1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Đánh giá kết quả tập huấn cha mẹ đối với tiến bộ về vận động thô trên 43 trẻ bại não tại Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh docx

6 670 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 281,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá kết quả tập huấn cha mẹ trẻ bại não đối với tiến bộ về vận động thô trên trẻ bại não tại Uông Bí.. Từ khóa: Bại não, vận động thô, GMFM, tập huấn

Trang 1

Bại não là một tình trạng khiếm khuyết mãn tính với hậu quả nặng nề ảnh hưởng tới đời sống của trẻ bại não Việc PHCN cho trẻ bại não đòi hỏi sự kiên trì của cha mẹ và gia đình Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá kết quả tập huấn cha mẹ trẻ bại não đối với tiến bộ về vận động thô trên trẻ bại não tại Uông Bí Phương pháp nghiên cứu là phương pháp can thiệp với cỡ mẫu là 43 trẻ bại não được phát hiện và chẩn đoán bởi các bác sỹ PHCN chuyên ngành trong tổng số trên 500 trẻ khuyết tật huyện Uông Bí Kết quả cho thấy 65,1% trẻ bại não có tiến bộ trong đó 41,9% trẻ có điểm vận động thô tăng từ 1-10% Trong những trẻ có tiến bộ, điểm vận động ở các mốc phát triển: nằm lẫy, ngồi, bò, quỳ, đứng, đi và chạy đều tăng lên sau can thiệp, cao nhất là mốc đi và chạy Đồng thời tỷ lệ trẻ có tiến bộ đạt cao nhất ở những trẻ đạt điểm vận động thô trên 80% trong đánh giá ban đầu

Từ khóa: Bại não, vận động thô, GMFM, tập huấn cha mẹ, phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

Result of parental training on the gross motor

improvement of 43 CP children

in Uong Bi district, Quang Ninh province

Nguyen Thi Minh Thuy (*), Nguyen Hien Nghia (**)

Cerebral Palsy (CP) is a chronic impairment that causes a heavy consequence affecting the life of cerebral palsied children Rehabilitation for CP children requires parents' patience The study aims

at assessing the result of parental training to the gross motor function of CP children in Uong Bi district, North of Viet Nam The study method is an intervention design with a sample size of 43 CP children identified in the house-to- house survey and diagnosed by national rehabilitation doctors The gross motor function was measured with GMFM scale at the beginning of the parental training and 9 months after that The result of study shows that 65,1% of CP children have been improved with gross motor function while 41,9% of CP children have GMFM to be increased from 1 to 10% Among the improved CP children, GMFM scores at milestones such as: Lying and crowning; sitting; crawling and kneeling; standing; walking and running have been increased after nine months with the highest one in walking and running On the other hand, the rate of children with the best GMFM

Đánh giá kết quả tập huấn cha mẹ đối với tiến bộ về vận động thô trên 43 trẻ bại não

tại Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh

Nguyễn Thị Minh Thủy (*), Nguyễn Hiền Nghĩa (**)

Trang 2

improvement was found among CP children with the GMFM scores over 80% at the beginning of assessment

Key words: Cerebral palsy, Gross motor function, GMFM, Parenting education, Community-Based Rehabilitation

Tác giả

(*): TS Nguyễn Thị Minh Thủy, Phó Trưởng Bộ môn Phục hồi chức năng, trường Đại học Y tế Công cộng ĐT: 04-62663242 - Fax: 04-62663238 - Email: ntmt@hsph.edu.vn or thuyntm@yahoo.com

(**): ThS Nguyễn Hiền Nghĩa, Giám Đốc Công ty lắp đặt và chuyển giao công nghệ thiết bị y tế (MTI) ĐT: 04-37667639 - Fax: 04-37676902 - Email: gianglong@fpt.vn

1 Đặt vấn đề

Bại não là một trong những tàn tật thường gặp

và gây hậu quả nặng nề nhất ở trẻ em Tỷ lệ mắc bại

não trong dân cư có sự thay đổi ở các quốc gia khác

nhau như ở Australia năm 1988 là 2,3/1000 trẻ đẻ ra

sống [13], ở Mỹ là 2,4/1000 trẻ đẻ ra sống [12] Tại

Việt Nam theo điều tra ở Hà Tây, tỷ lệ bại não là

1,89/1000 dân [9], điều tra tại Khánh Hoà thấy tỷ lệ

trẻ bại não là 0,6/1000 dân [8] Trẻ bại não bị rối

loạn vận động là chính và thường kèm theo các tàn

tật khác như chậm phát triển trí tuệ, động kinh

Những tổn thương này gây ảnh hưởng rất nặng nề

đến cuộc sống làm cho trẻ gặp rất nhiều khó khăn

trong di chuyển, tự chăm sóc bản thân, tốn công sức

và gây phiền toái cho người thân trong gia đình

Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng là giải

pháp cung cấp dịch vụ phục hồi chức năng (PHCN)

phù hợp nhất hiện nay Một nghiên cứu tại Trung

Quốc cho thấy phục hồi chức năng cho người tàn tật

tại cộng đồng giúp 90% người có khó khăn về vận

động có tiến bộ sau 2 năm [11] Tại Vĩnh Phúc

59,2% người tàn tật hoà nhập xã hội sau 3 năm [6]

Tại Hà Tây, 90,8 % người tàn tật có tiến bộ về chức

năng sau 5 năm và có 30% trẻ bại não hoà nhập xã

hội sau 2 năm [9] Trong PHCN dựa vào cộng đồng,

huấn luyện trang bị kiến thức và kỹ năng về phục

hồi chức năng cho các thành viên trong gia đình đặc

biệt là người chăm sóc người khuyết tật, để từ đó gia

đình tập luyện cho người khuyết tật được đặc biệt

chú ý Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu đề cập đến vấn

đề này Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên

cứu: "Đánh giá kết quả tập huấn cha mẹ đối với tiến bộ về vận động thô trên 43 trẻ bại não tại Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh"

2 Phương pháp nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

43 trẻ bại não tuổi từ 6 tháng đến 16 tuổi cư trú trong địa bàn huyện Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu là nghiên cứu can thiệp có

so sánh trước - sau

Cỡ mẫu và cách chọn: Toàn thể 43 trẻ bại não được phát hiện trong điều tra 521 trẻ khuyết tật <16 tuổi huyện Uông Bí Những trẻ này được các bác sỹ chuyên ngành PHCN của bệnh viện Bạch Mai khám phát hiện

Tiêu chuẩn chẩn đoán bại não: (1) có rối loạn vận động là hậu quả của tổn thương thần kinh trung ương nhưng không phải là một bệnh tiến triển; (4) rối loạn này xuất hiện ngay sau khi sinh cho đến khi trẻ 5 tuổi

Định nghĩa và phương pháp đánh giá sử dụng trong nghiên cứu:

- Định nghĩa bại não: Bại não là một tình trạng rối loạn thần kinh trung ương không tiến triển gây

ra do nhiều nguyên nhân, ảnh hưởng vào giai đoạn trước khi sinh, trong khi sinh và sau khi sinh đến 5 tuổi với hậu quả biến thiên bao gồm các bất thường về vận động, giác quan, tâm thần và hành vi

Trang 3

- Phương pháp đánh giá chức năng vận động

thô: nghiên cứu sử dụng thang đánh giá vận động

thô (GMFM) của Rusell và cộng sự được sử dụng

năm 1993 nhằm đánh giá khả năng vận động thô

cho trẻ bình thường và trẻ khó khăn vận động Bảng

đánh giá này gồm 88 mục trong đó có nhiều mục

đánh giá cần các chuyên gia đánh giá chuyên

ngành, do vậy nhóm nghiên cứu đã chọn lựa các

mục dễ thực hiện đánh giá tại cộng đồng đồng thời

vẫn đảm bảo được những giá trị của các mục đánh

giá trong sự phát triển vận động Kết quả là 35 mục

đã được lựa chọn thuộc 5 lĩnh vực vận động thô khác

nhau là nằm và lẫy (A), ngồi (B), bò và quỳ (C),

đứng (D), đi, chạy và nhảy (E) Mỗi mục này được

đánh giá thành 4 mức:

+ Mức 0: Không thể thực hiện được hoạt động

+ Mức 1: Bắt đầu thực hiện hoạt động (<10%)

+ Mức 2: Thực hiện được một phần hoạt động

(10-90%)

+ Mức 3: Thực hiện được hoàn toàn hoạt động

(>90%)

Cách tính điểm GMFM như sau: cho điểm từng

mục, sau đó cộng tổng điểm của các mục trong từng

lĩnh vực chia cho tổng số điểm của các mục trong

lĩnh vực đó để tìm được tỷ lệ phần trăm của từng

lĩnh vực

- Tập huấn cha mẹ: Người chăm sóc chính trẻ

bại não (chủ yếu là mẹ) được các chuyên gia PHCN

bệnh viện Bạch Mai và Viện Nhi Quốc gia tập huấn

các kỹ thuật tạo thuận đơn giản của Bobath và các

kỹ thuật tập vận động cho trẻ theo hướng dẫn của

TCYTTG Tập huấn diễn ra một tuần trong đó các

bà mẹ được chia làm nhiều nhóm nhỏ (khoảng 3

người) theo mức độ vận động của con Các bà mẹ

luân phiên mang con của mình đến lớp tập huấn và

việc thực hành đánh giá cũng như kỹ thuật PHCN

được hướng dẫn ngay tại lớp Do vậy, các bà mẹ đều

được chuyên gia PHCN tư vấn và học được cách tập

vận động con mình

Cách thu thập số liệu: Các thông tin về trẻ bại

não được các bác sỹ chuyên ngành PHCN khám và

chẩn đoán Đo chức năng vận động thô trước và 9

tháng sau khi can thiệp do một kỹ thuật viên

VLTL-PHCN huyện Uông Bí đảm nhận

- Xử lý kết quả nghiên cứu: Kết quả nghiên cứu

được nhập vào máy vi tính bằng phần mềm EPI

DATA và được xử lý bằng chương trình SPSS

3 Kết quả nghiên cứu

Kết quả can thiệp cho thấy trẻ bại não có tiến bộ về vận động thô là 65,1%

Biểu đồ 1 Kết quả tiến bộ về vận động thô trước và

sau can thiệp

Bảng 1 Điểm trung bình về vận động thô trước và

sau khi can thiệp

Biểu đồ 2 Tỷ lệ mức độ tiến bộ về vận động thô

chung so với trước khi can thiệp

Trang 4

Điểm trung bình vận động thô của trẻ bại não 9

tháng sau khi tập huấn cha mẹ tăng ở tất cả các lĩnh

vực vận động và cả vận động chung, sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê p<0,05

Mức độ tiến bộ vận động thô 1-10 % so với trước

can thiệp có tỷ lệ cao nhất 41,9%, mức độ tiến bộ

trên 20% có tỷ lệ tiến bộ thấp nhất 7% Sự khác biệt

giữa các mức độ tiến bộ có ý nghĩa thống kê p < 0,05

Mức độ tiến bộ từ 11 - 20% so với trước can

thiệp có tỷ lệ cao nhất trong đa số các mốc phát

triển vận động Mốc ngồi tiến bộ dưới 10% có tỷ lệ

cao nhất là 14%

Mức vận động thô của trẻ bại não trên 80% có

tỷ lệ tiến bộ cao nhất 39,3% Sự khác biệt so với các

mức khác không có ý nghĩa thống kê p>0,05

4 Bàn luận

Tỷ lệ trẻ bại não qua nghiên cứu chiếm 8,3%

trong tổng số trẻ khuyết tật tại thị xã Uông Bí,

Quảng Ninh Tỷ lệ này thấp hơn rất nhiều so với tỷ

lệ đã được công bố tại Khánh Hoà là 25,1% trên

tổng số trẻ khuyết tật [8] Nguyên nhân có thể là do

quan niệm về khuyết tật trong nghiên cứu đã dẫn đến tỷ lệ khuyết tật ở trẻ em tại hai vùng khác nhau Trong nghiên cứu tại Khánh Hoà, tỷ lệ trẻ khuyết tật chỉ chiếm khoảng 0,24% dân số, bằng 1/12 tỷ lệ trẻ khuyết tật tại Uông Bí (khoảng 3%) Điều này có thể do điều tra tại Khánh Hoà đã bỏ qua nhiều trẻ khuyết tật mức độ vừa và nhẹ, dẫn đến tỷ lệ bại não trong tổng số trẻ khuyết tật rất cao (trẻ bại não thường là trẻ khuyết tật nặng)

Sau khi cha mẹ được tập huấn cách tập luyện cho trẻ, cả 43 trẻ bại não được PHCN tại nhà Kết quả cho thấy sau 9 tháng, số trẻ được phục hồi về khả năng vận động thô so với trước can thiệp là 28 (chiếm 60,5%) Điểm trung bình vận động thô của trẻ bại não (điểm GMFM) sau 9 tháng đã tăng lên đáng kể từ 55,9+35,1 điểm lên 62,0+36,6 điểm (Bảng 1) Mức độ tiến bộ vận động thô so với trước can thiệp của trẻ bại não thường gặp là tiến bộ với số điểm vận động thô tăng từ 1 -10%, chiếm tỷ lệ 41,9%, mức độ tiến bộ tăng trên 20% chỉ có tỷ lệ 7%, sự khác biệt giữa các mức có ý nghĩa thống kê p<0,05 (Biểu đồ 3) Điểm trung bình theo các mốc phát triển cũng tăng lên sau can thiệp, trong đó tăng cao nhất là mốc vận động đi và chạy với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p<0,05 (Bảng 2)

Kết quả trên chứng minh rằng khi trẻ bại não được tập luyện PHCN đúng phương pháp và thường xuyên sẽ có tiến bộ về vận động Điểm trung bình về vận động thô có tăng lên nhưng chưa được cao (mặc dù kết quả vẫn cho thấy sự thay đổi có ý nghĩa) và mức tiến bộ về vận động so với trước can thiệp cũng chưa cao Điều này là do thời gian đánh giá can thiệp ngắn trong khi khiếm khuyết ở trẻ bại não là mãn tính và hậu quả nặng nề Do vậy kết quả đạt được như vậy đã là rất đáng khích lệ Kết quả PHCN cho trẻ bại não của một số nghiên cứu khác như sau: nghiên cứu của Lê Các và cộng sự tại Điện Bàn có kết quả tiến bộ phục hồi sau 2 năm tập luyện là: vận động (51-71%), sinh hoạt (66,5-73,5%), giao tiếp (46,1-79,3%) và hoà nhập (56,7-81,6%) tuỳ theo nhóm tuổi [2] Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Phúc và cộng sự tại Thừa Thiên Huế có kết quả gần 60% trẻ bại não được phục hồi có tiến bộ, trong đó có khoảng 14% có tiến bộ rõ rệt [6] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Thuỷ tại Hà Tây có kết quả 30% trẻ bại não có khả năng hoà nhập xã hội và hầu hết trẻ bại não có tiến bộ về vận động sau 2 năm phục hồi bằng phương pháp PHCNDVCĐ [9] Những kết quả này, nếu tương ứng về thời gian, hoàn toàn phù

Nằm, lẫy Ngồi Bò, quỳ Đứng Đi, chạy

Mức tiến

bộ SL % SL % SL % SL % SL %

Không

tiến bộ 33 76,7 30 69,8 30 69,8 28 65,1 23 53,5

Từ 1-10 % 4 9,3 6 14,0 3 7,0 1 2,3 4 9,3

Từ 11-20 % 5 11,6 5 11,6 6 14,0 10 23,3 11 25,6

Trên 20 % 1 2,3 2 4,7 4 9,3 4 9,3 5 11,6

Tổng 43 100 43 100 43 100 43 100 43 100

Bảng 2 Mức tiến bộ về vận động thô theo các mốc

phát triển sau khi can thiệp

Bảng 3 Phân bố số trẻ bại não có tiến bộ trước và

sau khi can thiệp theo mức vận động thô

Trang 5

hợp với kết quả thu được trong nghiên cứu của

chúng tôi

Theo một số tác giả khác nghiên cứu về PHCN

cho nhóm khó khăn vận động thì cho kết quả cao

hơn trong nghiên cứu của chúng tôi Nghiên cứu

của tác giả Trần Trọng Hải thì tỷ lệ tiến bộ của

nhóm KKVĐ sau 3 năm phục hồi là 91,8% [5], của

tác giả Cao Minh Châu và cộng sự là 90% [4], của

tác giả Lê Văn Cấp tại Hoà Bình tỷ lệ tiến bộ sau 8

tháng phục hồi là 79% [3] Sự khác biệt về kết quả

với nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn có thể là do

đối tượng trong các nghiên cứu trên có những trẻ

không phải bị bại não mà bị những dạng tật nhẹ hơn

như bại liệt, bàn chân khoèo Những trẻ này

thường không có các khiếm khuyết khác kèm theo

như động kinh, chậm phát triển tinh thần nên khả

năng PHCN có thể tốt hơn

Tiến bộ về khả năng vận động thô của trẻ bại

não có sự khác nhau giữa các trẻ có mức vận động

khác nhau Với trẻ mà điểm vận động thô chỉ đạt

dưới 20% có tỷ lệ tiến bộ 17,9% Điều này cũng là

dễ hiểu vì những trẻ bại não có mức vận động thô

thấp là trẻ có tổn thương về vận động rất nặng Hơn

nữa, ở những trẻ này còn có nhiều tổn thương phối

hợp gây nên những tàn tật phối hợp khác như: khó

khăn nghe nói, khó khăn về học, động kinh Với

những trẻ như vậy, cần được tiến hành phục hồi và

chăm sóc lâu dài mới có thể có kết quả được Với

trẻ có điểm vận động thô từ 20 đến dưới 50%, tỷ lệ

có tiến bộ cũng không cao (25 %) Ở mức vận động

này, tiến bộ trong phục hồi cũng phụ thuộc vào tình

trạng vận động của trẻ Vận động của trẻ trong

nhóm này là tốt hơn nhóm trẻ có mức vận động từ

0 đến dưới 20% Trẻ ở nhóm này đã có thể ngồi

hoặc di chuyển bằng cách bò Tập luyện phục hồi

của NCST là hỗ trợ cho trẻ các động tác mà trẻ

đang và cố gắng thực hiện như ngồi, bò Ở những

trẻ có mức vận động này cần được tập để trẻ hình

thành được các động tác bền vững lâu dài tạo điều

kiện cho trẻ thực hiện các động tác tiếp theo Điểm

vận động thô của trẻ đạt từ 50 đến dưới 80% có tỷ

lệ tiến bộ vận động cũng thấp (17,9%) Ở mức này

tương đương mức vận động quỳ và đứng của trẻ đây là những mức vận động tương đối khó khăn ở trẻ tàn tật vì ở mức vận động này của trẻ khi thực hiện động tác trẻ phải nâng cả trọng lượng của mình Vì thế, để thực hiện được động tác trẻ cần phải cố gắng rất nhiều Ngay cả trẻ bình thường mức độ tiến bộ từ động tác thấp đến cao cũng đòi hỏi phải có thời gian và có sự trợ giúp của người khác Cho nên ở trẻ bại não do có khó khăn về vận động thì cần phải có sự cố gắng và trợ giúp tối đa mới có thể thực hiện được các động tác ở mức cao hơn Điểm vận động thô của trẻ từ 80% trở lên có mức tiến bộ vận động cao nhất (39,3%) Đây là điều hợp lý vì trẻ có mức vận động này tương đương với trẻ có thể đi, chạy và nhảy Trẻ đã có thể di chuyển được khỏi vị trí của mình bằng chân, có thể làm được các động tác bằng tay Tập luyện phục hồi để giúp cho trẻ thực hiện được khả năng di chuyển từ thấp đến cao và phải làm từng bước một Đối với trẻ có mức vận động cao cần được tập luyện thường xuyên đúng cách để trẻ có thể đạt được khả năng vận động như trẻ bình thường, tránh được các khuyết tật khi trẻ trưởng thành Cần cung cấp và chế tạo cho trẻ những dụng cụ hỗ trợ di chuyển và tập luyện như khung song song, nạng, nẹp để hỗ trợ cho trẻ đứng được và tập

đi Kết quả phục hồi tiến bộ về vận động cho trẻ bại não là kết quả sự vận dụng sáng tạo nguyên lý kích thích và vận động của các kỹ thuật PHCN gắn liền với các điều kiện sinh hoạt, môi trường sống với con người và đồ vật ngay tại cộng đồng nơi trẻ sống Đây chính là cơ sở thực tiễn của PHCNDVCĐ mà chúng tôi đã áp dụng để tập luyện cho trẻ bại não

Tóm lại, sau 9 tháng tập huấn cha mẹ về cách tập luyện PHCN cho cha mẹ trẻ bại não, trên 60% trẻ có tiến bộ về vận động thô Số trẻ có điểm vận động thô tăng từ 1-10% chiếm tỷ lệ cao nhất (41,9%) Trong những trẻ có tiến bộ, điểm vận động

ở các mốc phát triển: nằm lẫy, ngồi, bò, quỳ, đứng,

đi và chạy đều tăng lên sau can thiệp, trong đó cao nhất là mốc đi và chạy Đồng thời tỷ lệ trẻ có tiến bộ đạt cao nhất ở những trẻ đạt điểm vận động thô trên 80% trong đánh giá ban đầu

Trang 6

Tài liệu tham khảo

Tiếng Việt

1 Bộ Y tế - Chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng

đồng (1998) Huấn luyện người tàn tật tại cộng đồng NXB

Y học, Hà Nội 8-11.

2 Lê Các, Đỗ Thị Thanh, Huỳnh Công Vinh (1997) Nhận

xét sơ bộ nguyên nhân bại não và đánh giá hiệu quả phục

hồi chức năng dựa vào cộng đồng ở trẻ bại não tại huyện

Điện Bàn Tạp chí y học thực hành, Kỷ yếu công trình nhi

khoa, NXB Y học, Hà Nội 107-108

3 Lê Văn Cấp (2001) Nghiên cứu can thiệp cải thiện tình

trạng tàn tật cho trẻ khó khăn về vận động tại cộng đồng

Huyện Lương Sơn - Hoà Bình Luận văn thạc sỹ y tế công

cộng, Đại học y tế công cộng, 57- 72

4 Cao Minh Châu, Nguyễn Xuân Nguyên, Trần Văn

Chương (1992), Kết quả bước đầu về phục hồi chức năng dựa

vào cộng đồng, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học,

Bệnh viện Bạch Mai, 172-174

5 Trần Trọng Hải (1996) Nghiên cứu một số yếu tố đào tạo

nhân lực cộng đồng và gia đình trong chương trình

PHCNDVCĐ cho trẻ tàn tật Luận án phó tiến sỹ, Trường

Đại học Y Hà Nội, 4-8, 89-94

6 Nguyễn Văn Lý (2001) Kết quả bước đầu triển khai và

thực hiện chương trình PHCNDVCĐ tỉnh Vĩnh Phúc giai

đoạn 1997 – 2000 Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học

- Hội phục hồi chức năng Việt Nam, số 7, NXB Y Học, Hà

Nội, 119-124

7 Nguyễn Hồng Phúc, Đoàn Thị Minh Xuân và cộng sự

(2001) Tình hình và kết quả PHCN tại Trung tâm PHCN trẻ

tàn tật Thừa Thiên Huế 5 năm 1996-2000 Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Hội phục hồi chức năng Việt Nam, Số

7, NXB Y học, Hà nội, 52-160

8 Hoàng Trung Thông (2001) Tình hình trẻ em bại não tại tỉnh Khánh Hoà Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Hội phục hồi chức năng Việt Nam, Số 7, NXB Y học, Hà nội, 277-281

9 Nguyễn Minh Thuỷ (2004) Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bại não và đánh giá hiệu quả của một số biện pháp phục hồi chức năng cho trẻ bại não tại cộng đồng tỉnh Hà Tây Luận án Tiến sỹ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 91-100

10 Nguyễn Thị Minh Thuỷ (2001) Phục hồi chức năng cho trẻ bại não Báo cáo chuyên đề luận văn tiến sỹ, Trường Đại học Y Hà Nội, 10 - 30

Tiếng Anh

11 Baolin C, Huang G (1999) Primary health care and community-based rehabilitation in the Peoples Republic of China Disability and rehabilitation, 21, pp 479 – 483

12 Murphy C.C; Yaergin-Allsopp-M; Deccouple-P;

Drews-CD (1993) Prevalence of cerebral palsy among ten-year-old children in meppopolitan Atlanta, 1985 through 1987 Journal of Pediatrics, pp 123 -127

13 Stanley F.J, Blair E, Hockey A, Peterson B, Watson L (1993) Spastic quadriplegia in Western Australia: Agenertic epidemiological study I case population and perinatal risk factor Developmental medicine and child neurology, 35 (3), pp 191-201

Ngày đăng: 21/03/2014, 00:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Điểm trung bình về vận động thô trước và - Đánh giá kết quả tập huấn cha mẹ đối với tiến bộ về vận động thô trên 43 trẻ bại não tại Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh docx
Bảng 1. Điểm trung bình về vận động thô trước và (Trang 3)
Bảng 2. Mức tiến bộ về vận động thô theo các mốc - Đánh giá kết quả tập huấn cha mẹ đối với tiến bộ về vận động thô trên 43 trẻ bại não tại Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh docx
Bảng 2. Mức tiến bộ về vận động thô theo các mốc (Trang 4)
Bảng 3. Phân bố số trẻ bại não có tiến bộ trước và - Đánh giá kết quả tập huấn cha mẹ đối với tiến bộ về vận động thô trên 43 trẻ bại não tại Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh docx
Bảng 3. Phân bố số trẻ bại não có tiến bộ trước và (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w