Kiến nghị cho giai đoạn can thiệp bao gồm tăng cường kiến thức cho phụ nữ có thai, về dự phòng các yếu tố nguy cơ của CNTC, tập huấn cho các cán bộ y tế về tư vấn phụ nữ nhận thức khám t
Trang 11 Đặt vấn đề
Chửa ngoài tử cung (CNTC) là trường hợp trứng
được thụ tinh và làm tổ ở ngoài tử cung1 Trứng
thường được thụ tinh ở 1/3 ngoài của vòi trứng, rồi
di chuyển về buồng tử cung Nếu trứng không di
chuyển, hoặc di chuyển về hướng tử cung rồi dừng lại giữa đường, hoặc bị đẩy ra ngoài vòi trứng để làm tổ tại buồng trứng hay trong ổ bụng, sẽ gây ra chửa ngoài tử cung2,3
Kết quả điều tra ban đầu về chửa ngoài
tử cung ở địa bàn huyện Chí Linh,
tỉnh Hải Dương năm 2005
TS Bùi Thu Hà; ThS Lê Minh Thi;
ThS Vũ Hưng Hiếu; BS Dương Kim Tuấn
Chửa ngoài tử cung (CNTC) là trường hợp trứng được thụ tinh và làm tổ ở ngoài tử cung.Tỷ lệ mới mắc CNTC có xu hướng tăng lên trên toàn thế giới Đây là báo cáo ban đầu (7-12/2005) thực hiện tại Chí Linh, Hải Dương nhằm xác định kiến thức, thái độ và thực hành của phụ nữ và cán bộ y tế về CNTC Thiết kế nghiên cứu gồm điều tra cộng đồng đối với phụ nữ có chồng dưới 49 tuổi, các cán bộ y tế từ cấp thôn đến cấp huyện và nghiên cứu định tính Các kết quả được phân tích theo mô hình Preceed-Procede Kết quả cho thấy về yếu tố khuynh hướng, phụ nữ có chồng có kiến thức về sự nguy hiểm của CNTC Các yếu tố cho phép khảo sát kiến thức-thực hành của cán bộ y tế cho thấy kiến thức của cán bộ y tế còn chưa tốt Các yếu tố tăng cường về sử dụng các phương tiện hỗ trợ cũng còn hạn chế Các yếu tố nguy cơ liên quan đến CNTC trong nghiên cứu là tiền sử viêm nhiễm đường sinh dục, tiền sử nạo phá thai và tiền sử đặt vòng Kiến nghị cho giai đoạn can thiệp bao gồm tăng cường kiến thức cho phụ nữ có thai, về dự phòng các yếu tố nguy cơ của CNTC, tập huấn cho các cán bộ y tế về tư vấn phụ nữ nhận thức khám thai sớm cũng như có các thực hành sử dụng phương tiện hỗ trợ và xử trí kịp thời CNTC nhằm giảm tỷ lệ CNTC vỡ
Từ khóa: Chửa ngoài tử cung, viêm nhiễm đường sinh dục, nạo phá thai
Ectopic pregnancy is the implantation of a pregnancy outside the uterine cavity The incidence of ectopic pregnancy (EP), an important cause of maternal morbidity and mortality, has increased This
is a baseline survey (7-10/2005) which was conducted in Chi Linh district, Hai Duong province The objectives are to identify KAP of women and health providers related to EP Study designs including
2 methods: survey with married women under 49 and health providers at different levels; and a qual-itative study Results are analyzed according to Preceed-Procede model Regarding predisposing fac-tor, women have knowledge on severity of EP However, KAP of health providers on EP is poor Limited enabling factor in using technical tools (such as quick stick) is found Risk factors relating
to EP found in the study include history of reproductive tract infection and abortion, and IUD inser-tion history Recommendainser-tions for interveninser-tion are to improve knowledge for pregnant women to prevent EP risk factors, and to train health providers in EP counseling and to practice technical tools
in order to treat EP patients properly and reduce ruptured EP rate in the community.
Key words: Ectopic pregnancy, reproductive tract infection, abortion.
Trang 2Tỷ lệ mới mắc CNTC có xu hướng tăng lên trên
toàn thế giới CNTC là một trong những nguyên
nhân chính của bệnh tật và tử vong ở phụ nữ trong
lứa tuổi sinh sản, chiếm tới 9% tử vong ở phụ nữ có
thai trong vòng 3 tháng đầu4,5 Ở Việt Nam, CNTC
là một biến chứng nguy hiểm gây ra tử vong cao, đặc
biệt khi điều kiện giao thông và thông tin còn nghèo
nàn Mổ cấp cứu là giải pháp chính hiện nay6,7,8
Huyện Chí Linh bao gồm 17 xã và 3 thị trấn
Trong vòng 3 năm (2002-2004), hàng năm bình
quân có 5-6 bệnh nhân chửa ngoài tử cung nhập
viện (bệnh viện huyện) do băng huyết, vỡ CNTC
Tỷ lệ CNTC hiện nay là khoảng 0.22% Đại đa số
các ca CNTC nhập viện muộn (vỡ, băng huyết,
sốc) và bệnh viện chỉ có khả năng mổ cấp cứu Cho
đến nay, trên địa bàn Chí Linh chưa có một nghiên
cứu nào về tình hình CNTC trong cộng đồng phụ nữ
tuổi sinh đẻ, nghiên cứu các yếu tố nguy cơ gây
CNTC, lý do vì sao hầu hết các trường hợp CNTC
đều đến muộn, các giải pháp có thể giúp phát hiện
và xử trí sớm CNTC, tiến tới hạn chế CNTC trên
địa bàn Vì những lý do đó chúng tôi chọn đề tài
nghiên cứu can thiệp nhằm tăng tỷ lệ chẩn đoán
sớm CNTC tại Chí Linh (CHILILAB)
Giả thuyết đặt ra là nếu như kiến thức và kỹ
năng của cán bộ y tế tại địa bàn CHILILAB tốt hơn
trong vấn đề quản lý thai nghén, thì tỷ lệ chẩn đoán
sớm CNTC sẽ được tăng lên Tương tự như thế, nếu
như kiến thức, thái độ và thực hành về khám thai
và xử trí CNTC của phụ nữ có thai tốt hơn thì họ sẽ
đến các cơ sở y tế sớm hơn, tỷ lệ chẩn đoán sớm
CNTC sẽ tăng lên Mục tiêu của can thiệp này là
làm giảm tỷ lệ CNTC vỡ nhập viện, tăng tỷ lệ chẩn
đoán sớm CNTC tại địa bàn CHILILAB(4 xã và 3
thị trấn của huyện) nhằm giảm tỷ lệ tai biến tử
vong và các tai biến khác của phụ nữ có thai
Nghiên cứu này gồm 3 giai đoạn: điều tra ban đầu,
can thiệp và đánh giá Trong khuôn khổ của báo
cáo này, chúng tôi xin khu trú vào kết quả của
nghiên cứu ban đầu trong giai đoạn 7-10/2005
Mục tiêu cụ thể của giai đoạn nghiên cứu ban
đầu như sau:
Xác định kiến thức, thái độ và thực hành của
phụ nữ và cán bộ y tế liên quan đến chửa ngoài tử
cung ở địa bàn CHILILAB
2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu giai đoạn 1 (điều tra ban đầu) trong
thời gian từ tháng 7-10/2005 tại địa bàn CHILILAB,
Chí Linh Hải Dương
Nghiên cứu được thực hiện gồm 2 phương pháp:
(1) thiết kế nghiên cứu định tính gồm phỏng vấn sâu
5 phụ nữ từng mắc CNTC và 2 thảo luận nhóm với cán bộ y tế nhằm tìm hiểu thông tin ban đầu và làm
cơ sở xây dựng bộ công cụ định lượng điều tra cộng đồng (2) điều tra mô tả cắt ngang dùng bảng hỏi có cấu trúc đối với 998 phụ nữ có chồng 15-49 tuổi và
129 cán bộ y tế từ tuyến huyện đến tuyến thôn nhằm mục đích tìm hiểu kiến thức, thái độ và thực hành của hai đối tượng trên liên quan đến khám thai sớm và CNTC
Chọn mẫu:
Phụ nữ có chồng 49 tuổi: Theo công thức tính
cỡ mẫu so sánh hai tỷ lệ nghiên cứu, với giả thuyết rằng P1 là tỷ lệ chẩn đoán muộn chửa ngoài tử cung trước can thiệp bằng 0.18% (tỷ lệ CNTC tại cộng đồng theo giáo sư Dương Thị Cương, 2002) và giả thuyết là P2 là tỷ lệ chẩn đoán muộn chửa ngoài tử cung sau can thiệp bằng 0.12%, tỷ lệ đáp ứng là 80%, tổng số người cần thiết là 500 Tuy nhiên, để tăng độ tin cây, chúng tôi lựa chọn 1000 phụ nữ trong diện điều tra Dựa trên danh sách có chồng 49 tuổi trong địa bàn CHILILAB đã lựa chọn 1000 phụ nữ thuộc đối tượng nghiên cứu dựa vào cách lấy mẫu ngẫu nhiên đơn từ phần mềm SPSS Thực tế, chỉ có 998 phụ nữ tham gia vào phỏng vấn
Cán bộ y tế: toàn bộ số cán bộ y tế từ cấp huyện
đến thôn bản, có 129 người tham gia vào nghiên cứu Bộ câu hỏi định lượng được xây dựng trên mô hình Proceed-Precede.Mô hình này là một mô hình về thay đổi hành vi, được sử dụng rất nhiều trong các can thiệp với 3 cấu phần là (1) yếu tố khuynh hướng /predisposing, (2) yếu tố cho phép /enabling
ví dụ kiến thức về CNTC và cách xử trí về CNTC, và (3) yếu tố tăng cường /reinforcing như tư vấn, phản hồi về dấu hiệu nguy hiểm khi khám thai Mô hình này cho phép chúng ta có thể kết hợp xem xét được hành vi của các cán bộ y tế ở tuyến huyện, xã và thôn bản với hành vi của phụ nữ trong việc khám thai sớm và xử trí liên quan đến CNTC Bộ công cụ nghiên cứu và các can thiệp sẽ được thiết kế dựa trên khung lý thuyết trên Các yếu tố này được nghiên cứu ở phía cán bộ y tế và phía người phụ nữ có chồng 49 tuổi tại địa bàn CHILILAB
Số liệu phân tích định lượng được xử lý bằng phần mềm nhập Epi info và phần mềm phân tích SPSS Số liệu định tính được gỡ băng, phân tích và
Trang 3sử dụng cho thiết kế câu hỏi định lượng cũng như
báo cáo trường hợp
3 Kết quả nghiên cứu
3.1.Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu:
3.1.1 Phụ nữ có chồng dưới 49 tuổi:
Có tổng số 998 phụ nữ tham gia vào nghiên cứu
Trong đó chủ yếu là phụ nữ ở lứa tuổi 25-34 và
35-44 tuổi (35,9% và 35,0%) Có một số ít phụ nữ trẻ
ở lứa tuổi 18-24 (8,7%) và ở lứa tuổi lớn hơn (45
tuổi) là 20,1% Đại đa số phụ nữ có trình độ văn hóa
là phổ thông cơ sở (cấp II) Một số ít có trình độ
khác như cấp I và cấp III là khoảng 16.0% Rất ít
người có trình độ trung cấp, đại học và sau đại học
(2-4%)
3.1.2.Tiền sử bệnh của phụ nữ:
Số lần nạo hút thai cũng dao động Có khoảng
một nửa số phụ nữ không nạo hút bao giờ (45,8%),
và khoảng một phần tư (27,4%) có ít nhất một lần
nạo hút thai Trong số 998 phụ nữ có 24 người đã
từng bị CNTC chiếm tỷ lệ 2,4% Có 26% số phụ nữ
đã từng bị viêm nhiễm phụ khoa, nhưng chỉ có
83,3% trong số đó có tiến hành điều trị Trong số
những người bị viêm nhiễm, có người bị 1 - 2 lần
chiếm tỷ lệ là 22,1% và số người bị từ 3 lần trở lên
chiếm tỷ lệ là 3,8% Chỉ có một số rất ít (1,7%) có
u nang buồng trứng và có tiền sử mổ ruột thừa
(3,0%) Tổng số người có tiền sử mổ vùng bụng rất
ít (3,4%) Chỉ có 1,8% có tiền sử điều trị vô sinh và
không có ai hút thuốc lá
3.1.3 Cán bộ y tế: Cán bộ y tế tham gia nghiên
cứu được phân thành 3 tuyến: huyện, xã, thôn, bản
Trong đó cán bộ y tế thôn bản chiếm tỷ lệ lớn nhất
72 người (55,8%), cán bộ trạm y tế xã 35 người
(27,1%) và cán bộ tuyến huyện 22 người (17,1%)
Trình độ học vấn: trình độ đại học cao nhất ở
tuyến huyện, với số bác sỹ chiếm tỷ lệ là 60,0%, sau
đó là tuyến xã (40,0%) Trình độ cao đẳng chỉ có ở
tuyến xã Trình độ sơ /trung cấp cao nhất ở tuyến
thôn bản (54,6%), sau đó là tuyến xã (28,9%) và
tuyến huyện (16,5%)
3.2 Các yếu tố liên quan đến khám thai
sớm theo mô hình Preceed- Procede:
3.2.1.Khám thai sớm
3.2.1.1 Các yếu tố khuynh hướng liên quan đến
khám thai sớm:
Quan niệm của phụ nữ có chồng về sự cần thiết phải đi khám thai sớm tương đối tốt Khi hỏi về sự cần thiết phải đi khám thai sớm, có tới 88,1% số phụ nữ cho rằng cần phải đi khám thai càng sớm càng tốt Đặc biệt khi có các dấu hiệu nguy hiểm (chảy máu, đau bụng v.v) thì có tới 98,0% cho rằng cần phải đi khám thai ngay Nhận thức về sự cần thiết
đi khám thai của CBYT cũng tương đối tốt ở cả ba tuyến Khi được hỏi về sự cần thiết đi khám thai của CBYT thì tất cả các cán bộ đều trả lời là phải đi khám thai nhưng ở các thời điểm khác nhau Kết quả này cũng tương tự như kết quả thảo luận nhóm cán bộ y tế Các cán bộ y tế tuyến xã và thôn trả lời phụ nữ đi khám sớm ngay khi phát hiện có thai trong khi cán bộ y tế tuyến huyện chỉ trả lời chung chung là khám thai 3 lần trong thời kì mang thai
3.2.1.2 Các yếu tố cho phép liên quan đến khám thai sớm
Khi hỏi về thời điểm nên đi khám thai lần đầu, có 21,6% số phụ nữ cho rằng cần phải đi khám thai ngay trong tháng đầu, nhưng có tới quá nửa (59,5%) số phụ nữ lại cho rằng nên đi khám thai lần đầu trong vòng 2-3 tháng đầu Chỉ có một số ít (7,5%) quan niệm rằng nên đi khám thai lần đầu vào 3 tháng giữa hoặc chỉ có một số rất ít (0,7%) cho rằng nên đi khám thai vào 3 tháng cuối
Thực hành khám thai của phụ nữ có chồng:
Có 70,7% số phụ nữ có đi khám thai trong lần có thai vừa qua Trong đó chỉ có 6,7% là đi khám một lần, 12,5% là khám hai lần và có khoảng một nửa (49,0%) là khám từ 3 lần trở lên Trong số những người đi khám thai có 12,9% phụ nữ là khám thai trong tháng đầu, khoảng 43,8% khám thai trong 2-3 tháng đầu, và số còn lại là khám muộn hơn
Nhận thức về dấu hiệu bất thường khi có thai của PNCC
Đau bụng là triệu chứng chính cần phải quan tâm đến (42,0%), sau đó là buồn nôn (41,5%) và chảy máu /ra huyết (19,2%) Tuy nhiên chỉ có 1,5% số phụ nữ là nêu được hai triệu chứng đồng thời là chảy máu và đau bụng mà thôi
Dấu hiệu được nhiều cán bộ biết đến nhất là ra huyết, sau đó là đau bụng, choáng và buồn nôn Tỷ lệ kể được nhiều dấu hiệu nhất là cán bộ làm ở trạm
y tế xã, sau đó là cán bộ y tế thôn bản và cuối cùng mới là cán bộ tuyến huyện
Thực hành của phụ nữ về các triệu chứng bất thường khi có thai:
Trang 4Trong số các phụ nữ có triệu chứng bất thường
trong lần có thai vừa qua (n=224) thì có tới 42% có
biểu hiện đau bụng/buồn nôn, nôn Biểu hiện ra
máu/huyết thì ít hơn (19,2%) Khi có biểu hiện bất
thường đó, chủ yếu phụ nữ không đi khám (30,8%)
hoặc là khám ở trạm y tế (34,8%) Số phụ nữ đi
khám ở tuyến huyện thấp hơn (21,4%) Có một số
ít đi khám ở phòng khám tư nhân (8,5%)
Bảng 1 Xử trí khi bệnh nhân có dấu hiệu bất
thường của cán bộ y tế
Thực hành xử trí của cán bộ y tế
Tỉ lệ cán bộ thôn cho thuốc giảm đau và cho về
nhà theo dõi cao nhất (56,9%) Y tế xã thì khoảng
40,0% cho rằng phải thử thai bằng que thử, một
phần ba (34,3%) cho thuốc giảm đau, cho về nhà
theo dõi Ở tuyến huyện thì quá nửa số cán bộ cho
rằng phải thử thai bằng que thử nhanh (63,6%) Chỉ
một số ít đi theo xu hướng là cho thuốc giảm đau,
theo dõi tiếp (18.2%) Vẫn có một tỷ lệ nhất định
CBYT huyện cho thuốc giảm đau và cho bệnh nhân
về nhà (13,6%)
3.2.1.3 Các yếu tố tăng cường liên quan đến
khám thai sớm:
Trong khi khám thai lần đầu, tỷ lệ phụ nữ được
tư vấn về dấu hiệu nguy hiểm chỉ có 7,9% mà thôi
Số phụ nữ được thử thai nhanh bằng que thử thai
nhanh cũng không nhiều, khoảng 25,9% Trong quá
trình có thai chỉ có 25,5% số phụ nữ được siêu âm
Trong đó số phụ nữ được siêu âm 1 lần chỉ có 6,0%,
còn đại đa số là được siêu âm từ 2 lần trở lên
Với những người không giới thiệu siêu âm thì lý
do chính là không có sẵn (71,4%; 88,2% và 100,0%
ở thôn bản, xã và huyện tương ứng) Các lý do như
không cần thiết hoặc không biết để làm gì chiếm tỷ
trọng rất nhỏ
3.2.2 Các yếu tố liên quan đến CNTC theo mô
hình Precede-Proceed
3.2.2.1 Các yếu tố khuynh hướng liên quan đến
CNTC
Nhận thức của phụ nữ về mức độ nghiêm trọng của CNTC:
Trong số 998 phụ nữ trả lời phỏng vấn, có 63,6% có nghe nói đến CNTC, còn tới khoảng 1/3 (36,4%) chưa nghe nói đến CNTC bao giờ Khi được hỏi về quan niệm về mức độ nặng nhẹ của CNTC, có khoảng 76,2% cho rằng CNTC là một vấn đề nghiêm trọng (nặng), còn khoảng 16% cho rằng ở mức trung bình và một số ít cho rằng không nghiêm trọng (2,1%) và có khoảng 5,7% không biết
3.2.2.2.Các yếu tố cho phép liên quan đến CNTC
Bảng 3 Kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm
về CNTC của phụ nữ có chồng
Trong số 635 phụ nữ đã nghe nói đến CNTC, thì có tới khoảng 2/3 biết được dấu hiệu chính là đau bụng 255 (40,2%), ra máu 237 (37,3%) Dấu hiệu chậm kinh chiếm ít hơn 150 (23,0%) Tuy nhiên gần một nửa 287 (45,2%) là không biết được dấu hiệu nào của CNTC
Trong số các cán bộ từ y tế thôn bản đến tuyến huyện thì tất cả 100% đều nghe nói đến CNTC Tuy
Xử trí khi bệnh nhân có dấu
hiệu bất thường
Thôn n=72 (%) n=35 (%) Xã n=22(%) Huyện
Không làm gì 5 (6,9) 5 ( 14,3) 2 ( 9,1)
Cho thuốc giảm đau, theo dõi 6 (8,3) 6 (17,1) 4 (18,2)
Thử thai bằng que thử 14 (19,4) 14 (40,0) 14 (63,6)
Gửi đi siêu âm 1 (1,4) 0 (,0) 0 (0)
Giảm đau, cho về nhà theo dõi 41 (56,9) 12 (34,3) 3 (13,6)
Chuyển tuyến trên 0(0) 0 (0) 1 (4,5)
Được cán bộ y tế tư vấn về dấu hiệu nguy hiểm
Số lượng (n=998)
Tỷ lệ (%)
Không 919 92,1
Thử que thử thai nhanh khi có thai
Có thử 258 25,9 Không thử 740 74,1
Siêu âm khi có thai
Có 254 25,5
1 lần 60 6,0
2 3 lần 122 12,2
> 3 lần 71 7,1 Không nhớ 1 0,1 Không 744 74,5
Thời gian siêu âm lần đầu khi có thai N=254
1 tháng đầu tiên 53 20,9
3 tháng đầu 140 55,1
3 tháng giữa 77 30,3
3 tháng cuối 37 14,6
Bảng 2 Tư vấn của cán bộ y tế
Kiến thức Số lượng (n=635) Tỉ lệ (%)
Biết dấu hiệu: đau bụng 255 40,2
Không biết dấu hiệu nào 287 45,2
Trang 5nhiên định nghĩa đúng về CNTC thì không phải ai
cũng nói được Tất cả cán bộ y tế xã đều nói chính
xác định nghĩa CNTC, nhưng chỉ có khoảng 4/5 số
cán bộ y tế huyện và thôn bản nói chính xác được
định nghĩa
Cán bộ y tế cũng nhận thức được hậu quả lâu dài
của CNTC nếu xử trí chậm ở tuyến xã thì đại đa
số (91,4%) cho rằng hậu quả lâu dài là vô sinh, một
tỷ lệ ít hơn thì cho là có thể gây ra mất sức lao động
(34,3%) và nguy cơ mắc lại CNTC (17,1%) Xu
hướng chung cũng nhận thấy ở y tế thôn bản Chỉ có
khoảng 1/3 (33,3%) cán bộ biết được nguy cơ gây
vô sinh hoặc mất sức lao động Có thể thấy rằng
nhận thức của cán bộ y tế huyện thấp hơn hẳn so với
tuyến xã
Bảng 4 Xử trí của phụ nữ khi có triệu chứng CNTC
Có 17 người đi khám ngay khi có biểu hiện bất
thường như đã nêu ở bảng 4 Tuy nhiên vẫn còn 2
người chỉ đi khám sau khi đau bụng nặng lên Nơi
khám bệnh chính của những ca bệnh này chủ yếu là
bệnh viện huyện (63,8%), và bệnh viện tỉnh
(21,0%) Chỉ có một số ít là đi khám tại trạm y tế
xã (15,8%)
3.2.2.3 Các yếu tố tăng cường liên quan đến
CNTC
Đối với những phụ nữ có tiền sử CNTC, khi họ
đi khám, đã được thực hiện những dịch vụ sau: siêu
âm (42,1%); thử thai bằng que thử nhanh (36,8%);
khám thai (31,6%) và các dịch vụ khác như xét
nghiệm máu chiếm tỷ lệ 21,1% Tuy nhiên có
10,5% số ca không thực hiện dịch vụ khám/xét
nghiệm nào cả
Thông tin về CNTC của phụ nữ chủ yếu là từ
bạn bè, hàng xóm (49,6%); sau đó là tivi (15,2%),
và sách báo (10,8%) Chỉ có một số ít là từ cán bộ
y tế (5,9%), loa đài (5,0%), pano - tờ rơi (0,7%)
Đối với cán bộ y tế, đa số cán bộ y tế tuyến
huyện và xã biết thông tin về CNTC chủ yếu là qua
các chương trình học (>90,0%) Ngoài ra khoảng
1/3 số cán bộ xã huyện biết được thêm các thông tin về CNTC qua kinh nghiệm, sách báo hoặc tập huấn Các phương tiện truyền thông khác chiếm tỷ trọng nhỏ Đối với cán bộ y tế thôn bản thì thông tin chính về CNTC là qua chương trình học (50,7%) hoặc tập huấn (52,1%) Một phần nhỏ biết được thông tin qua kinh nghiệm, sách báo hoặc các phương tiện truyền thông khác
4 Bàn luận
4.1 Kiến thức -thái độ - thực hành của phụ nữ và cán bộ y tế (CBYT) liên quan đến khám thai
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng đại đa số (88,1%) phụ nữ đều nhận thức được sự cần thiết phải đi khám thai sớm, và đặc biệt trong trường hợp khi có dấu hiệu bất thường (98,0%) Về việc này thì nhận thức của CBYT cũng tốt ở cả 3 tuyến Tuy nhiên, theo khuyến cáo thì người phụ nữ nên đi khám thai ngay sau khi phát hiện ra có thai Ngay CBYT cũng chưa nhận thức được sự cần thiết phải
đi khám thai ngay khi phát hiện có thai (chậm kinh) Chỉ có 21,6% phụ nữ (PN) cho rằng phải đi khám thai ngay trong tháng đầu, sau khi chậm kinh Còn lại chủ yếu (59,5%) cho rằng có thể đi khám thai trong 2-3 tháng đầu Thực tế cho thấy rằng việc khám thai của PN cũng phản ánh đúng kiến thức của mọi người Chỉ có12,9% số PN là đi khám ở tháng đầu và có 43,9% đi khám ở 2-3 tháng đầu Điều này cho thấy sự đồng nhất về kiến thức và thực hành trong việc đi khám thai sớm của PN
Nhận thức này có thể chịu ảnh hưởng phần này từ phía CBYT, vì có rất ít CBYT nhận thức được sự cần thiết phải đi khám ngay từ tháng đầu Có lẽ đây là một điểm mà các nhà làm công tác chỉ đạo chuyên môn /tuyến phải quan tâm
Chỉ có 2/3 số CBYT thực hiện một số dịch vụ khi khám thai Lý do chính mà CBYT không giới thiệu thực hiện thử thai nhanh là đắt, không có sẵn và không biết Những lý do này cũng phản ánh phần nào nhận thức chưa tốt của CBYT khi không biết về que thử thai nhanh hoặc phản ánh cung cấp dịch vụ tại cơ sở (không có sẵn)
Có tới quả nửa CBYT xã/huyện quan niệm về việc cần thiết đi siêu âm trong khi có thai Lý do chính không giới thiệu đi siêu âm là do không có sẵn dịch vụ (xã) Tuy rằng chỉ định siêu âm trong giai
Đi khám ngay sau khi có triệu chứng
Chi khám sau khi đau bụng nặng lên 2 10,5
Nơi khám bệnh sau khi có triệu chứng
Trang 6đoạn sớm không nằm trong chuẩn y tế quốc gia,
nhưng việc CBYT xã giới thiệu đi siêu âm sớm để
loại trừ CNTC cũng là một dấu hiệu cho thấy sự phổ
cập của siêu âm trong chẩn đoán loại trừ CNTC
4.2.Thái độ và thực hành của phụ nữ và
CBYT đối với chửa ngoài tử cung
Có tới 1/3 số PN trong điều tra cắt ngang chưa
bao giờ nghe nói đến CNTC Có tới 76,2% số người
tham gia cho rằng CNTC rất nặng Nhưng có tới 2/3
số người (69,3%) quan niệm rằng nguy cơ mắc
CNTC của họ là thấp Có thể quan niệm đó xuất
phát từ nhận định về đối tượng nguy cơ cao của
CNTC chỉ là những người mắc các bệnh viêm
nhiễm đường sinh sản, nạo phá thai và đặt vòng
trong khi đó tất cả CBYT đều nhận định rằng CNTC
là rất nguy hiểm
Quan niệm về đối tượng nguy cơ cao của CNTC
ở phụ nữ cũng tương đồng với quan niệm của CBYT
về hai loại đối tượng là những người hay mắc viêm
nhiễm sinh sản và nạo phá thai
Số PN mắc CNTC có hai triệu chứng chỉ chiếm
36,8% và số người có cả 3 triệu chứng là 15,8% và
có 47,4% số người có 1 triệu chứng trong 3 triệu
chứng chính mà thôi Cho nên nhiều người không
biết là bị chậm kinh, tức là có thai để nghĩ đến là
CNTC vì chỉ có 1/3 số người là có biểu hiện chậm
kinh Còn những ca còn lại có biểu hiện khác ví dụ
đau bụng hoặc ra huyết mà không biết là có thai,
lại có thể nghĩ đến tình huống khác dẫn đến hậu
quả PN mắc CNTC phải nhập viện trong tình trạng
cấp cứu Ở CBYT, dù rằng 100% đều nghe nói đến
CNTC nhưng người nêu đúng được định nghĩa của
CNTC thì lại thấp hơn 100% CBYT xã nói đúng,
tỷ lệ này ở y tế thôn bản và TTYT huyện là tương
đương (83-84%) Số liệu này cho thấy phải xem lại
trình độ chuyên môn của CBYT chuyên trách
tuyến huyện
Sau khi biết chẩn đoán CNTC rồi mà vẫn có
21,1% trong số những PNCC bị CNTC đi cấp cứu
sau 1 ngày, cá biệt có các trường hợp đi cấp cứu sau
3-5 ngày kể từ khi bắt đầu có dấu hiệu nghi ngờ Do
vậy khi họ vào bệnh viện huyện thì khối CNTC đó
đã vỡ và bắt buộc phải mổ cấp cứu trong tình trạng
sốc mất máu
Thông tin về CNTC chủ yếu lại qua đường bạn
bè (49,6%); tivi (15,2%); sách báo (10,8%) Qua
CBYT chỉ chiếm 5,9% Điều này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu định tính cho thấy các phụ nữ từng mắc CNTC đều nhận biết dấu hiệu nghi ngờ và có chia sẻ với kênh bạn bè là các phụ nữ khá lâu trước thời điểm phẫu thuật cấp cứu Cho nên việc tuyên truyền rộng rãi về CNTC thông qua CBYT còn nhiều hạn chế Việc cải thiện thông tin về CNTC thông qua hệ thống y tế xã và thôn bản là rất quan trọng, đặc biệt khi có tư vấn khám thai Tóm lại, các yếu tố khuynh hướng khảo sát về nhận thức tầm quan trọng của khám thai sớm, nguy
cơ của CNTC cho thấy rằng về cơ bản PNCC và CBYT nhận thức được sự cần thiết phải đi khám thai sớm và sự nguy hiểm của CNTC Cho nên có lẽ không cần tác động can thiệp vào lĩnh vực này Các yếu tố cho phép khảo sát về kiến thức thực hành liên quan đến khám thai sớm và CNTC của PNCC và CBYT cho thấy rằng cần phải có một số những tác động để có thể nâng cao kiến thức của bản thân CBYT về việc phải đi khám thai sớm ngay sau khi có biểu hiện tắt kinh Khi tiến hành khám thai CBYT phải tư vấn về những dấu hiệu bất thường khi có thai, kể cả các triệu chứng của CNTC Trong trường hợp có điều kiện, việc khuyến nghị đi siêu âm sớm để loại trừ CNTC là cần thiết Đối với trường hợp CNTC, cần phải cập nhật kiến thức cho CBYT để họ có thể biết được sự nguy hiểm khi xử trí chậm CNTC và lợi ích khi xử trí sớm CNTC Thông qua đó cán bộ y tế có thể tư vấn lại cho người dân để họ có thể biết được và có hành vi cho phù hợp Các yếu tố tăng cường khảo sát về các dịch vụ sẵn có ở địa phương cho thấy rằng vệc giới thiệu rộng rãi những dịch vụ y tế sẵn có như que thử thai nhanh, siêu âm là nên làm khi thực hiện tư vấn cho người dân đến khám Thông tin về CNTC chưa được phổ biến rộng rãi lắm trong hệ thống y tế, cho nên người dân ít biết được từ CBYT Vì vậy để giúp người dân có thể tiếp cận tốt hơn với những thông tin về CNTC, cần phải có những buổi tư vấn trực tiếp cho hoặc các buổi họp, cung cấp thông tin về CNTC cho đông đảo mọi người biết
Khuyến nghị can thiệp
Cán bộ y tế:
- Tập huấn nâng cao nhận thức về việc khám thai sớm (ngay sau khi có biểu hiện), và kỹ năng tư vấn cho người phụ nữ đến khám thai về các dấu hiệu bất thường khi có thai, lưu ý về CNTC (dấu hiệu chẩn đoán)
Trang 7- Biện pháp tốt nhất phòng chống CNTC là phòng
chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục
/viêm nhiễm sinh sản và sử dụng các biện pháp
tránh thai để không phải đi nạo phá thai Có thể sử
dụng nhiều biện pháp tránh thai hiện đại khác chứ
không chỉ khu trú vào vòng tránh thai mà thôi
Phụ nữ có thai:
- Cần phải được nâng cao kiến thức về việc đi khám
thai sớm, dấu hiệu bất thường khi có thai và xử trí sớm khi có dấu hiệu bất thường
- Nâng cao kiến thức phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục/viêm nhiễm sinh sản và sử dụng BPTT đa dạng để tránh phải nạo phá thai Đây là hai biện pháp chính để có thể phòng chống CNTC, có thể thông qua tư vấn trực tiếp của CBYT khi đến khám thai / thông qua các buổi họp phụ nữ - dân số/phát tờ rơi
Tác giả:
- TS.Bùi Thị Thu Hà, Trưởng bộ môn Sức khoẻ sinh sản, Đại
học Y tế Công cộng Địa chỉ: 138 Giảng Võ, Hà nội Email:
bth@hsph.edu.vn
- ThS Lê Minh Thi, Giảng viên bộ môn Sức khoẻ sinh sản,
Đại học Y tế Công cộng Địa chỉ: 138 Giảng Võ, Hà nội.
Email: lmt@hsph.edu.vn
- ThS Vũ Hưng Hiếu, Giảng viên bộ môn Kinh tế y tế, Đại
học Y tế Công cộng Địa chỉ: 138 Giảng Võ, Hà nội Email:
vhh@hsph.edu.vn
- BS Dương Kim Tuấn, bộ môn Dân số, Đại học Y tế công
cộng Địa chỉ: 138 Giảng Võ, Hà nội Email:
dkt@hsph.edu.vn
Tài liệu tham khảo:
1.Taminzian, O and S Arulkumaran (2004) "Bleeding in
early pregnancy." Current Obstetrics & Gynaecology 14:
23-33.
2 Thu, L H (2004) "Ectopic pregnancies during
2002-2003 in Central Hospital of Obstetrics and Gynecology in Vietnam."
3 Trinh, L C (2004) "Ectopic pregnancies in Central Hospital of Obstetrics and Gynecology in 1995."
4 Doyle, M B., A H DeCherney, et al (1991).
"Epidemiology and etiology of ectopic pregnancy." Obstetrics Gynecology Clinical North American 18: 1-17.
5 Ego, A., D Subtil, et al (2001) "Survival analysis of fer-tility after ectopic pregnancy." Ferfer-tility and Sterility 75(3): 560-566.
6 Hieu, D T and T T Luong (2003) "The rate of ectopic pregnancy for 24,589 quinacrine sterilization (QS) users compared to users of other methods and no method in 4 provinces in Vietnam, 1994-1996." International Journal of Gynaecology & Obstetrics 83(2): S35-S43.
7 Hoa, V T (2002) "Some factors influencing early diag-nosis of ectopic pregnancy." PhD dissertation Hanoi med-ical university.
8 Thu, L H (2004) "Ectopic pregnancies during
2002-2003 in Central Hospital of Obstetrics and Gynecology in Vietnam."