?

1.5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các lợi ích kinh tế từ hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng rau) của người nông dân và chi phí khám chữa bệnh hằng năm của họ

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn được tiến hành ở TP Hồ Chí Minh từ 01/

2015 – 05/ 2015

Trang 14

1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài vận dụng các phương pháp nghiên cứu kinh tế sau:

Phương pháp phân tích tổng hợp: Phương pháp này dùng để tổng hợp các lý thuyết có liên quan đến chủ đề nghiên cứu, đồng thời hệ thống các nghiên cứu điển hình nhằm làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu và khung phân tích

Phương pháp thống kê mô tả: Thống kê mô tả được sử dụng trong luận văn

để phân tích tổng hợp các dữ liệu khảo sát (trước khi phân tích hồi quy), nhằm làm

rõ một số tính chất của bộ dữ liệu khảo sát, giúp cho việc kết luận nghiên cứu có mức độ chính xác hơn

Phương pháp phân tích định lượng: Phân tích định lượng thông qua mô hình hồi quy bội nhằm ước lượng mức độ tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc, kết quả hồi quy là cơ sở để tác giả kiểm định các giả thuyết của các nội dung nghiên cứu

1.7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Luận văn được tiến hành trình bày trong 5 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Mở đầu Chương 2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Thảo luận và hàm ý chính sách

Trang 15

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương 1 đã tiến hành nghiên cứu lý do chọn đề tài cũng như tính cấp thiết của đề tài Hơn nữa với mục đích của chương là giới thiệu khái quát nhất về những vấn đề mà luận văn nghiên cứu nên trong chương này, luận văn đã tiến hành xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc luận văn Thông qua chương 1 tác giả đã định hướng và khái quát nội dung luận văn sẽ nghiên cứu về vấn đề gì và những vấn đề

đó sẽ được giải quyết cụ thể ở những chương tiếp theo

Trang 16

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 CÁC KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NGHIÊN CỨU 2.1.1 Hiệu quả kinh tế

2.1.1.1 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế

Trong doanh nghiệp hoặc nền sản xuất xã hội nói chung, người ta hay nhắc đến “sản xuất có hiệu quả”, “sản xuất không hiệu quả” hay “sản xuất kém hiệu quả” Vậy hiệu quả kinh tế là gì? Xuất phát từ các góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế học đã đưa ra rất nhiều quan điểm về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có thể khái quát như sau:

- Hiệu quả theo quan điểm của Mác, đó là việc “tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động sống và lao động vật hoá giữa các ngành” và đó cũng chính là quy luật “tiết kiệm và tăng năng suất lao động “ hay tăng hiệu quả Mác cũng cho rằng “nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là cơ sở hết thảy mọi xã hội" (Cac Mac, 1962)

- Vận dụng quan điểm của Mác, các nhà kinh tế học Xô Viết cho rằng “hiệu quả là sự tăng trưởng kinh tế thông qua nhịp điệu tăng tổng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân với tốc độ cao nhằm đáp ứng yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội ” (Cac Mac, 1962)

- Theo quan điểm của các nhà kinh tế học thị trường, Paul và cộng sự (2002) cho rằng, một nền kinh tế có hiệu quả, một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì các điểm lựa chọn đều nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó và “ hiệu quả

có ý nghĩa là không lãng phí ” Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí

cơ hội “hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hoá khác Mọi nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó”

Trang 17

- Khi bàn về khái niệm hiệu quả, các tác giả Đỗ Kim Chung và cộng sự (1997) thống nhất là cần phân biệt rõ ba khái niệm cơ bản về hiệu quả: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh tế

+ Hiệu quả kỹ thuật: Là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên chi phí đầu vào Hiệu quả kỹ thuật được áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô để xem xét tình hình sử dụng nguồn nhân lực cụ thể, nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm

+ Hiệu quả phân bổ các nguồn lực: Là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực

+ Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả

kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp

- Theo ý kiến của một số nhà kinh tế khác thì những quan điểm nêu trên chưa toàn diện, vì mới nhìn thấy ở những góc độ và khía cạnh trực tiếp Vì vậy, khi xem xét hiệu quả kinh tế phải đặt trong tổng thể kinh tế - xã hội, nghĩa là phải quan tâm tới các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội như nâng cao mức sống, cải thiện môi trường…

Như vậy, hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh và trình độ của mọi hình thái kinh tế - xã hội ở các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, quan niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và mục đích yêu cầu của từng đơn vị sản xuất Tuy nhiên, mọi quan niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh đều thể hiện một điểm chung nhất Đó là tiết kiệm nguồn lực

để sản xuất ra khối lượng sản phẩm tối đa Vì vậy có thể hiểu hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh một cách bao quát như sau:

Trang 18

Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn)

để đạt được mục tiêu xác định (Ngô Kim Thanh, 2013)

Từ khái niệm khái quát này, có thể hình thành công thức biểu diễn khái quát phạm trù hiệu quả kinh tế như sau:

Trong đó:

H là hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (quá trình kinh tế) nào đó;

K là kết quả thu được từ hiện tượng (quá trình) kinh tế đó

C là chi phí toàn bộ để đạt được kết quả đó

Và như thế cũng có thể khái niệm ngắn gọn: hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

2.1.1.2 Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế

Theo tác giả Đỗ Kim Chung và cộng sự (1997) thì có định nghĩa về các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế như sau:

Giá trị sản xuất là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ sản phẩm vật chất và dịch vụ do lao động của doanh nghiệp tạo ra trong một thời kỳ nhất định thường tính cho một năm, kí hiệu GO (Gross Outputs) được hình thành từ các nguồn sau:

Trong đó:

- C: là chi phí cho quá trình sản xuất, bao gồm:

Trang 19

+ C1: khấu hao tài sản cố định + C2: chi phí trung gian (C2)

- V: thu nhập người lao động gồm: tiền công, tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp

có tính chất lương, tiền nộp bảo hiểm xã hội (chỉ tính phần doanh nghiệp trả cho người lao động, không tính phần trích từ tiền công người lao động để trả)

- M: thu nhập của doanh nghiệp, gồm các khoản:

+Thuế sản xuất + Lãi trả tiền vay ngân hàng + Mua bảo hiểm nhà nước (không kể bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho cán bộ công nhân viên)

+ Thuế thu nhập doanh nghiệp + Phần còn lại lãi ròng của hoạt động sản xuất kinh doanh trong

- Được tính chênh lệch của sản phẩm dở dang và bán thành phẩm

Do các loại hình doanh nghiệp có những đặc điểm, tính chất khác nhau nên chỉ

Trang 20

tiêu giá trị sản xuất của các ngành cũng được tính theo các phương pháp khác nhau

Sau đây là nội dung và phương pháp tính giá trị sản xuất của một số ngành cơ bản trong nền kinh tế

1 Giá trị gia tăng (VA): Là giá trị tăng thêm so với chi phí sản xuất bỏ ra

Công thức: VA= GO- C2

2 Lợi nhuận (Pr): Lợi nhuận trong nông nghiệp là biểu hiện bằng tiền của

toàn bộ thu nhập còn lại, sau khi đã bù đắp những chi phí sản xuất mà sản xuất nông nghiệp phải bỏ ra, để có được thu nhập đó trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) Nó được tính bằng công thức sau:

Pr = GO - C

Trong đó:

GO là giá trị sản xuất

C là tổng chi phí

3 Chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh tế:

- Hiệu quả kinh tế tuyệt đối (H0): Là so sánh tuyệt đối giữa giá trị gia tăng (VA), hoặc Lợi nhuận (Pr) của mô hình này so với mô hình khác, phương án sản xuất này so với phương án sản xuất khác ; công thức tính: H0 = VA1-VA2 hoặc Pr1- Pr2

- Hiệu quả kinh tế tương đối (H1): Là so sánh tương đối giữa giá trị gia tăng (VA), hoặc Lợi nhuận (Pr) của mô hình này so với mô hình khác, phương án sản xuất này so với phương án sản xuất khác ; công thức tính: H1 = VA1/VA2 hoặc Pr1/Pr2

- Hiệu quả kinh tế tăng thêm (ΔH) = ΔGO/ΔC2 hoặc ΔGO/ΔTC; ΔGO =

Trang 21

Trong đó: GO2 là giá trị sản xuất ở mức đầu tư C’’2 hoặc C2, GO1 là giá trị sản xuất ở mức đầu tư C’2 hoặc C1

Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế khác:

Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí =LN/CP*100 (%)

Tỷ suất này cho biết cứ một đồng chi phí bỏ ra thi thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận

Tỷ số thu nhập trên chi phí = TN/CP

Tỷ số này cho biết cứ một đồng chi phí bỏ ra thì thu nhập được bao nhiêu

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = (LN/DT)*100 %

Tỷ suất này cho biết cứ một đồng doanh thu thu vào thì có bao nhiêu lợi nhuận

Tỷ số thu nhập trên doanh thu = TN/DT

Tỷ số này cho biết cứ một đồng doanh thu thu vào có bao nhiêu đồng thu nhập Một trong những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản kinh tế là thu nhập Thu nhập được hiểu là khoản tiền thu được từ hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ tính toán bao gồm lợi nhuận từ việc sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các khoản thu từ các hoạt động khác như đầu tư tài chính hay thanh lý tài sản…Thu nhập có nhiều dạng như: thu nhập hiệu quả (Effective Income) Thu nhập thuần hay còn gọi là thu nhập hoạt động (Operating Income), thu nhập ròng (Net Income)…Thu nhập thuần được hiểu là dòng thu nhập trước thuế và thu nhập ròng là dòng thu nhập sau thuế Vì bản chất của thu nhập là khoản tiền thu được sau khi trừ các khoản chi phí tạo ra thu nhập đó do vậy, muốn tăng thu nhập có nghĩa rằng cần giảm chi phí sản xuất, dịch

vụ trong kỳ

Trang 22

Trong nghiên cứu này, việc đánh giá hiệu quả kinh tế của người trồng rau tác giả sử dụng hàm thu nhập với các biến có liên quan đến chi phí như: chi phí phân bón, chi phí thuốc trừ sâu, chi phí lao động…

2.1.2 Chi phí y tế

2.1.2.1 Chi phí y tế

Chi phí để tạo ra một sản phẩm, dịch vụ là cơ hội thay thế tốt nhất bị mất đi

do sử dụng các nguồn lực để tạo ra các sản phẩm dịch vụ đầu ra Trong lĩnh vực y tế chi phí là giá trị của nguồn lực được sử dụng để tạo ra một dịch vụ y tế

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chi phí, đối với người cung cấp dịch vụ

là tất cả các khoản người sử dụng cần phải chi trả trên cơ sở đã tính đúng, tính đủ của việc chuyển giao dịch vụ Đối với người bệnh, chi phí là tổng số tiền mà họ phải có để trả trực tiếp cho các dịch vụ cộng với các khoảng chi phí khác phải bỏ ra trong thời gian dưỡng bệnh và mất mát do nghỉ ốm gây nên

2.1.2.2 Viện phí

Viện phí là khái niệm riêng của Việt Nam và một số nước trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế Viện phí là hình thưc chi trả trực tiếp cho quá trình khám chữa bệnh tại thời điểm người bệnh sử dụng dịch vụ y tế hay nói cách khác là các khoản người bệnh phải trả từ tiền túi khi sử dụng dịch vụ y tế

Chi phí mà các cơ sở khám chữa bệnh thu của người sử dụng dịch vụ y tế hay thanh toán với BHYT hiện nay ở Việt Nam chỉ là một phần viện phí theo quy định của Nghị Định 95/CP ngày 27/8/1994 của Chính Phủ Một phần viện phí là một phần trong tổng chi phí cho việc khám chữa bệnh Một phần viện phí chỉ tính tiền thuốc, dịch truyền, máu, hóa chất, xét nghiệm, chụp X quang, vật tư tiêu hao thiết yếu và dịch vụ khám chữa bệnh Không tính khấu hao tài sản cố định, chi phí sửa chữa thường xuyên, chi phí hành chính, đào tạo, nghiên cứu khoa học, đầu tư

Trang 23

xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị lớn Đối với người bệnh ngoại trú, biểu giá thu một phần viện phí được tính theo lần khám bệnh và các dịch vụ kỹ thuật mà người bệnh trực tiếp sử dụng Đối với người bệnh nội trú, biểu giá thu một lần viện phí được tính theo ngày giường điều trị nội trú của từng chuyên khoa theo phân hạng bệnh viện và các khoản chi phí thực tế sử dụng trực tiếp cho người bệnh bao gồm: tiền thuốc, máu, dịch truyền, xét nghiệm, chụp x quang và thuốc cảng quang (quy định tại Thông tư liên bộ số 14/TTLB – số thứ tự 24 bảng 2.1, phụ lục 2)

Nguyên nhận tăng thêm chí phí điều trị trong sản xuất nông nghiệp do các yếu tố khách quan như: tuổi tác, tình trạng sức khỏe, tình trạng thiên tai, dịch bệnh, thay đổi thời tiết, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế…và các yếu tố chủ quan như: tình trạng hút thuốc, tình trạng uống rượu, kiến thức phòng trị bệnh, thu nhập, số lần tiếp xúc TBVTV…

2.1.3 Thuốc bảo về thực vật

2.1.3.1 Khái niệm thuốc bảo về thực vật

Có rất nhiều khái niệm về TBVTV, sau đây luận văn giới thiệu một số định nghĩa cơ bản của TBVTV như:

TBVTV là những chế phẩm có nguồn gốc hóa chất, thực vật, động vật, vi sinh vật và các chế phẩm khác dùng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật Gồm các chế phẩm dùng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật, các chế phẩm điều hòa sinh trưởng thực vật, chất là rụng hay khô lá; các chế phẩm có tác dụng xua đuổi hay thu hút các loại sinh vật gây hại tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt (Nguồn: Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật nước CHXHCN Việt Nam và điều lệ quản lý TBVTV)

TBVTV hay nông dược là những chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hóa chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại đến tài nguyên thực vật Những sinh vật gây hại chính gồm

Trang 24

sâu hại, bệnh hại, cỏ dại, chuột và các tác nhân khác TBVTV là những hợp chất hoá học (vô cơ, hữu cơ), những chế phẩm sinh học (chất kháng sinh, vi khuẩn, nấm, siêu vi trùng, tuyến trùng, …), những chất có nguồn gốc thực vật, động vật, được sử dụng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hại của những sinh vật gây hại (côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, thú rừng, nấm, vi khuẩn, rong rêu, cỏ dại, …)

Theo qui định tại điều 1, chương 1, điều lệ quản lý TBVTV (ban hành kèm theo Nghị định số 58/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ), ngoài tác dụng phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật, TBVTV còn bao gồm cả những chế phẩm có tác dụng điều hoà sinh trưởng thực vật, các chất làm rụng lá, làm khô cây, giúp cho việc thu hoạch mùa màng bằng cơ giới được thuận tiện (thu hoạch bông vải, khoai tây bằng máy móc, …) Những chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loài sinh vật gây hại tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt

Ở nhiều nước trên thế giới TBVTV có tên gọi là thuốc trừ dịch hại Sở dĩ gọi

là thuốc trừ dịch hại là vì những sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản (côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, nấm, vi khuẩn, cỏ dại, …) có một tên chung

là những dịch hại, do vậy những chất dùng để diệt trừ chúng được gọi là thuốc trừ dịch hại

2.1.3.2 Các nhóm thuốc bảo vệ thực vật

Việc phân loại thuốc BVTV có thể thực hiện theo nhiều cách như phân loại theo đối tượng phòng trừ (thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh,…) hoặc phân loại theo gốc hóa học (nhóm clo hữu cơ, nhóm lân hữu cơ,…) Các thuốc trừ sâu có nguồn gốc khác nhau thì tính độc và khả năng gây độc khác nhau

2.1.3.3 Phân loại thuốc bảo vệ thực vật

Phân loại dựa trên đối tượng sinh vật hại

Trang 25

Phân loại theo gốc hóa học

Theo Nguyễn Trần Oánh và cộng sự (2007), TBVTV có gốc hóa học phân ra làm 8 nhóm sau:

- Nhóm thuốc thảo mộc: có độ độc cấp tính cao nhưng mau phân hủy trong môi trường

- Nhóm clo hữu cơ: DDT, 666,… nhóm này có độ độc cấp tính tương đối thấp nhưng tồn lưu lâu trong cơ thể người, động vật và môi trường, gây độc mãn tính nên nhiều sản phẩm bị cấm hoặc hạn chế sử dụng

- Nhóm lân hữu cơ: Wofatox Bi-58, độ độc cấp tính của các loại thuốc thuộc nhóm này tương đối cao nhưng mau phân hủy trong cơ thể người và môi trường hơn so với nhóm clo hữu cơ

- Nhóm carbamate: Mipcin, Bassa, Sevin,…đây là thuốc được dùng rộng rãi bởi vì thuốc tương đối rẻ tiền, hiệu lực cao, độ độc cấp tính tương đối cao, khả năng phân hủy tương tư nhóm lân hữu cơ

Trang 26

- Nhóm Pyrethoide (Cúc tổng hợp): Decis, Sherpa, Sumicidine, nhóm này dễ bay hơi và tương đối mau phân hủy trong môi trường và cơ thể người

- Các hợp chất pheromone: Là những hóa chất đặc biệt do sinh vật tiết ra để kích thích hành vi của những sinh vật khác cùng loài Các chất điều hòa sinh trưởng côn trùng (Nomolt, Applaud,…): là những chất được dùng để biến đổi sự phát triển của côn trùng Chúng ngăn cản côn trùng biến thái từ tuổi nhỏ sang tuổi lới hoặc ép buộc chúng phải trưởng thành từ rất sớm: Rất ít độc với người và môi trường

- Nhóm thuốc trừ sâu vi sinh (Dipel, Thuricide, Xentari, NPV, ): Rất ít độc với người và các sinh vật không phải là dịch hại

- Ngoài ra còn có nhiều chất có nguồn gốc hóa học khác, một số sản phẩm từ dầu mỏ được dùng làm thuốc trừ sâu

2.1.3.4 Vai trò của thuốc bảo vệ thực vật trong hoạt động sản xuất nông nghiệp

Theo Nguyễn Trần Oánh và cộng sự (2007), TBVTV có vai trò trong hoạt động sản xuất nông nghiệp như sau:

- TBVTV có thể diệt dịch hại nhanh, triệt để, đồng loạt trên diện tích rộng và chặn đứng những trận dịch trong thời gian ngắn mà biện phap khác không thể thực hiên

- Đem lại hiệu quả phóng trừ rõ rệt, kinh tế, bảo vệ năng suất cây trồng, cải thiện chất lượng nông sản và mang lại hiêu quả kinh tế, đồng thời giảm được diện tích canh tác

- Đây là biện pháp dễ dùng, có thể áp dụng ở nhiều vùng khác nhau, đem lại hiệu quả ổn định và nhiều khi biện pháp phòng trừ là duy nhất

Trang 27

- TBVTV xâm nhập, dịch chuyển và tồn tại trên các bộ phận của cây, tác động đến quá trình sinh trưởng và phát triễn của cây Những tác động tốt của thuốc đến cây như:

+ Rút ngắn thời gian sinh trưởng, làm cây sớm ra hoa, làm quả chín sớm

+ Tăng chất lượng nông sản

+ Làm tăng năng suất và chỉ tiêu cấu thành năng suất

+ Làm tăng sức chống chịu của cây với những điều kiện bất lợi như: chông rét, chống hạn, chống lốp đổ, tăng khả năng hút chất dinh dưỡng và tăng khẳ năng chống chịu sâu bệnh

Tùy theo liều lượng mà ta sử dùng mà mang lại những tác động tich cực hay tiêu cực mang lại trong ngành nông nghiệp cũng như ảnh hưởng đến đời sống thực vật, vi sinh vật trong đất, hay môi trường đất, nước, không khí….và môi trường sống của chúng ta

2.1.3.5 Tác động của thuốc bảo vệ thực vật đối với con người

Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sức khỏe con người bao gồm:

- Nhiễm độc cấp thường gặp là: các vụ tự tử, các vụ nhiễm độc hàng loạt do thức ăn bị nhiễm thuốc BVTV, các vụ tai nạn hóa chất trong công nghiệp và sự tiếp xúc nghề nghiệp trong nông nghiệp là nguyên nhân của phần lớn các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng có liên quan tới thuốc BVTV (Khan và cộng sự, 2010)

- Các ảnh hưởng mạn tính do sự tiếp xúc với thuốc BVTV với liều lượng nhỏ trong thời gian dài có liên quan tới nhiều sự rối loạn và các bệnh khác nhau Các nghiên cứu khoa học đã tìm thấy những bằng chứng về mối liên quan giữa thuốc BVTV với bệnh ung thư não, ung thư vú, ung thư gan, dạ dày, bàng quang, thận

Các hậu quả sinh sản: đẻ non, vô sinh, thai dị dạng, quái thai, ảnh hưởng chất lượng

Trang 28

tinh dịch, rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn hành vi, tổn thương chức năng miễn dịch và dị ứng, tăng cảm giác da (Nguyễn Thị Dư Loan, 2005) Đặc biệt là những liên quan của thuốc BVTV với ung thư, bạch cầu cấp ở trẻ em, liên quan đến một số bệnh như Alheimer, bệnh Parkison, các bệnh ở hệ thống miễn dịch

Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có những con số chính xác về ngộ độc TBVTV trên phạm vi toàn cầu (WHO, 1990) Theo Tổ chức Y tế Liên Mỹ ước tính khoảng 3 % người lao động nông nghiệp tiếp xúc với TBVTV bị ngộ độc cấp tính, với khoảng 1,3 tỷ người lao động nông nghiệp trên toàn thế giới có nghĩa là khoảng

39 triệu người có thể bị ngộ độc cấp tính hàng năm

Một phương pháp khác để tính số trường hợp nhiễm độc do TBVTV là dựa vào số dân có nguy cơ Theo Jeyaratnam và cộng sự (1982) ở một số nước mỗi năm

có khoảng 7% số người làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp có sử dụng TBVTV đã từng có triệu chứng nhiễm độc (bao gồm cả các trường hợp nhiễm độc nhẹ) Một số đánh giá khác do Trung Quốc đưa ra lại cho rằng mỗi năm có 1 % số người sử dụng TBVTV bị nhiễm độc (Chen và cộng sự, 2005) tuy nhiên tất cả các đánh giá trên vẫn chưa được thống nhất

2.1.4 Thực trạng tác hại thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam

Thực trạng nhiễm độc hoá chất bảo vệ thực vật ở Việt Nam: hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) được sử dụng ở Việt Nam từ năm 1957 Trong thời gian 20 năm đầu người ta không chú ý nhiều về tác hại của các HCBVTV đối với môi trường và con người Đến những năm 80 mới có những công trình nghiên cứu về ô nhiễm môi trường và tác dụng độc hại của HCBVTV đối với sức khỏe con người

Những ảnh hưởng trên lâm sàng, cận lâm sàng của HCBVTV đối với người Việt Nam bước đầu được làm sáng tỏ và là tiếng chuông báo động về nguy cơ sức khỏe môi trường do HCBVTV gây nên ở nước ta

Trang 29

Theo Hà Minh Trung và cộng sự (2000) trong nhóm nghiên cứu đề tài cấp nhà nước 11-08, cả nước hiện có 11,5 triệu hộ nông nghiệp, số người tiếp xúc nghề nghiệp với HCBVTV ít nhất cũng tới 11,5 triệu người Với tỷ lệ nhiễm độc HCBVTV mạn tính là 18,26% thì số người bị nhiễm độc mạn tính trong cả nước có thể lên tới 2,1 triệu người

Theo Bộ Y tế (1998) từ năm 1980-1985 chỉ riêng 16 tỉnh phía Bắc đã có 2.211người bị nhiễm độc nặng do HCBVTV, 811 người chết Năm 1997 tại 10 tỉnh, thành phố cả nước với lượng HCBVTV sử dụng mới chỉ là 4.200 tấn nhưng đã có 6.103 người bị nhiễm độc, 240 người chết do nhiễm độc cấp và mạn tính Nghiên cứu của Vụ Y tế dự phòng chương trình VTN/OCH/010 - 96.97), tại 4 tỉnh Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa, Tiền Giang, Cần Thơ trong 4 năm (1994-1997) đã có 4.899 người bị nhiễm độc HCBVTV, 286 người chết (5,8 %) Các biểu hiện nhiễm độc sau ngày làm việc khá phổ biến: đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi, lợm giọng, buồn nôn, chán ăn… Nhiều tác giả đã nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của HCBVTV đến sức khoẻ con người Nghiên cứu trên 571 công nhân của 2 nông trường chè có sử dụng HCBVTV thấy 77,2% đau đầu kém ngủ, 75,5% đau tức ngực và khó thở, 65,5% đau lưng và xương khớp, 46,5% mệt mỏi run chân tay, 44,8% ho và khạc đờm, 29,3% đau bụng không rõ nguyên nhân, 24,1% chán ăn Khám lâm sàng thấy 25% có hội chứng suy nhược thần kinh, 26,5% có hội chứng rối loạn tiêu hóa, 16,3% bị bệnh xương khớp, 12,4% bị bệnh đường hô hấp, 10% bị bệnh ngoài da

Những rối loạn sớm nổi bật là hoạt tính enzym cholinesetrase giảm xuống chỉ còn

75 % so với nhóm chứng, 19,6 % thiếu náu, 37,2 % có bạch cầu trung tính thấp

Nguyễn Đình Chất (1994) nghiên cứu 62 bệnh nhân được chẩn đoán là ngộ độc cấp lân hữu cơ thấy tổng số nhiễm khuẩn là 29/62 (46,78 %) trong đó nhiễm khuẩn phổi - phế quản là 23/29 (79,32 %) Ngộ độc càng nặng thì càng dễ bị nhiễm khuẩn, ngộ độc độ I: nhiễm khuẩn 0 %, độ II: 39,29%, độ III: 62,5 %, độ IV: 80%

Nguyễn Duy Thiết (1997) điều tra 100 hộ gia đình tại 5 đội xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì - Hà Nội thấy 73% có biểu hiện triệu chứng như nôn nao, khó

Trang 30

chịu, choáng váng, nhức đầu, mệt mỏi, buồn nôn, khó ngủ, ngứa và nóng rát các vùng da hở

Tạ Thị Bình và cộng sự (2003) nghiên cứu trên 30 công nhân tiếp xúc thường xuyên với HCBVTV thấy hoạt tính enzym cholinesterase giảm đi so với nhóm chứng, 10 % số tiếp xúc có sự giảm enzym cholinesterase hồng cầu, 36,6%

giảm enzym cholinesterase huyết tương

Trần Như Nguyên và Đào Ngọc Phong (1995) nghiên cứu trên 500 hộ gia đình ngoại thành Hà Nội thấy dấu hiệu phổ biến nhất sau khi sử dụng HCBVTV là chóng mặt, nhức đầu, buồn nôn thấy ở 70% đối tượng ngoài ra còn các triệu chứng

ăn kém, hoa mắt, đau bụng (rối loạn giấc ngủ)

Lê Thị Thu và cộng sự (1998) nghiên cứu trên 36 người dân thường xuyên tiếp xúc với HCBVTV ở 2 xã thuộc huyện Thường Tín, nhóm chứng gồm 32 sinh viên Học viện Quân y Kết quả nghiên cứu cho thấy: ở những người làm nông nghiệp, tiếp xúc dài ngày với HCBVTV thì hoạt độ enzym cholinesterase (5931 U/l) giảm so với nhóm chứng (8359U/l)

Cao Thuý Tạo (2003) tiến hành một nghiên cứu ngang, mô tả nguy cơ nhiễm độc HCBVTV trên người sử dụng tại một số vùng chuyên canh khác nhau Kết quả cho thấy người sử dụng HCBVTV thường có biểu hiện mệt mỏi chóng mặt, tăng tiết nước bọt, mất ngủ Nồng độ HCBVTV/cm2 da sau khi phun gấp 2 lần trước khi phun, 32,4% đối tượng nghiên cứu có biểu hiện cường phó giao cảm

Có thể nói nhiễm độc HCBVTV là một thực tế diễn ra thường xuyên liên tục

ở tất cả các địa phương trong nước và trở thành một vấn đề lớn trong chính sách bảo

vệ sức khỏe người lao động nông nghiệp ở nước ta hiện nay

Trang 31

2.2 CÁC LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NGHIÊN CỨU

Tổng hợp các lý thuyết có liên quan đến nghiên cứu, bao gồm các lý thuyết sau:

Lý thuyết về hiệu quả Pareto - Hiệu quả Pareto hay còn gọi là tối ưu Pareto

là một trong những lý thuyết trung tâm của kinh tế học với nhiều ứng dụng rộng rãi trong lý thuyết trò chơi, các ngành kỹ thuật, cũng như khoa học xã hội Với một nhóm các cá nhân và nhiều cách phân bổ nguồn lực khác nhau cho mỗi cá nhân trong nhóm đó, việc chuyển từ một phân bổ này sang một phân bổ khác mà làm ít nhất một cá nhân có điều kiện tốt hơn nhưng không làm cho bất cứ một cá nhân nào khác có điều kiện xấu đi được gọi là một sự cải thiện Pareto hay một sự tối ưu hóa Pareto Khi đạt được một phân bổ mà không còn cách nào khác để đạt thêm sự cải thiện Pareto, cách phân bổ đó được gọi là hiệu quả Pareto hoặc tối ưu Pareto Vận dụng tư duy này trong nghiên cứu chúng ta thấy rằng việc tăng thu nhập của người trồng rau có thể có từ việc sử dụng TBVTV tuy nhiên việc gia tăng TBVTV đồng nghĩa với việc gia tăng chi phí sản xuất và có thể gia tăng chí phí chữa bệnh, trong khi vốn sản xuất và tích lũy của hộ gia đình là nguồn lực có hạn, do vậy việc cân bằng trong việc sử dụng TBVTV nhằm đạt tối ưu về thu nhập, đồng thời không làm

“xấu đi” tình trạng sức khỏe hay năng suất sản xuất đó chính là nội dung hiệu quả tối ưu của Pareto

Lý thuyết chi trả hợp lý – WTP (Willingness to Pay) Theo Breidert (2005), khi mua sắm một sản phẩm, khách hàng sẵn lòng chi trả bao nhiêu phụ thuộc vào giá trị kinh tế nhận được và mức độ hữu dụng của sản phẩm Hai giá trị xác định mức giá một người sẵn lòng chấp nhận là mức giá hạn chế và mức giá tối đa Tùy thuộc nhận định của khách hàng khi mua sản phẩm là sản phẩm dự định mua không

có sản phẩm thay thế thì để có được độ hữu dụng của sản phẩm, khách hàng sẵn sàng chi trả khoản tiền cao nhất là mức giá hạn chế; hoặc sản phẩm thay thế của sản phẩm dự định mua có giá trị kinh tế thấp hơn mức hữu dụng thì mức giá cao nhất khách hàng chấp nhận chi trả bằng với giá trị kinh tế của sản phẩm thay thế là mức

Trang 32

giá tối đa Mức sẵn lòng chi trả được định nghĩa là mức giá cao nhất một cá nhân sẵn sàng chấp nhận chi trả cho một hàng hóa hoặc dịch vụ Turner và cộng sự (1994) cho rằng mức sẵn lòng chi trả đo cường độ ưa thích của một cá nhân hay xã hội đối với một thứ hàng hóa đó Đo lường mức độ thỏa mãn khi sử dụng một hàng hóa nào đó trên thị trường được bộc lộ bằng mức giá sẵn lòng chi trả của họ đối với mặt hàng đó Từ các quan điểm trên chúng ta nhận thấy rằng: sự chi trả của người nông dân trồng rau cho TBVTV phụ thuộc vào mức độ hữu dụng của nó nhiều hay

ít cho việc trồng rau và giá của các sản phẩm thay thế nó trên thị trường

Phương pháp chi phí y tế (Cost of Illness): được sử dụng trong trường hợp phát sinh chi phí do sức khỏe con người bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường Chi phí về dịch vụ y tế chẳng hạn như chi phí khám chữa bệnh, thuốc men, chi phí do năng suất lao động giảm … được tính là chi phí do ô nhiễm môi trường tác động đến sức khỏe con người Khi tiếp xúc với TBVTV người nông dân có nguy cơ nhiễm độc qua da, đường hô hấp…điều này dẫn đến nguy cơ bệnh tật rất cao Do vậy việc tiếp xúc thường xuyên với TBVTV và không tuân thủ theo quy trình sử dụng là nguyên nhân làm tăng chi phí y tế đối với các hộ trồng rau

2.3 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

Antle và Pingali (1994 ) đã đánh giá tác động của việc sử dụng thuốc trừ sâu tại trang trại đối với sức khỏe của người nông dân, và ảnh hưởng của sức khỏe kém đến năng suất nông nghiệp Trong nghiên cứu này, họ phát hiện ra rằng thuốc trừ sâu liên quan đến khiếm khuyết về sức khỏe là nguyên nhân làm giảm đáng kể năng suất lao động Antle và Capalbo (1994) đã giới thiệu một khung phân tích các khái niệm để giải thích sự tương quan sức khỏe – năng suất trong mối quan hệ vớiviệc sử dụng thuốc trừ sâu ở các nước đang phát triển Phân tích thực nghiệm của họ cho thấy thuốc trừ sâu đã được sử dụng hiệu quả ở mức độ khác nhau Tuy nhiên, người

ta thấy rằng có một nguy cơ rõ ràng đến sức khỏe của con người trong việc sử dụng chúng

Trang 33

Dung và Dung ( 1999) nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động của thuốc trừ sâu lên sức khỏe của người nông dân trồng lúa tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long Với mục tiêu nghiên cứu này các mô hình nghiên cứu được đưa ra như sau:

Mô hình 1: Năng suất lúa

LnY = LnA + β1 Soil + β2 Mefarm + β3 Lafarm + β4EDU2 + β5EDU3 + β6LnNPK + β7LnTodose + β8LnHirLab + β9LnFarlab

Trong đó:

LnY = logarit tự nhiên của Năng suất (tấn / ha) LnNPK = logarit tự nhiên của tổng nitơ, phốt pho,và phân bón kali (kg / ha)

LnTodose = logarit tự nhiên tổng liều tất cả thuốc trừ sâu đã sử dụng (Gram

/ ha) LnHirlab = logarit tự nhiên của lao động thuê (ngày công/ ha) LnFarlab = logarit tự nhiên của lao động gia đình (ngày công/ha) Mefarm (Biến giả Dummy) = 1 nếu trang trại có diện tích trung bình (5-10 ha), = 0 nếu có diện tích khác

Lafarm (Biến giả Dummy) = 1 Nếu trang trại có diện tích lớn (>10 ha); = 0

có diện tích khác

Soil (Biến giả Dummy) = 1 nếu đất là loại 1; = 0 nếu đất là loại khác

Trang 34

EDU2 (Biến giả Dummy) = 1 Nếu nông dân có trình độ cấp 2; = 0 nếu nông dân có trình độ khác

EDU3 (Biến giả Dummy) = 1 nếu nông dân có trình độ trung học và trên trung học; = 0 nếu nông dân có trình độ khác

Mô hình 2: Năng suất cận biên

Để xác định số lượng tối ưu của thuốc trừ sâu được sử dụng đó là mối quan hệ tỷ lệ giữa giá thuốc trừ sâu trên giá lúa bán ra Nó được xây dựng bằng công thức sau:

MPP = dY/dTodose = Pp/Py

Trong đó:

MPP = giá trị năng suất cận biên của thuốc trừ sâu

Pp = đơn giá thuốc trừ sâu (đồng/gram)

Py = đơn giá của lúa (đồng/kg)

Mô hình 3 Rủi ro sức khỏe

1 (Pesticde) 2 (Ch

1

i i

Pesticde: Biến tiếp xúc với thuốc trừ sâu

Trang 35

Mô hình 4: Mô hình chi phí y tế

LnHC = f (LnAGE, HEALTH, SMOKE, DRINK, LTODOSE, LINDOSE, LHEDOSE, NA1, NA2, NA3, TOCA1, TOCA2, IPM, CLINIC)

DRINK = Dummy cho uống rượu (0 cho người không uống & 1 cho những người uống)

IPM = Dummy đối với người áp dụng IPM (0 là người nông dân không áp dụng IPM & 1 cho nông dân có áp dụng IPM

LTODOSE = Log tổng liều lượng của tất cả các loại thuốc BVTV được sử dụng (gram / ha)

LINSECT = Log của liều thuốc trừ sâu được sử dụng (gram / ha) LHERB = Log của liều thuốc diệt cỏ được sử dụng (gram / ha) LFUNG = Log của liều thuốc diệt nấm được sử dụng (gram / ha) TOCAl = Tổng liều loại I & II (gram ai / ha)

TOCA2 = Tổng liều loại III và IV (gram ai / ha) NA1 = Log của số lần ứng dụng của thuốc trừ sâu / mùa

Trang 36

NA2 = Số lần liên hệ với TOCA1 / mùa NA3 = Số lần liên hệ với TOCA3 / mùa CLINIC = Dummy đối với những người đã có mắc bệnh nhập viên (0 đối với những người không nhập viện)

Nghiên cứu tiến hành đánh giá năng suất lúa và các yếu tố tác động đến hiệu quả được tính toán dựa trên trên một cuộc khảo sát các hộ nông dân Mô hình hồi quy Logit được sử dụng để xác định các vấn đề kinh tế có liên quan đến một tập hợp các đặc điểm nông dân với các chỉ số tiếp xúc với thuốc trừ sâu, để xác định loại khiếm khuyết sức khỏe mà có thể là do sử dụng thuốc trừ sâu kéo dài Sau đó,

"tác động tiêu cực của thuốc trừ sâu lên sức khỏe người nông dân được ước tính bằng chức năng đáp ứng liều Các kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng lượng thuốc trừ sâu áp dụng là rất cao so với các mức tối ưu cho lợi nhuận tối đa Thuốc trừ sâu ảnh hưởng tiêu cực và đáng kể sức khỏe của nông dân thông qua số lần tiếp xúc, chứ không phải là tổng số liều Trong khi đó, số lượng càng cao của các liều lượng và số lần sử dụng thuốc diệt cỏ và thuốc diệt nấm, làm cho các chi phí y tế do tiếp xúc càng lớn Vì lợi ích kinh tế từ tiết kiệm đầu vào và giảm chi phí y tế nặng hơn tổn thất năng suất, nên thuế suất là 33,4% giá thuốc trừ sâu đã được đề xuất

Ajayi (2000) nghiên cứu đánh giá việc sử dụng thuốc trừ sâu đến năng suất

và sức khỏe người nông dân trồng lúa và bông tại Côte d'Ivoire, Tây Phi Để thực hiện mục tiêu này công trình nghiên cứu tiến hành xây dựng hai mô hình nghiên cứu:

Mô hình 1: Mô hình năng suất lúa – bông

Mô hình này được nghiên cứu xây dựng như sau:

Y = f (X1, X2, X3, X4, Xn)

Trang 37

Y là sản lượng và X1, X2, X3, X4, Xn là các yếu tố đầu vào của trang trại

Sử dụng chức năng định dạng Cobb-Douglas, đó là hình thức phổ biến nhất trong nghiên cứu sản xuất

Y = aX1a1 X2a2 X3 a3 X4a4 Xnan

Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố đầu vào đều có mối quan hệ dương với sản lượng Tuy nhiên trong nhóm các yếu tố đầu vào đó thì tổng số lượng phun thuốc trừ sâu và vị trí trí địa lý của hộ gia đình có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với sản lượng lúa/bông

Mô hình 2: Rủi ro y tế

Mô hình logit biến nhị phân như sau:

1 PRACTICE)

i i

p LnHTH

Trang 38

DURATN = Tổng thời gian (số giờ) mà thiết trong hộ gia đình được tiếp xúc với thuốc trừ sâu phun trong nông nghiệp mùa

Perception = Là tỷ lệ phần trăm của số lần phun thuốc bị thẩm thấu Practice = Số lần thực hiện bảo hộ lao động khi phun thuốc trừ sâu so với tổng số lần phun thuốc

Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian của các hộ gia đình sử dụng thuốc trừ sâu (tức là vị trí địa lý) có tác động tiêu cực đến sức khỏe con người Thời gian phun cũng có mối quan hệ tích cực đến rủi ro sức khỏe, hay nói cách khác thời gian phun càng lâu thì rủi ro sức khỏe càng cao Số lần tiếp xúc với thuốc trừ sâu và tổng liều lượng thuốc trừ sâu cũng có mối quan hệ tỷ lệ thuận với rủi ro sức khỏe Số lần thực hành (thực hiện việc bảo hộ lao động) có quan hệ tỷ lệ nghịch với rủi ro sức khỏe của người nông dân

Atreya (2005 ) ước tính các chi phí y tế phát sinh từ thuốc trừ sâu liên quan đến triệu chứng cấp tính của sức khỏe những người nông dân trồng rau ở Nepal

Nghiên cứu này cho thấy trung bình một người nông dân dành khoảng 1,58 USD hàng năm cho thiết bị an toàn Tổng các khoản chi tiêu cho sức khỏe do tiếp xúc với thuốc trừ sâu của mỗi hộ gia đình hàng năm dao động từ 0,00 USD đến 59,34 USD, trung bình là 16,81 USD Mức sẵn sàng trả trung bình của hộ gia đình (WTP) cho việc sử dụng thuốc trừ sâu an toàn hơn dao động từ mức thấp 20USD cho đến mức cao như 665 USD mỗi năm.Wilson (2005) sử dụng dữ liệu khảo sát thực địa từ Sri Lanka để ước tính chi tiêu của nông dân cho các hành vi phòng thủ (DE) và để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến DE Kết quả nghiên cứu của ông cho thấy rằng chi tiêu cho DE của nông dân tỷ lệ nghịch với tỷ lệ mắc bệnh cao của người nông dân

sử dụng thuốc trừ sâu

Abedullah và cộng sự (2007) sử dụng một phương pháp tiếp cận cận biên để xác định các chiến lược đầu tư trong tương lai nhằm tăng năng suất lúa cho vùng

Trang 39

Punjab, Pakistan Các dữ liệu được thu thập từ 200 nông dân trong năm 2005 từ hai huyện Tehsils và Sheikhupura đó là vùng trồng lúa lớn của tỉnh Punjab Nghiên cứu

đã sử dụng hàm sản xuất Cobb Douglas để xây dựng hàm sản xuất và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất như sau:

3

0

1 ij 6

1 ln

Xi5 = Chi phí thuốc trừ sâu (Rupi / trang trại) Xi6 = chi phí phân NPK / trang trại

Di1 = Dummy màng phủ =1 nếu có; = 0 nếu không có màng phủ Di2 = Dummy vị trí đất, =1 nếu vị trí đất tốt; =0 nếu vị trí đất không tốt Di3 = Dummy cho xử lý hạt giống, =1 nếu có xử lý, = 0 nếu không có xử lý

βj là một vector của k tham số chưa biết, εi là sai số

Kết quả của hàm sản xuất ngẫu nhiên cho thấy hệ số ảnh hưởng của thuốc trừ sâu là không đáng kể đến hiệu quả sản xuất lúa, trong khi đó phân bón là mặt hàng

có tác động tiêu cực đến hiệu quả sản xuất lúa gạo, nguyên nhân là do sự kết hợp không đúng cách của N, P, K và các chất dinh dưỡng Bên cạnh đó, kết quả của mô hình cho thấy rằng đầu tư vào máy kéo có thể góp phần đáng kể vào việc cải thiện hiệu quả kỹ thuật trong sản xuất, ngụ ý rằng vai trò của các bên cung cấp tín dụng nông nghiệp (như ngân hàng) cần phải được xem xét lại Vì vậy, chiến lược lâu dài

Trang 40

là đầu tư vào hoạt động nghiên cứu nên được tăng lên để thay đổi công nghệ sản xuất nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất lúa cho nông dân

Ajayi và cộng sự, (2011) nghiên cứu đánh giá tác động của các loại thuốc trừ sâu đến sức khỏe của người nông dân ở các vùng bông Côted'Ivoire từ đó đưa ra các giải pháp phòng ngừa cho những người nông dân trồng bông vùng này Tuy nhiên trên thực tế, khoảng cách thông tin về sức khỏe con người các vấn đề liên quan đến thuốc trừ sâu đang là trở ngại lớn để đưa ra quyết định chính sách, đặc biệt là ở các nước đang phát triển nơi mà hầu hết các vụ ngộ độc TBVTV do tiếp xúc thường xuyên xảy ra Vì vậy, nghiên cứu này đã tiến hành xác định các triệu chứng sức khỏe liên quan với việc sử dụng thuốc trừ sâu đối với những nông dân trồng bông vùng Côte d'Ivoire, và ghi nhận phản ứng của các hộ gia đình nông thôn đến các triệu chứng Bài nghiên cứu chỉ sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá các chỉ tiêu liên quan đến sức khỏe cũng như những triệu chứng bệnh tật của những người nông dân trực tiếp tiếp xúc với TBVTV cũng như những chi phí y tế mà hộ nông dân phải bỏ ra Kết quả cho thấy nông dân trồng bông ở Cote d'Ivoire mắc các bệnh liên quan đến việc tiếp xúc với TBVTV ở mức độ khác nhau ảnh hưởng đến nguy cơ sức khỏe từ việc tiếp xúc với thuốc trừ sâu trong nông nghiệp Các triệu chứng bao gồm nhức đầu, sổ mũi, ho, da phát ban và hắt hơi Kết quả nghiên cứu cho thấy, những người tiếp xúc trực tiếp với TBVTV mắc các triệu chứng trên và sức khỏe giảm sút gấp 4 lần so với những thành viên khác trong gia đình không tiếp xúc trực tiếp

Atreya và cộng sự (2012) nghiên cứu đánh giá các tác động tiêu cực mà nông nghiệp thâm canh mang lại, đặc biệt là về hiệu quả của việc sử dụng thuốc trừ sâu ảnh hưởng đến con người và môi trường, và các vấn đề liên quan đến chi phí kinh

tế Sản xuất rau an toàn là một nguồn thu nhập quan trọng trong nông nghiệp, nhưng điều này đã ngày càng trở nên phụ thuộc vào việc sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu hóa học Điều này không chỉ gây ô nhiễm môi trường mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe của người nông dân Lý thuyết của công trình nghiên cứu này cho rằng sử

Ngày đăng: 29/11/2022, 15:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Khung phân tích - Luận văn thạc sĩ UEH đánh giá hiệu quả kinh tế và chi phí khám chữa bệnh của những hộ nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, trường hợp nghiên cứu các hộ trồng rau tại thành phố hồ chí minh
Hình 2.1 Khung phân tích (Trang 47)
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu    Nguồn: Đề xuất của tác giả - Luận văn thạc sĩ UEH đánh giá hiệu quả kinh tế và chi phí khám chữa bệnh của những hộ nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, trường hợp nghiên cứu các hộ trồng rau tại thành phố hồ chí minh
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu Nguồn: Đề xuất của tác giả (Trang 49)
Bảng 3.1: Phân bố mẫu - Luận văn thạc sĩ UEH đánh giá hiệu quả kinh tế và chi phí khám chữa bệnh của những hộ nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, trường hợp nghiên cứu các hộ trồng rau tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.1 Phân bố mẫu (Trang 55)
Bảng 4.1: Mô tả mẫu nghiên cứu - Luận văn thạc sĩ UEH đánh giá hiệu quả kinh tế và chi phí khám chữa bệnh của những hộ nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, trường hợp nghiên cứu các hộ trồng rau tại thành phố hồ chí minh
Bảng 4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu (Trang 58)
Bảng 4.2: Thống kê mô tả - Luận văn thạc sĩ UEH đánh giá hiệu quả kinh tế và chi phí khám chữa bệnh của những hộ nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, trường hợp nghiên cứu các hộ trồng rau tại thành phố hồ chí minh
Bảng 4.2 Thống kê mô tả (Trang 59)
Bảng 4.3: Phân tích chi phí sản xuất rau bình quân - Luận văn thạc sĩ UEH đánh giá hiệu quả kinh tế và chi phí khám chữa bệnh của những hộ nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, trường hợp nghiên cứu các hộ trồng rau tại thành phố hồ chí minh
Bảng 4.3 Phân tích chi phí sản xuất rau bình quân (Trang 60)
Bảng 4.4: Hiệu quả sản xuất rau của hộ nông dân - Luận văn thạc sĩ UEH đánh giá hiệu quả kinh tế và chi phí khám chữa bệnh của những hộ nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, trường hợp nghiên cứu các hộ trồng rau tại thành phố hồ chí minh
Bảng 4.4 Hiệu quả sản xuất rau của hộ nông dân (Trang 61)
Bảng 4.6: Kết quả hồi quy OLS về hiệu quả kinh tế của các hộ trồng rau - Luận văn thạc sĩ UEH đánh giá hiệu quả kinh tế và chi phí khám chữa bệnh của những hộ nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, trường hợp nghiên cứu các hộ trồng rau tại thành phố hồ chí minh
Bảng 4.6 Kết quả hồi quy OLS về hiệu quả kinh tế của các hộ trồng rau (Trang 64)
Bảng 4.9: Kết quả hồi quy OLS chi phí y tế - Luận văn thạc sĩ UEH đánh giá hiệu quả kinh tế và chi phí khám chữa bệnh của những hộ nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, trường hợp nghiên cứu các hộ trồng rau tại thành phố hồ chí minh
Bảng 4.9 Kết quả hồi quy OLS chi phí y tế (Trang 71)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm