1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP Ở TRẺ EM VÀ KHÓI TỪ BẾP ĐUN SINH KHỐI TRONG CÁC GIA ĐÌNH Ở HUYỆN CHÍ LINH - TỈNH HẢI DƯƠNG pdf

5 649 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em và khói từ bếp đun sinh khối trong các gia đình ở huyện Chí Linh - tỉnh Hải Dương
Tác giả Phạm Công Tuấn
Người hướng dẫn ThS. Phạm Công Tuấn
Trường học Trường Đại Học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 211,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu nhằm xác định tỉ lệ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp ARI ở trẻ em sống ở những hộ gia đình sử dụng năng lượng sinh khối và tỉ lệ này của trẻ sống ở những hộ gia đình chỉ sử dụng ga

Trang 1

Nghiên cứu nhằm xác định tỉ lệ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp (ARI) ở trẻ em sống ở những hộ gia đình sử dụng năng lượng sinh khối và tỉ lệ này của trẻ sống ở những hộ gia đình chỉ sử dụng ga hóa lỏng, từ đó tìm hiểu những tác động của khói từ đốt sinh khối tới ARI ở trẻ em 100 hộ gia đình có sử dụng bếp ga ở thị trấn Sao Đỏ và 100 hộ gia đình sử dụng bếp đun sinh khối ở xã Vân An có trẻ từ 1 tới 4 tuổi, đã được lựa chọn một cách ngẫu nhiên từ danh sách hộ gia đình ở 2 địa phương Trong

211 trẻ (52% nam, 48% nữ) tham gia trong điều tra này, có 64,5% (n=138) bị mắc ARI trong vòng

6 tháng qua Có 27% số trẻ bị viêm đường hô hấp dưới và 7,6% mắc ARI với triệu chứng rút lõm lồng ngực Tỉ lệ mắc ARI ở nhóm trẻ phơi nhiễm với khói sinh khối từ quá trình đun nấu ở gia đình là 60.1% và tỉ lệ này ở trẻ ở gia đình chỉ sử dụng bếp ga là 72% (pRR=0.54; 95% CI: 0.25-1.17) Nghiên cứu đã cho thấy trẻ em ở Chí Linh có tỉ lệ mắc viêm nhiễm hô hấp cấp cao và ở mức độ trầm trọng Tuy nhiên, do cỡ mẫu nhỏ, nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn hẹp, nghiên cứu đã chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa giữa ARI và phơi nhiễm với khói sinh khối

Từ khóa: Nhiễm khuẩn hô hấp cấp, trẻ em, khói sinh khối, ô nhiễm không khí trong nhà, ARI, chất đốt rắn

Childhood Acute Respiratory Infections and Domestic Biomass Burning in Chi Linh district

(Hai Duong province, Vietnam)

Pham Cong Tuan(*)

The study aims to compare the prevalence of ARIs in children living in households using biomass as cooking fuel and in children living in households using liquidised petroleum gas, which is considered

as clean cooking fuel, in order to identify the impact of smoke from domestic biomass burning on ARIs

of children The mothers or caregivers from 205 households having randomly selected 1-4 year old children were interviewed about their children respiratory health and exposure situation Of 211 children (52% male and 48% female) participating in this study, 64.5% were reported to have ARI

in the previous 6 months The prevalence of ARI in male is not significantly different from it in female Regarding the severity of ARIs, 27% of children have developed lower respiratory tract infections and 7.6% of children have been reported having ARIs with chest indrawing, which could indicate severe pneumonia The prevalence of ARIs in children exposed to biomass (60.1%) is not significant

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em và khói từ bếp đun sinh khối hộ gia đình ở huyện

Chí Linh - tỉnh Hải Dương

Phạm Công Tuấn (*)

Trang 2

1 Đặt vấn đề

Ở Việt Nam, một điều tra của Viện Năng lượng

năm 2001 cho thấy, ước tính có hơn 70 phần trăm

các hộ gia đình ở Việt Nam sử dụng các chất đốt rắn

để đun nấu [2] Hàng chục triệu phụ nữ và trẻ em

hằng ngày phải phơi nhiễm với không khí trong nhà

bị ô nhiễm nặng do khói từ các bếp đun sinh khối

Khói phát sinh từ các bếp đun sinh khối ngoài

hơi nước và CO2, còn có thể phát sinh ra nhiều CO,

bụi hô hấp, các nitơ ôxít và nhiều chất có thể gây

độc hại gen như formandehit, benzen và các chất

hữu cơ bay hơi [8] Nhiều nghiên cứu được thực

hiện ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới đều

cho thấy nồng độ các chất ô nhiễm ở không khí

trong nhà ở những nhà sử dụng bếp đun sinh khối

đều vượt qua các tiêu chuẩn không khí xung quanh

từ 20 tới 60 lần [8][10] Ví dụ, trong một nghiên cứu

ở Ấn Độ, nồng độ khối lượng bụi lơ lửng trung bình

lên tới 3300 μg/m3

trong khi quy chuẩn về nồng độ bụi trung bình một giờ trong không khí là 200 μg/m3

Ngoài ra nồng độ CO, benzen và nhiều chất độc

khác đều cao hơn quy chuẩn [9]

Nhiều nghiên cứu chỉ ra mối liên quan chặt chẽ

giữa phơi nhiễm với khói sinh khối và nhiều vấn đề

sức khỏe Trong báo cáo “Những nguy cơ sức khỏe

toàn cầu” Tổ chức Y tế thế giới đã xếp phơi nhiễm

với khói từ sinh khối và than đá là một trong 10 nguy

cơ hàng đầu về tử vong và gánh nặng bệnh tật Trong

đó nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em và bệnh phổi

tắc nghẽn mãn tính ở phụ nữ trên 30 tuổi là hai bệnh

đóng góp hàng đầu cho gánh nặng bệnh tật và tử

vong gây ra do khói từ chất đốt rắn [14]

Smith và cộng sự (năm 2000) đã chỉ ra rằng trẻ

em có phơi nhiễm với khói sinh khối có nguy cơ mắc

ARI cao hơn ở trẻ em không phơi nhiễm 2 lần [9] Gần đây, một báo cáo tổng quan và phân tích beta từ kết quả của 24 nghiên cứu khác của Dherani và cộng sự (năm 2008) đã cho thấy nguy cơ mắc viêm phổi của những trẻ có phơi nhiễm với khói sinh khối cao hơn 1,8 lần so với trẻ không phơi nhiễm [6] ARI là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ

em tại Việt Nam, là nguyên nhân gây ra 12% số trường hợp tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi [1][13][16] Nghiên cứu điều tra các nhóm chỉ số sức khỏe (MICS) Việt Nam và Điều tra dân số cho thấy tỉ lệ nhiễm ARI ở trẻ em Việt Nam lần lượt là 9,3% và 19,5%[11][12] Trong khi đó, các nghiên cứu ở Ba

Vì và Bắc Kạn với định nghĩa là trẻ có triệu chứng

ho, sốt trong vòng 6 tháng qua, cho thấy tỉ lệ ARI là 31,5%, 32% và 40,2%[3][4][6]

Ở Việt Nam, mặc dù chưa có nghiên cứu nào về chủ đề này được thực hiện, nhưng các ước lượng cho thấy, phơi nhiễm với khói sinh khối là một trong những nguy cơ đóng góp lớn vào tỉ lệ mắc ARI cao

ở trẻ em Tổ chức Y tế thế giới đã ước lượng rằng hằng năm ở Việt Nam có 2.620 trẻ em dưới năm tuổi tử vong do ARI là có nguyên nhân từ phơi nhiễm với khói từ các chất đốt rắn [15] Với tỉ lệ sử dụng sinh khối cho đun nấu còn rất cao ở Việt Nam, các bằng chứng về những mối liên quan giữa sử dụng sinh khối cho đun nấu và các hậu quả sức khỏe lên con người, đặc biệt là trẻ em là rất cần thiết Mục tiêu nghiên cứu là xác định tỉ lệ của ARI ở trẻ

em sống ở những hộ gia đình sử dụng sinh năng lượng sinh khối và tỉ lệ này của trẻ sống ở những hộ gia đình chỉ sử dụng ga hóa lỏng, từ đó tìm hiểu những tác động của khói từ đốt sinh khối tới ARI ở trẻ em

different from the prevalence of ARIs in children who were not exposed to biomass (72%) (pRR=0.54; 95% CI: 0.25-1.17)

Key words: Acute respiratory infections, children, smoke from biomass burning indoor air pollution

Tác giả:

(*) Ths Phạm Công Tuấn Giảng viên, Bộ môn Vệ sinh lao động - Bệnh nghề nghiệp.Trường Đại Học Y tế

Công cộng - 138, Giảng Võ, Quận Ba Đình, Hà Nội Điện thoại: 04 2662322 Email: pct@hsph.edu.vn

Trang 3

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Thiết kế nghiên cứu và đối tượng

nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang phân tích được tiến hành

trên đối tượng trẻ em từ 1 tới 4 tuổi tại 2 xã/thị trấn

Văn An và Sao Đỏ thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải

Dương Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 5 đến

tháng 8 năm 2010

2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Cỡ mẫu được tính toán dựa vào công thức tính

cỡ mẫu so sánh hai tỉ lệ

Với α= 0.05, ta có Z =1.96; d=0.15; P1 là 25%

và P2 là 35% (Tỉ lệ được ước lượng dựa theo nghiên

cứu của Nguyễn Thắng và Nguyễn Quỳnh Hoa ở Ba

Vì [3][6]), ta có n tính được là 71 cho mỗi nhóm,

cộng với tỉ lệ từ chối, vậy cỡ mẫu được ước lượng là

200 hộ gia đình, mỗi một xã là 100 hộ

Các đối tượng được chọn mẫu theo phương pháp

chọn mẫu cụm phân tầng, thị trấn Sao Đỏ đã được

chọn ngẫu nhiên từ 4 phường nội thành và xã Vân

An đã được chọn từ 7 xã ngoại thành từ phương

pháp bốc thăm ngẫu nhiên 100 hộ gia đình có trẻ

từ 1 tới 4 tuổi và có sử dụng bếp ga ở thị trấn Sao

Đỏ và 100 hộ gia đình có trẻ từ 1 tới 4 tuổi và sử

dụng bếp đun sinh khối ở xã Vân An, đã được lựa

chọn một cách ngẫu nhiên từ danh sách hộ gia đình

ở 2 địa phương

2.3 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin

Bà mẹ hoặc người chăm sóc chính của những

đứa trẻ trong các hộ gia đình này sẽ được phỏng vấn

về các triệu chứng về bệnh hô hấp ở trẻ, sự phơi

nhiễm với khói sinh khối, các thông tin về các yếu

tố liên quan và các yếu tố nhiễu tiềm tàng bằng bộ

câu hỏi được thiết kế sẵn Bộ câu hỏi được thử

nghiệm trên 10 bà mẹ ở Huyện Đông Anh, Hà Nội

trước khi đưa vào áp dụng

2.4 Xử lý và phân tích số liệu

Số liệu thu thập được làm sạch và nhập vào máy

tính bằng phần mềm Epidata 3.0 Phần mềm thống

kê Stata 8.0 được sử dụng trong phân tích số liệu

Đối với thống kê mô tả tỷ lệ phần trăm của các biến

số nghiên cứu được tính toán Phân tích Khi bình

phương được sử dụng trong các phân tích mối liên quan giữa tình trạng sức khỏe và phơi nhiễm với khói sinh khối với mức ý nghĩa thống kê sử dụng trong thống kê phân tích là p<0.05

3 Kết quả nghiên cứu

Trong 211 trẻ (52% nam, 48% nữ) tham gia trong điều tra này, có 64,5% (n=138) bị mắc ARI trong vòng 6 tháng qua Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa tỉ lệ ARI ở trẻ nam và trẻ nữ Không tìm thấy sự khác biệt về tỉ lệ mắc ARI ở trẻ em nông thôn và thành thị

Về sự trầm trọng của ARI, có 27% số trẻ bị viêm đường hô hấp dưới và 7,6% mắc ARI với triệu chứng rút lõm lồng ngực, cho thấy chúng có thể bị viêm phổi nặng

Hơn 90% số trẻ mắc ARI được tiếp cận với các dịch vụ y tế, trong đó 18,1% số trẻ mắc ARI phải nhập viện điều trị nội trú, có nghĩa là cứ 9 đứa trẻ

ở Chí Linh có 1 trẻ phải nhập viện trong 6 tháng qua

do ARI

Có hơn 40% số hộ gia đình sử dụng nhiều hơn một loại nhiên liệu đun nấu Việc đun nấu chủ yếu được thực hiện trong nhà, tuy nhiên chỉ có một số hộ gia đình có sử dụng ống khói (24,8%) hoặc quạt hút khói (9,7%) Hơn 80% số trẻ được giữ ở gần bếp khi công việc đun nấu xảy ra

Tỉ lệ nhiễm ARI ở trẻ mắc hen suyễn cao hơn

so với tỉ lệ này ở nhóm không hen suyễn Tuy vậy, chỉ có hơn 10% số bà mẹ biết được con mình mắc hen suyễn

Biểu đồ 1 Tỉ lệ mắc ARI của trẻ em ở Chí Linh

theo giới và địa bàn nghiên cứu

(So sánh tỉ lệ mắc ARI giữa nam và nữ; p>0,05 test χ2 ) (So sánh tỉ lệ ARI giữa trẻ em nông thôn (Văn An) và thành thị

(Sao Đỏ), p>0,05 test χ2

)

Trang 4

Tỉ lệ mắc ARI ở nhóm trẻ phơi nhiễm với khói

sinh khối từ quá trình đun nấu ở gia đình là 60.1%

và tỉ lệ này ở trẻ ở gia đình chỉ sử dụng bếp ga là

72% Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa

tỉ lệ ARI của trẻ phơi nhiễm và không phơi nhiễm

với khói sinh khối (pRR=0.54; 95% CI: 0.25-1.17)

4 Bàn luận

Kết quả từ nghiên cứu đã cho thấy tỉ lệ ARI cao ở

trẻ em dưới 5 tuổi Chí Linh, cao hơn so với các nghiên

cứu ở Việt Nam đã triển khai trong các năm gần đây

Nghiên cứu này cho tỉ lệ nhiễm ARI là 64,5%, trong

khi nghiên cứu với định nghĩa truờng hợp tương tự của

Nguyễn Quỳnh Hoa (2010) và của Nguyễn Thắng

(2006) đều cho kết quả là khoảng 30% [3][6] Tuy

nhiên, tỉ lệ ARI nặng (ARI kèm với thở nhanh, và rút

lõm lồng ngực) tương tự với các nghiên cứu khác Tỉ

lệ cao của ARI của trẻ em dưới 5 tuổi ở đây cũng cho

thấy tính nghiêm trọng của vấn đề

Mắc bệnh hen suyễn đã làm tăng nguy cơ phát

triển ARI ở trẻ em Tuy vậy việc quản lý hen suyễn

ở trẻ em ở Chí Linh còn hạn chế

Kết quả nghiên cứu còn cho thấy có một tỉ lệ lớn

các hộ gia đình sử dụng nhiều loại nhiên liệu để đun

nấu Trong đó phổ biến nhất là kết hợp sử dụng khí

ga và củi do sự tiện dụng của ga và rẻ tiền của củi

Điều này sẽ thuận lợi cho việc vận động các hộ gia

đình chuyển sang sử dụng ga hoàn toàn cho đun nấu

khi họ nhận thức được các tác hại của việc sử dụng

bếp củi

Nghiên cứu đã không kết luận được mối liên

quan giữa ARI và sự phơi nhiễm với khói sinh khối, mặc dầu những sự liên quan này đã được kết luận ở nhiều nghiên cứu với thiết kế tốt hơn Cỡ mẫu nhỏ của nghiên cứu có thể là một nguyên nhân giải thích kết quả này Bên cạnh đó, việc nhiều hộ gia đình sử dụng nhiều loại nhiên liệu đun nấu khác nhau khiến cho hơn 30% số trẻ không thể xác định được tình trạng phơi nhiễm sinh khối Điều này làm cho cỡ mẫu càng nhỏ hơn Cỡ mẫu nhỏ của nghiên cứu làm cho kết quả nghiên cứu thu được khó phân tích và so sánh Nghiên cứu này xác định tình trạng nhiễm khuẩn hô hấp bằng cách hỏi các triệu chứng hô hấp của trẻ trong 6 tháng vừa qua Phương pháp đo lường chủ quan này, cộng với thời gian nhớ lại dài có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu Thông thường, với các thông tin về sức khỏe, thời gian nhớ lại là 2 tuần được khuyến khích sử dụng

Nghiên cứu đã cho thấy trẻ em ở Chí Linh có tỉ lệ mắc viêm nhiễm hô hấp cấp cao và ở mức độ trầm trọng Nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa giữa ARI và khói sinh khối Tuy vậy, các kết quả tổng quan cho thấy khói sinh khối vẫn là một nguy cơ tiềm tàng với sự phát triển ARI ở trẻ

em Các hộ gia đình sử dụng kết hợp các loại nhiên liệu, tuy nhiên nhà bếp chưa được thiết kế để thoát các khí ô nhiễm ra ngoài nhà

Để bảo vệ sức khỏe cho chính các thành viên trong hộ gia đình, đặc biệt là trẻ em các biện pháp kiểm soát ô nhiễm khói sinh khối cần được triển khai, bao gồm việc chuyển sang sử dụng nhiên liệu sạch như ga, điện hoặc dầu hỏa và sử dụng công nghệ biogas Các biện pháp nhằm phát hiện các nguy cơ phát triển ARI và biện pháp phòng chống giảm tỉ lệ ARI của trẻ em Chí Linh cần được các cơ quan y tế triển khai Cuối cùng, các nghiên cứu tiếp theo về chủ đề này cần lưu ý sử dụng thời gian nhớ lại ngắn hơn, cỡ mẫu lớn hơn và có phương pháp đo lường bệnh khách quan để có chất lượng thông tin cao hơn

Lời cảm ơn

Nghiên cứu này được sự hỗ trợ của CHILILAB

- Trường ĐH Y tế Công cộng và các giảng viên từ trường Đại học Birmingham, Vương quốc Anh Biểu đồ 2 Tỉ lệ sử dụng các phương tiện thông

khói ra khỏi bếp

Trang 5

Tài liệu tham khảo

Tiếng Việt

1 Bộ Y tế (2010) Các bệnh mắc cao nhất Bộ Y tế

2 Nguyễn Quang Khải (2007) Những vấn đề phát triển

năng lượng sinh khối tại Việt Nam Viện nghiên cứu phát

triển.

3 Nguyễn Thắng (2006) Viêm nhiễm hô hấp cấp ở trẻ em

dưới 5 tuổi trong đợt dịch cúm gia cầm Hà Nội: Viện nghiên

cứu chính sách y tế.

4 Mai Anh Tuấn (2008) Thực trạng và một số yếu tố nguy

cơ nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi ở Bắc Kạn.

Thái Nguyên: Thai Nguyen Learning Center.

Tiếng Anh

5 Dherani, M., Pope, D., Mascarenhas, M., Smith, K.R.,

Weber, M and Bruce, N (2008) 'Indoor air pollution from

unprocessed solid fuel use and pneumonia risk in children

aged under five years: a systematic review and

meta-analysis', Bulletin of the World Health Organization , p.

86(5):390-398.

6 Nguyễn Quỳnh Hoa, et al (2010) Decreased

Streptococcus pneumonia susceptibility to oral antibiotics

among children in rural Vietnam: a community study, BMC

Infectious Diseases, pp 10 (85): 1-11.

7 Rehfuess, E (2006) Fuel for life : household energy and

health, Genava: World Health Organization.

8 Smith, K.R., Mehta, S and Maeusezahl-Feuz, M (2004).

'Indoor air pollution from household use of solid fuels', in Ezzati, M., Lopez, A.D., Rodgers, A and Murray, C.J.L Comparative quantification of health risks: global and regional burden of disease attributable to selected major risk factors., Geneva: World Health Organization.

9 Smith, Kirk R., et al (2000) Green house implication of household stoves: An analysis for India Annual Review of Environment and Resources, tr 25:741-763.

10 Smith, K.R., Samet, J.M., Romieu, I and Bruce, N (2000) Indoor air pollution in developing countries and acute lower respiratory infections in children, Thorax: An International Jounal of Respiratory Medicine, p 55 (6): 518-532.

11 Unicef (2004) Vietnam Multiple Indicator Cluster Survey Hanoi : Unicef Vietnam.

12 VN-CPFV (2003) Vietnam Demographic and Health Survey 2002 Calverton, Maryland, USA : Committee for Population, Family and Children and ORC Macro, 2003.

13 WHO (2009) Acute Respiratory Infections (Update September 2009), [Online], Available: http://www.who.int/vaccine_research/diseases/ari/en/index html [8 November 2011].

14 WHO (2009) Global health risks-Mortality and burden

of disease attributable to selected major risks Geneva : World Health Organization.

15 WHO (2007) Indoor Air Pollution: National Burden of Disease Estimates, Geneva: World Health Organization.

16 WHO (2006) Mortality Country Fact Sheet 2006, Geneva: World Health Organization.

Ngày đăng: 21/03/2014, 00:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w