Tuân thủ chế độ ăn và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện E, năm 2011-2012 Nguyễn Thị Hải Yến *, Đỗ Mai Hoa** Tăng huyết áp THA là một t
Trang 1Tuân thủ chế độ ăn và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại
trú tại bệnh viện E, năm 2011-2012
Nguyễn Thị Hải Yến (*), Đỗ Mai Hoa(**)
Tăng huyết áp (THA) là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây bệnh tật và tử vong trên toàn cầu Tuân thủ điều trị THA là hết sức quan trọng giúp bệnh nhân đạt được huyết áp mục tiêu, nhưng lại là một thách thức rất lớn, nhất là với những tuân thủ điều trị không dùng thuốc Hầu hết các nghiên cứu về tuân thủ điều trị THA đều tập trung vào tuân thủ thuốc mà chưa quan tâm đến việc tuân thủ những khuyến cáo không dùng thuốc khác nhất là tuân thủ chế độ ăn Nghiên cứu cắt ngang tiến hành trên 260 bệnh nhân khám và điều trị THA ngoại trú tại bệnh viện E nhằm đánh giá tuân thủ chế độ ăn và các yếu tố liên quan Số liệu được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp dựa trên các câu hỏi về mức độ thường xuyên sử dụng thức ăn cần hạn chế đối với bệnh nhân THA Kết quả cho thấy tuân thủ chế độ ăn là 40,4% Phân tích bằng mô hình hồi quy logistic đa biến cho thấy kiến thức về bệnh và chế độ điều trị và việc giải thích của cán bộ y tế về THA và những nguy cơ là hai yếu tố có liên quan có ý nghĩa thống kê đến tuân thủ chế độ ăn
Từ khóa: tăng huyết áp, điều trị THA, tuân thủ điều trị, tuân thủ chế độ ăn
Diary intake adherence and associated factors among hypertension patients in the out-patient
clinic, E hospital, 2011-2012 Nguyen Thi Hai Yen (*), Do Mai Hoa (**)
Hypertension is one of the most important risk factors for morbidity and mortality in the world Adherence is a challenge, especially adherence to non-medication treatment Most of hypertension adherence studies only focus on adherence to the medication treatment but do not pay enough attention to adherence to the other recommendations for non-medication treatment, especially dietary intake adherence This cross-sectional study was conducted with 260 patients for hypertension treatment at the E hospital for assessment of dietary intake adherence and its related factors Data was collected from face to face interviews with questions on the frequency of having foods that were not recommended for hypertension patients The results show that the dietary intake adherence
Trang 21 Đặt vấn đề
Tăng huyết áp (THA) là bệnh mạn tính phổ biến
nhất trên thế giới và hiện ở mức cao [10] Bệnh
THA được mệnh danh là kẻ giết người thầm lặng vì
trong nhiều trường hợp mặc dù không có dấu hiệu
cảnh báo nào, nhưng khi xuất hiện triệu chứng thì
bệnh nhân đã ở trạng thái nguy kịch[10] THA là
một trong những yếu tố nguy cơ hàng đầu của bệnh
mạch vành tim, đột quỵ, suy tim và bệnh thận giai
đoạn cuối [6]
Mặc dù có rất nhiều ích lợi do điều trị mang lại
nhưng trên thực tế việc tuân thủ chế độ điều trị là
một thách thức rất lớn không những với bản thân
người bệnh mà với cả hệ thống y tế [9] Hầu hết các
nghiên cứu về tuân thủ điều trị THA mới chỉ tập
trung vào tuân thủ điều trị thuốc mà chưa chú trọng
đến tuân thủ không dùng thuốc như thay đổi lối sống
mà quan trọng nhất trong đó là tuân thủ chế độ ăn
[5,6, 7] Chế độ ăn mà Bộ Y tế khuyến cáo dành cho
người THA là hạn chế muối natri, hạn chế
cholesterol và acid béo bão hòa [1] Nhằm nghiên
cứu thực trạng tuân thủ chế độ ăn đối với người
THA chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục
đích đánh giá tỷ lệ tuân thủ chế độ ăn dành cho bệnh
THA và các yếu tố liên quan của bệnh nhân điều trị
ngoại trú tại Bệnh viện E để đề xuất các khuyến
nghị để có thể làm tăng mức độ tuân thủ chế độ ăn
của những bệnh nhân này
2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang có phân tích tiến hành
trên 260 bệnh nhân THA đang khám và điều trị
ngoại trú tại khoa khám bệnh, bệnh viện E từ tháng 11/2011 đến tháng 5/2012 Tại thời điểm nghiên cứu có 3.019 bệnh nhân (BN) THA đang điều trị ngoại trú tại đây Mỗi ngày có khoảng 360-170 BN Thường thì có tới 2/3 BN đi khám vào buổi sáng và chỉ có khoảng 1/4 BN đi khám vào buổi chiều Chính vì vậy, mẫu được chọn một cách ngẫu nhiên vào 22 ngày khám bệnh của tháng 12/2011, mỗi ngày chọn 12 bệnh nhân: sáng 8 bệnh nhân, chiều
4 bệnh nhân Một số tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) là dưới 18 tuổi, THA thứ phát, có biến chứng nặng Số liệu thu thập bằng (1) phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân (BN) bằng bộ câu hỏi, (2) hồ sơ bệnh án để lấy thông tin về thời gian điều trị, số đo huyết áp (HA) lúc bắt đầu điều trị và hiện tại, tổn thương cơ quan đích (nếu có) và bệnh kèm theo và (3) đo chiều cao, cân nặng của BN để tính chỉ số BMI Nhập liệu bằng phần mềm Epi DATA và phân tích bằng SPSS
Tiêu chuẩn đánh giá Đánh giá tuân thủ chế độ ăn Tuân thủ chế độ ăn trong điều trị THA là ăn hạn chế muối natri, hạn chế chất béo (cholesterol và acid béo bão hòa)
- Hạn chế muối natri Không tuân thủ chế độ ăn hạn chế muối natri được quy ước trong nghiên cứu này là khi bệnh nhân thường ăn các loại thực phẩm có nhiều muối natri như các loại thực phẩm đóng hộp, chế biến sẵn (thịt hun khói, xúc xích, thịt hộp, bơ mặn, phomat), dưa, cà muối, cá mắm, ăn mì ăn liền, ăn hết phần nước
among this group of patients was 40.4% According to the multivariate logistic regression analysis, statistical significant factors associated with dietary intake adherence were patients' knowledge on hypertension therapy and health care providers' explanation on hypertension and its risk factors Key words: hypertension, hypertension treatment, treatment adherence, dietary intake adherence
Tác giả:
(*) Ths.Bs Nguyễn Thị Hải Yến Trường Đại học Y tế Công cộng
Email: yenyhoc@yahoo.com.vn.
(**) TS.Bs Đỗ Mai Hoa Trường Đại học Y tế Công cộng Email: dmh@hsph@edu.vn
Trang 3của bát mì, phở, bún, đặc biệt bún riêu cua, bún ốc,…
Ngoài ra còn thường ăn thêm gia vị, nước mắm,
nước tương, muối vừng khi ăn chung với gia đình
- Hạn chế chất béo (cholesterol và a-xit
bão hòa)
Không tuân thủ chế độ ăn hạn chế cholesterol
và acid béo bão hòa là ăn mỡ động vật dạng thịt mỡ
hoặc dùng mỡ động vật để rán/chiên/xào, thường
xuyên ăn đồ ăn chiên/xào, ăn phủ tạng động vật,
lòng đỏ trứng, có dùng một số thực phẩm như
mayoneise, bơ,
Bệnh nhân được hỏi về mức độ thường xuyên ăn các thức ăn trên với thang đo ở 4 mức: Thường xuyên (>4 lần/tuần): 3 điểm; Thỉnh thoảng (2-4 lần/tuần): 2 điểm; Hiếm khi (1lần/tuần): 1 điểm; Không bao giờ (0 lần/tuần): 0 điểm Tổng số điểm đạt được của cả 8 câu có thể từ 0 đến 24 điểm Với tổng số điểm từ 0 đến 8 điểm: bệnh nhân được coi là tuân thủ chế độ ăn, còn lớn hơn 8 điểm là không tuân thủ chế độ ăn
Đánh giá chỉ số khối cơ thể
Tiêu chuẩn đánh giá BMI: chỉ số BMI được tính bằng cách lấy cân nặng (tính bằng kg) chia cho bình phương chiều cao (tính bằng m) Dựa theo phân loại của Viện Dinh dưỡng 2010, khi BMI ≥ 23 kg/m2 được chẩn đoán là thừa cân
Đánh giá kiến thức
Trong phần kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA có 10 câu hỏi về kiến thức xác định: chỉ số THA, biến chứng của THA, huyết áp mục tiêu (HAMT), chế độ điều trị THA, cách dùng thuốc, chế độ ăn, lượng rượu tối đa được phép uống, bỏ thuốc lá/thuốc lào, tập thể dục và đo HA BN có kiến thức đạt khi trả lời đúng từ 7 câu trở lên, dưới
7 câu là không đạt
3 Kết quả nghiên cứu 3.1 Một số đặc điểm chung
Một số đặc điểm chung của BN được mô tả trong bảng 1 Theo đó, BN nữ (54,2%) cao hơn BN nam (45,8%) Tuổi dao động từ 46 đến 89 (trung bình ± độ lệch chuẩn) 87,31% BN đã nghỉ hưu hoặc không đi làm
Có đến 2/3 số BN được phát hiện THA một cách tình cờ 43,1% BN THA độ 1 lúc bắt đầu điều trị 2/3 BN có thời gian điều trị từ 1 đến 5 năm 20,4%
BN có tiền sử có biến cố tim mạch như đột quỵ, suy tim
57,3% BN có kiến thức về bệnh và chế độ điều trị đạt, còn lại 42,7% kiến thức chưa đạt
Về dịch vụ khám và điều trị THA ngoại trú: 42,3% BN được CBYT giải thích rõ về THA và những nguy cơ 56,9% BN được CBYT giải thích rõ về chế độ điều trị Chỉ có 26,2% BN được CBYT nhắc nhở thường xuyên về tuân thủ điều trị
3.2 Tuân thủ chế độ ăn
Về thực hiện chế độ ăn hạn chế muối: hầu hết Bảng 1 Một số đặc điểm của BN (n=260)
Trang 4BN hầu như không ăn (hiếm khi hoặc không bao
giờ) thực phẩm chế biến sẵn (93,8%), đa số BN có
ăn dưa, cà muối từ 1 đến 4 lần/tuần (81,9%) cũng
như các món mặn (82,6%), và có bổ sung gia vị,
nước mắm, tương khi ăn chung với gia đình (76,2%)
Về thực hiện chế độ ăn hạn chế chất béo: đa số
BN đã biết hạn chế hoặc không ăn những thực phẩm có nhiều chất béo, cụ thể là 80% BN không ăn mỡ động vật; 71,3% không ăn phủ tạng động vật; tuy nhiên vẫn còn 38,1% BN ăn trên 4 lần/tuần đồ ăn rán/xào; 20,8% đối tượng ăn nhiều lòng đỏ trứng (từ
2 đến trên 4 lần/tuần) trong tuần vừa qua (bảng 2) Trong 260 BN, chỉ có 143 BN (chiếm 54,6%) là thực hiện chế độ ăn hạn chế muối 182 BN (chiếm 70%) thực hiện chế độ ăn hạn chế chất béo Tuân thủ chế độ ăn đòi hỏi cả hạn chế muối và chất béo và chỉ có 108 BN (40,4%) tuân thủ chế độ ăn, còn
152 đối tượng không tuân thủ (59,6%) (hình 1)
3.3 Phân tích đơn biến các yếu tố liên quan đến tuân thủ chế độ ăn
Giới nữ có xu hướng có liên quan có ý nghĩa thống kê với tuân thủ chế độ ăn khi so với giới nam (OR: 1,59; p: 0,07) Có sự hỗ trợ của tổ chức xã hội có xu hướng tuân thủ chế độ ăn cao hơn (OR: 1,59; p: 0,07)
Kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA có liên quan có ý nghĩa thống kê với tuân thủ chế độ ăn (OR: 2,55; p: <0,001) Tiền sử có biến cố tim mạch có xu hướng liên quan có ý nghĩa thống kê với
Bảng 2 Tuân thủ chế độ ăn (n=260)
Bảng 3 Một số yếu tố liên quan tuân thủ chế độ ăn
(n=260)
Hình 1 Tỷ lệ tuân thủ chế độ ăn của BN (n=260)
Lưu ý: thang đo 4 mức được đánh giá trong vòng 1 tuần vừa
qua: 3 điểm: thường xuyên sử dụng (>4 lần/tuần); 2 điểm: thỉnh
thoảng (2-4 lần/tuần); 1 điểm: hiếm khi (1 lần/tuần); và o điểm:
không bao giờ (0 lần/tuần).
Trang 5tuân thủ chế độ ăn (OR: 1,67; p: 0,08).
Tuân thủ chế độ ăn có liên quan có ý nghĩa
thống kê với yếu tố được CBYT giải thích rõ về
THA và những nguy cơ (OR: 2,8; p: <0,001); giải
thích rõ về chế độ điều trị (OR: 1,72; p: 0,036); cũng
như được CBYT nhắc nhở TTĐT (OR: 3,32; p:
0,027) (bảng 3)
3.4 Phân thích đa biến các yếu tố liên
quan chế độ ăn
Các yếu tố liên quan (p ≥ 0,05) hoặc có xu
hướng liên quan (p ≥ 0,1) có ý nghĩa thống kê với
tuân thủ chế độ ăn trong phân tích đơn biến được lựa
chọn đưa vào mô hình phân tích hồi quy logistics đa
biến Các yếu tố này bao gồm: giới (p = 0,07), sự hỗ
trợ của tổ chức xã hội (p = 0,07), tiền sử có biến cố
tim mạch (p = 0,08), kiến thức (p < 0,001), được
CBYT giải thích rõ về THA và những nguy cơ (p <
0,001), được CBYT giải thích rõ về chế độ điều trị
(p = 0,036) cũng như là được nhắc nhở tuân thủ điều
trị (p = 0,027)
Sau khi hiệu chỉnh cho những yếu tố nguy cơ đã
được thiết lập với tuân thủ chế độ ăn thì chỉ còn:
kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA, được
CBYT giải thích rõ về THA và những nguy cơ là có
liên quan có ý nghĩa thống kê với tuân thủ chế độ
ăn Theo đó, tuân thủ chế độ ăn cao hơn ở nhóm có
kiến thức đạt (OR = 1,82), được CBYT giải thích rõ
về THA và những nguy cơ (OR = 2,21) (bảng 4)
4 Bàn luận
4.1 Một số đặc điểm của nhóm nghiên cứu
Tỷ lệ BN nữ (54,2%) cao hơn BN nam (45,8%)
khoảng 10%, có lẽ do những BN là nữ có xu hướng
đi khám tích cực hơn Tuổi là một yếu tố nguy cơ
quan trọng của bệnh lý tim mạch nói chung, THA
nói riêng Tỷ lệ bệnh nhân THA tăng dần theo lứa
tuổi Trong nghiên cứu của chúng tôi, hơn3/4 BN
ở độ tuổi 60 trở lên cũng là phù hợp
Có tới hơn 2/3 BN được phát hiện THA một cách tình cờ, hoàn toàn phù hợp với bản chất diễn biến âm thầm không có triệu chứng của bệnh Phân độ THA dựa vào số đo huyết áp Hơn một nửa trong tổng số 260 BN bị THA độ 2 theo tiêu chuẩn chẩn đoán của JNC VII Có thể là do những BN đến cơ sở khám chữa bệnh thì thường bệnh đã nặng, bắt đầu có triệu chứng khiến bệnh nhân khó chịu phải
đi khám
Công tác quản lý bệnh án của bệnh nhân tại Viện theo tên mà không theo mã số, sao đơn của bác
sĩ bằng tay Do đó thời gian mà CBYT dành cho mỗi bệnh nhân không nhiều nên thực tế có tới hơn một nửa bệnh nhân không được CBYT giải thích rõ về THA và những nguy cơ của bệnh (57,7%), không được giải thích rõ về chế độ điều trị cũng như không được CBYT thường xuyên nhắc nhở về tuân thủ điều trị (73,8%) Chính điều này ảnh hưởng không nhỏ tới sự hiểu biết của bệnh nhân về bệnh và chế độ điều trị cũng như sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân Nghiên cứu được thực hiện tại bệnh viện đa khoa trung ương, hầu hết BN đến khám từ vùng lân cận, BN có trình độ học vấn tương đối cao nhưng kiến thức liên quan đến bệnh và chế độ điều trị THA chưa cao, tỷ lệ đạt chỉ có 57,3%
4.2 Tỷ lệ tuân thủ chế độ ăn
Tuân thủ chế độ ăn cũng như tuân thủ điều chỉnh lối sống khác có vai trò rất quan trọng trong phòng ngừa và điều trị bệnh THA nhưng là vấn đề khó khăn trong việc áp dụng do đời sống xã hội, nhận thức, do thói quen ăn uống, sinh hoạt gia đình đã hình thành từ trước Hơn nữa phong tục tập quán của người Việt có xu thế ăn đồ ăn mặn lại thường sống và ăn cùng con cháu nên rất khó thực hiện chế độ ăn riêng dành cho người THA
Tỷ lệ tuân thủ chế độ ăn trong nghiên cứu của chúng tôi là 40,4%, có sự khác biệt tương đối với các nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể do thang đo hoàn toàn khác nhau Hầu hết các nghiên cứu đánh giá về chế độ ăn đều chỉ đánh giá một cách chung chung là có thay đổi chế độ ăn khi bị THA hay không (khoảng 20% trong nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hằng và Ninh Văn Đông[2] hoặc qua câu hỏi có ăn nhạt và giảm chất béo không (65% trong nghiên cứu của Uzun S[11]) hoặc đánh giá chế độ ăn đạt yếu cầu khi thực hiện 3/5 yếu tố sau: ăn nhạt, ăn nhiều rau, ăn ít chất béo, hạn chế rượu/bia, không hút thuốc lá (44,8% trong nghiên cứu của Nguyễn Minh Bảng 4 Phân tích hồi quy logistics đa biến các yếu
tố liên quan với tuân thủ chế độ ăn
Trang 6Phương năm 2011) [3] hoặc lồng ghép tuân thủ chế
độ ăn kiêng và thay đổi lối sống (63,3% trong nghiên
cứu của Vương Thị Hồng Hải) [5]
4.3 Các yếu tố liên quan tuân thủ chế độ ăn
Tuân thủ chế độ ăn của BN ở nữ có xu hướng
cao hơn 1,59 lần so với nam (p = 0,07) nhưng sự
khác biệt này không có ý nghĩa thống kê Điều này
cũng dễ hiểu vì người phụ nữ thường là nội tướng
quán xuyến mọi việc trong gia đình, là người trực
tiếp nấu ăn và quyết định ăn gì và ăn như thế nào
cho cả gia đình
Những BN có tham gia vào tổ chức xã hội như
Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, dự án phòng chống
THA có xu hướng tuân thủ chế độ ăn cao hơn 1,59
lần so với những BN không tham gia (p = 0,07)
nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê Khi
tham gia vào những tổ chức xã hội này, họ không
những được hòa mình vào cộng đồng mà còn nhận
được nhiều thông tin hữu ích, chia sẻ và học hỏi
được nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống và nhất là
thông tin liên quan đến bệnh THA từ những người
cùng mắc bệnh
Có mối liên quan giữa kiến thức về bệnh và chế
độ điều trị với chế độ ăn Những đối tượng có kiến thức
đạt tuân thủ chế độ ăn cao hơn 2,55 lần những đối
tượng kiến thức không đạt Sự khác biệt này có ý nghĩa
thống kê với mức α = 0,05 (p<0,01) Chỉ khi hiểu rõ
về bệnh, những nguy hiểm của bệnh và cách thức
điều trị cùng với những hậu quả do không điều trị gây
ra thì người bệnh mới có thể tuân thủ điều trị được
Tuân thủ chế độ ăn cũng có xu hướng cao hơn ở
nhóm đối tượng có tiền sử biến cố tim mạch, tuy sự
khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p = 0,08)
Những bệnh nhân có biến chứng THA đã thấm thía
được tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị và
nếu không điều trị tốt sẽ dẫn đến các biến chứng
nguy hiểm thậm chí tử vong nên họ có xu hướng
tuân thủ tốt hơn những đối tượng chưa có biến chứng
Có mối liên quan giữa yếu tố được CBYT giải
thích rõ về THA và những nguy cơ của THA cũng
như giải thích rõ về chế độ điều trị và nhắc nhở tuân
thủ điều trị với tuân thủ chế độ ăn Sự khác biệt này
có ý nghĩa thống kê với mức α = 0,05 (p<0,05) Chỉ
khi được giải thích rõ về bệnh và những nguy cơ của
bệnh, hiểu được cách điều trị, nhất là thông tin nhận
được từ những nhà có chuyên môn thì người bệnh
mới hiểu rõ được bản chất và mức độ nguy hiểm của
bệnh và biết cách điều trị Điều trị THA là một quá
trình kéo dài thậm chí là suốt đời nên sự nhắc nhở tuân thủ điều trị của CBYT ngoài những thuốc được kê đơn là vô cùng cần thiết và góp phần làm tăng sự tuân thủ của bệnh nhân
Khi phân tích đa biến để kiểm soát yếu tố nhiễu bằng hồi quy logistic, xác định được yếu tố kiến thức về bệnh và chế độ điều trị, được CBYT giải thích rõ về bệnh THA và những nguy cơ là những biến thực sự có liên quan đến tuân thủ chế độ ăn Theo đó, BN có kiến thức đạt tuân thủ chế độ ăn cao gấp 1,8 lần so với những BN kiến thức không đạt (OR=2,55; p=0,036) BN được CBYT giải thích rõ về THA và những nguy cơ tuân thủ chế độ ăn cao hơn 2,21 lần so với những BN được giải thích không rõ ràng (OR=2,21; p=0,006)
5 Kết luận
- Tuân thủ chế độ ăn hạn chế muối natri, chất béo (cholesterol và acid béo bão hòa): 40,4%
- Tuân thủ chế độ ăn liên quan có ý nghĩa thống kê với: kiến thức về bệnh và chế độ điều trị, được CBYT giải thích rõ về THA và nguy cơ
Chúng tôi khuyến nghị:
Bệnh nhân và gia đình Cần phải hiểu biết nhiều hơn nữa về bệnh Biết cách tránh và khắc phục những lí do đơn giản của việc không tuân thủ và những khó khăn trong thay đổi thói quen ăn uống
Cần tích cực tham gia sinh hoạt trong các tổ chức xã hội để có thêm thông tin về bệnh, chia sẻ những trải nghiệm về bệnh
Cán bộ y tế
Cần ghi và hướng dẫn cụ thể về chế độ ăn cho
BN mỗi lần tái khám để BN có thể nhớ thực hiện theo y lệnh
Nâng cao ý thức và kỹ năng tư vấn của CBYT cho BN
Cần lường trước được tỷ lệ tuân thủ thực sự không cao như mong muốn để chú trọng tới việc nhắc nhở BN tuân thủ điều trị
Xây dựng và củng cố mối quan hệ tốt giữa CBYT và BN để BN cảm thấy hài lòng và tin tưởng vào CBYT
Tổ chức tập huấn theo nhóm cho BN lúc bắt đầu điều trị
Trang 7Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
1 Bộ Y tế (2010) Quyết định số 3192/QĐ-BYT về việc ban
hành hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp Bộ Y
tế, 2010, Hà Nội.
2 Ninh Văn Đông (2010) Đánh giá sự tuân thủ điều trị của
bệnh nhân tăng huyết áp trên 60 tuổi tại phường Hàng Bông,
quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Thạc sĩ Y tế Công cộng, Trường
đại học Y tế Công cộng, Hà Nội.
3 Nguyễn Minh Phương (2011) Thực trạng tuân thủ điều trị
tăng huyết áp tại cộng đồng và các yếu tố liên quan của bệnh
nhân 25-60 tuổi ở 4 phường thành phố Hà Nội Thạc sĩ y tế
công cộng Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội.
4 Nguyễn Thị Thanh Hằng (2006), Tìm hiểu tuân thủ điều
trị của bệnh nhân tăng huyết áp tại cộng đồng, Bác sĩ đa
khoa, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội.
5 Vương Thị Hồng Hải (2007) "Đánh giá sự tuân thủ và
nhận thức về điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp điều trị
ngoại trú tại bệnh viện đa khoa Thái Nguyên" Tạp chí thông tin Y dược 12, tr 28-32.
Tiếng Anh
6 Ostchega Y & at el (2010) Hypertension awareness, treatment, and control-continued disparities in adults: United States, 2005-2006, CDC.
7 Patricia M.K and at el (2005) "Global burden of hypertension: analysis of worldwide data" Lancet 365, p 217-223.
8 Uzun S & et al (2009) The assessment of adherence of hypertension individuals to treatment and lifestyle change recommendations Anadolu Kardiyol Derg, p.102-09.
9 WHO (2003) Adherence to LongTerm Therapies -Evidence for Action WHO, Geneva, Switzerland, 211.
10 WHO (2009) Global health risks: mortality and burden
of disease attributable to selected major risks, WHO press, Geneva, Swetzerland, p.6-7.