MỞ ĐẦU Trải qua chặng đường lịch sử 92 năm từ mùa xuân 1930 đến nay, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách; Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành được những thắng lợi vĩ đại: từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới, đó là nhờ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trên tất cả các mặt nói chung và đường lối đối ngoại nói riêng, hết sức đúng đắn, mềm dẻo, linh hoạt, mang bản sắc Việt Nam. Trong 35 năm đổi mới, công tác đối ngoại Việt Nam đã luôn đồng hành cùng dân tộc, phụng sự Tổ quốc và phục vụ Nhân dân. Chủ trương đối ngoại của Việt Nam được khẳng định tại Ðại hội VII (1991), theo đó Việt Nam muốn là bạn, là đối tác với tất cả các nước trên thế giới và mở rộng, đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại. Ngày nay, trên cơ sở đánh giá toàn diện thành tựu, bài học, thế và lực của đất nước sau 35 năm đổi mới, bối cảnh quốc tế và trong nước, thời cơ chiến lược cũng như thách thức đặt ra đối với đất nước, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục kế thừa những nội dung xuyên suốt đường lối đối ngoại của Đảng ta thời kỳ đổi mới, đồng thời phát triển và bổ sung nhiều nội dung mới để đối ngoại đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Đại hội XIII khẳng định hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển, song nhấn mạnh các xu thế này đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn do “thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo” . Mặt khác, những vấn đề mang tính toàn cầu như về kinh tế, môi trường, xã hội và chính trị… có tầm ảnh hưởng đến toàn thế giới, đòi hỏi sự hợp tác toàn diện trên tất cả cá mặt của công tác đối ngoại. Đặc biệt trong bối cảnh năm 2020-2021, với sự xuất hiện của đại dịch COVID-19 trên phạm vi toàn Thế giới và Việt Nam đã tác động cực kỳ lớn, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội, nhất là làn sóng dịch lần thứ tư từ tháng 4 năm 2021 đến nay. Đây là một thử thách rất to lớn đối với công tác lãnh đạo chỉ đạo trong phòng chống một đại dịch chưa từng có trong lịch sử của Đảng cộng sản Việt Nam và một lần nữa với phương châm “đặt sức khỏe, tính mạng của nhân dân là trên hết, là trước hết ” Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân và toàn bộ hệ thống chính trị đoàn kết một lòng vượt qua khó khăn và thử thách mới. Song song với các biện pháp chống dịch, trong điều kiện nước ta còn rất khó khăn về sản xuất vắc-xin chống dịch. Trong bối cảnh nguồn vắc xin vẫn còn khan hiếm trên toàn thế giới, khả năng tiếp cận với nguồn vắc xin cũng còn hạn chế, ngoại giao vắc xin Việt Nam đã trở thành ưu tiên số một của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ trong nhiều tháng qua. Ngoại giao vắc xin không chỉ giúp Việt Nam tiếp cận nguồn và nhập khẩu vắc xin mà còn mở ra cơ hội chuyển giao công nghệ, sản xuất vắc xin, hướng tới khả năng tự cung cấp và đảm bảo nguồn cung vắc xin bền vững trong tương lai, đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong phòng chống dịch bệnh COVID-19 ở nước ta, thể hiện sự năng động và sáng tạo trong công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Xuất phát từ đó, bản thân em là bác sỹ làm việc trong ngành y tế tham gia quá trình chống dịch COVID-19 trong 2 năm vừa qua, trong quá trình học tập môn “Quan hệ quốc tế” của chương trình đào tạo Cao cấp lý luận chính trị và thực tiễn công tác em lựa chọn chủ đề: “Đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam hiện nay - liên hệ thực tiễn chiến lược ngoại giao vắc-xin trong phòng chống dịch bệnh COVID-19 ở nước ta)”. Làm bài thu hoạch hết môn. Chủ đề nhằm tìm hiều lý luận về đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước hiện nay dựa trên bài giảng đã được Quý Thầy - Cô giảng dạy trong quá trình học tập, đồng thời liên hệ thực tiễn với công tác ngoại giao vắc-xin trong phòng chống dịch COVID -19 ở nước ta. Do trình độ lý luận và thực tiễn còn ít, bài thu hoạch không tránh khỏi những hạn chế, em rất mong nhận được các ý kiến đóng góp quý báu của Quý Thầy, Cô để em hoàn thiện tốt hơn bài thu hoạch của mình. Em xin trân trọng cám ơn!
Trang 1DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 3
1 CƠ SỞ HOẠCH ĐỊNH ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY 3
1.1 Chủ nghĩa Mác-LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại 3
1.2 Truyền thống ngoại giao của dân tộc 5
1.3 Tình hình, bối cảnh trong nước và Thế giới hiện nay 6
2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG ĐƯỜNG LỐI ĐỐNGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VIỆT NAY 13
2.1 Mục tiêu, nguyên tắc, nhiệm vụ 13
2.1.1 Về mục tiêu 13
2.1.2 Về nguyên tắc 14
2.1.3 Nhiệm vụ đối ngoại 14
2.2 Phương châm đối ngoại 16
2.2.1 Phát huy sức mạnh toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; dựa vào phát huy nội lực là chính, tranh thủ tối đa ngoại lực 16
2.2.2 Hợp tác bình đẳng, cùng có lợi; vừa hợp tác, vừa đấu tranh 17
2.2.3 Tham gia hợp tác khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước17 2.2.4 Chủ động, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả 18
2.2.5 Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc 18
3 LIÊN HỆ THỰC TIỄN: CHIẾN LƯỢC NGOẠI GIAO VẮC-XIN PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH COVID - 19 Ở NƯỚC TA 19
3.1 Bối cảnh tình hình dịch bệnh COVID -19 trên Thế giới và Việt Nam 19
Trang 2Việt Nam 213.3 Chiến lược ngoại giao vắc-xin của Đảng trong phòng chống đại dịch COVID -
19 nhiệm vụ cấp bách, chiến lược lâu dài 23
3.3.1 Xác định vai trò quan trọng của vắc-xin trong phòng chống dịch COVID-19.
23
3.3.2 Tích cực ngoại giao vắc-xin của Đảng và Nhà nước ta trong phòng chống đại dịch COVID-19 25 3.3.3 Ngoại giao vaccine chứng tỏ uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế 32 3.3.4 Bài học kinh nghiệm từ công tác ngoại giao vắc-xin 33
3.4 Bài học của bản thân từ chiến lược ngoại giao vắc-xin trong phòng chống đạidịch COVID-19 35
KẾT LUẬN 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3COVID-19 (Coronavirus disease 2019) : Bệnh vi-rút corona 2019
GDP (Gross Domestic Product) : Tổng sản phẩm quốc nội
hay Tổng sản phẩm nội địa. SARS-CoV-2 (Severe acute respiratory
Trang 4MỞ ĐẦU
Trải qua chặng đường lịch sử 92 năm từ mùa xuân 1930 đến nay, vượtqua muôn vàn khó khăn, thử thách; Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành đượcnhững thắng lợi vĩ đại: từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành mộtquốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có vị thếngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới, đó là nhờ sự lãnh đạo đúngđắn của Đảng và Nhà nước ta trên tất cả các mặt nói chung và đường lối đốingoại nói riêng, hết sức đúng đắn, mềm dẻo, linh hoạt, mang bản sắc Việt Nam
Trong 35 năm đổi mới, công tác đối ngoại Việt Nam đã luôn đồng hànhcùng dân tộc, phụng sự Tổ quốc và phục vụ Nhân dân Chủ trương đối ngoại củaViệt Nam được khẳng định tại Ðại hội VII (1991), theo đó Việt Nam muốn làbạn, là đối tác với tất cả các nước trên thế giới và mở rộng, đa phương hóa quan
hệ kinh tế đối ngoại Ngày nay, trên cơ sở đánh giá toàn diện thành tựu, bài học,thế và lực của đất nước sau 35 năm đổi mới, bối cảnh quốc tế và trong nước,thời cơ chiến lược cũng như thách thức đặt ra đối với đất nước, Đại hội XIII củaĐảng tiếp tục kế thừa những nội dung xuyên suốt đường lối đối ngoại của Đảng
ta thời kỳ đổi mới, đồng thời phát triển và bổ sung nhiều nội dung mới để đốingoại đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới Đại hội XIIIkhẳng định hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn, toàn cầu hóa và hộinhập quốc tế tiếp tục tiến triển, song nhấn mạnh các xu thế này đứng trước nhiều
trở ngại, khó khăn do “thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến
rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo”1
Mặt khác, những vấn đề mang tính toàn cầu như về kinh tế, môi trường,
xã hội và chính trị… có tầm ảnh hưởng đến toàn thế giới, đòi hỏi sự hợp tác toàn
diện trên tất cả cá mặt của công tác đối ngoại Đặc biệt trong bối cảnh năm
2020-2021, với sự xuất hiện của đại dịch COVID-19 trên phạm vi toàn Thế giới
và Việt Nam đã tác động cực kỳ lớn, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống kinh
tế xã hội, nhất là làn sóng dịch lần thứ tư từ tháng 4 năm 2021 đến nay Đây là
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb CTQGST, Hà Nội,
2021, tr.50.
Trang 5một thử thách rất to lớn đối với công tác lãnh đạo chỉ đạo trong phòng chốngmột đại dịch chưa từng có trong lịch sử của Đảng cộng sản Việt Nam và một lần
nữa với phương châm “đặt sức khỏe, tính mạng của nhân dân là trên hết, là
trước hết 2 ” Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân và toàn bộ hệ thống chính trị đoàn kết
một lòng vượt qua khó khăn và thử thách mới
Song song với các biện pháp chống dịch, trong điều kiện nước ta còn rấtkhó khăn về sản xuất vắc-xin chống dịch Trong bối cảnh nguồn vắc xin vẫn cònkhan hiếm trên toàn thế giới, khả năng tiếp cận với nguồn vắc xin cũng còn hạnchế, ngoại giao vắc xin Việt Nam đã trở thành ưu tiên số một của lãnh đạo Đảng,Nhà nước và Chính phủ trong nhiều tháng qua Ngoại giao vắc xin không chỉ giúpViệt Nam tiếp cận nguồn và nhập khẩu vắc xin mà còn mở ra cơ hội chuyển giaocông nghệ, sản xuất vắc xin, hướng tới khả năng tự cung cấp và đảm bảo nguồncung vắc xin bền vững trong tương lai, đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong phòngchống dịch bệnh COVID-19 ở nước ta, thể hiện sự năng động và sáng tạo trongcông tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta
Xuất phát từ đó, bản thân em là bác sỹ làm việc trong ngành y tế tham giaquá trình chống dịch COVID-19 trong 2 năm vừa qua, trong quá trình học tập
môn “Quan hệ quốc tế” của chương trình đào tạo Cao cấp lý luận chính trị và
thực tiễn công tác em lựa chọn chủ đề: “Đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà
nước Việt Nam hiện nay - liên hệ thực tiễn chiến lược ngoại giao vắc-xin trong phòng chống dịch bệnh COVID-19 ở nước ta)” Làm bài thu hoạch hết
môn Chủ đề nhằm tìm hiều lý luận về đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nướchiện nay dựa trên bài giảng đã được Quý Thầy - Cô giảng dạy trong quá trìnhhọc tập, đồng thời liên hệ thực tiễn với công tác ngoại giao vắc-xin trong phòngchống dịch COVID -19 ở nước ta
Do trình độ lý luận và thực tiễn còn ít, bài thu hoạch không tránh khỏinhững hạn chế, em rất mong nhận được các ý kiến đóng góp quý báu của QuýThầy, Cô để em hoàn thiện tốt hơn bài thu hoạch của mình Em xin trân trọngcám ơn!
2 Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 29 tháng 8 năm 2021
Trang 61.1 Chủ nghĩa Mác-LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại
Trong quá trình hoạch định đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới, Đảng vàNhà nước luôn kiên định lập trường, quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, coi đây là cơ sở lý luận và là vấn đề có tính nguyên tắc, bởi vì:
- Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tường Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, làkim chỉ nam cho hành động của Đảng ta Những nội dung có tính khoa học vàcách mạng về thời đại, về vấn đề dân tộc và quốc tế, về quan hệ quốc tế và chủnghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, về tư tưởng cùng tồn tại hòa bình giữa cácnước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau, về quyền dân tộc tự quyết trongquan hệ quốc tế trong học thuyết Mác-Lênin luôn được Đảng chú trọng nghiêncứu và vận dụng sáng tạo trong bối cảnh thế giới mới và điều kiện cụ thể củaViệt Nam
- Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh bao gồm hệ thống các quan điểm
về đường lối chiến lược và sách lược đối với các vấn đề quốc tế và quan hệquốc tế Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh thể hiện trên các vấn đề lớn, mangtính chiến lược như:
Một là, độc lập dân tộc: Đây vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là phương
châm hành động của ngoại giao Việt Nam Theo Hồ Chí Minh, ngoại giao ViệtNam phải luôn giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ, tự mình quyết định đường lối,chủ trương của mình Điều đó cũng có nghĩa, chỉ trên tinh thần độc lập dân tộc,
Trang 7Đảng ta mới nắm được tình hình cụ thể, khả năng, lợi ích của đất nước, từ đó mà
đề ra chủ trương, chính sách phù hợp để đạt được mục tiêu đã xác định Vấn đềnày càng quan trọng trong bối cảnh thế giới ngày nay, khi lợi ích quốc gia “ dântộc được đặt lên hàng đầu trong quan hệ quốc tế
Hai là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại: Theo Hồ Chí
Minh, sức mạnh dân tộc bao gồm sức mạnh vật chất (sức mạnh cứng) thể hiện ởsức mạnh kinh tế, chính trị, quân sự và sức mạnh tinh thần (sức mạnh mềm)như: tính chính nghĩa của những mục tiêu mà dân tộc Việt Nam theo đuổi;truyền thống yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường chống ngoại xâm; nền vănhóa dân tộc được xây dựng qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước; vị tríđịa-chính trị và địa-kinh tế quan trọng
Sức mạnh dân tộc là sức mạnh của thế và lực của đất nước sau 35 năm đổimới; sức mạnh tổng thể của Nhà nước và nhân dân, của kinh tế, quân sự, dân số,lãnh thổ; sức mạnh của các giá trị lịch sử, truyền thống, văn hóa, tinh thần yêunước, tinh thần lao động cần cù và ý chí vươn lên của con người Việt Nam
Sức mạnh thời đại thể hiện qua các trào lưu lớn của thời đại như: nộidung chủ yếu của thời đại ngày nay, phong trào độc lập dân tộc, phong trào dânchủ và tiến bộ xã hội, cũng như các xu thế lớn của thế giởi như: quyền độc lậpcho mọi quốc gia; quyền tự quyết cho mọi dân tộc; xu thế hòa bình cho toàn thểgiới và sự hợp tác bình đẳng giữa các quốc gia, không phân biệt nước lớn haynhỏ Sức mạnh thời đại thể hiện qua các “dòng chảy chính” của thế giới hiệnnay như: cuộc cách mạng khoa học - công nghệ; xu thế toàn cầu hóa và liên kếtkhu vực; trào lưu tái cấu trúc và đổi
mới mô hình tăng trưởng
Ba là, ngoại giao tâm công: Đó là nền ngoại giao đề cao tính chất chính
nghĩa, đánh vào lòng người bằng chính nghĩa, bằng lẽ phải, đạo lý và nhân tính;
là nền ngoại giao mang tính nhân bản sâu sắc, phù hợp với khát vọng hòa bình,
tự do, công lý; là nền ngoại giao coi phong trào tiến bộ của nhân dân thế giới làlực lượng của mình, giữ gìn và củng cố sự đoàn kết nhất trí giữa các nước xã hộichủ nghĩa
Trang 8Bốn là, ngoại giao hòa hiếu với các dân tộc khác: Đó là nền ngoại giao
theo đuổi phương châm “thêm bạn, bớt thù”, “làm cho nước mình ít kẻ thù vànhiều bạn đồng minh hơn hết” và đây cũng thể hiện tỉnh nhân văn của dân tộcViệt Nam Đó là nền ngoại giao luôn dành mối quan tâm hàng đầu cho nhiệm vụcúng cố quan hệ với các nước láng giềng, các nước trong khu vực, tập trung nỗlực thiết lập và củng cố quan hệ với các nước lớn, đồng thời tăng cường quan hệhợp tác hữu nghị với mọi quốc gia khác trên thế giới
Năm là, ngoại giao “dĩ bất biến, ứng vạn biến”: Đó là nền ngoại giao kiên trì trong nguyên tắc nhưng linh hoạt, mềm mỏng, khéo léo trong sách lược Đối
với Hồ Chí Minh, vấn đề có tính bất biến là nguyên tắc độc lập, chủ quyền,thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Song để đạt được mục tiêu đó,phương thức thực hiện phải thiên biến vạn hóa, khi cương khi nhu, khi tiến khilui tùy theo từng vấn đề, thời điểm và bối cảnh cụ thể 3
Sáu là, ngoại giao nắm vững thời cơ, giành thắng lợi từng bước: Đó là
nền ngoại giao phải biết nắm vững thời cơ, chủ động tạo lập thời cơ, đồng thờichủ động tấn công giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn
1.2 Truyền thống ngoại giao của dân tộc
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, độclập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc luôn luôn là nguyêntắc bất biến, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động của chúng ta Bêncạnh các cuộc chiến đấu ngoan cường bảo vệ giang sơn, độc lập, chủ quyền củađất nước, ông cha ta đã luôn luôn chú trọng hoạt động đối ngoại, tạo dựng nênnhững truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và hoạtđộng đối ngoại Việt Nam: Đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ
phải, công lý và chính nghĩa: "Đem đại nghĩa để thắng hung tàn; Lấy chí nhân
để thay cường bạo!"; "Dập tắt muôn đời lửa chiến tranh; Mở nền muôn thủa thái bình" 4 Dùng đối ngoại để phòng ngừa, ngăn chặn chiến tranh hoặc để sớmkết thúc chiến tranh trong vị thế có lợi nhất; đối ngoại phải luôn luôn phục vụ tốt
3 Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình Quan hệ quốc tế, Dùng cho hệ đào tạo Cao cấp lý luận
chính trị, NXB Lý luận chính trị năm 2021, tr 240-242.
4 Nguyễn Trãi, Bình Ngô đại cáo
Trang 9nhất cho sự nghiệp đối nội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đó là những tư tưởng,triết lý vượt thời đại của cha ông ta, mãi mãi vẫn còn nguyên giá trị mà Đảng tacần quán triệt và vận dụng nó trong điều kiện mới Một trong những nét nổi bậthàng đầu trong truyền thống ngoại giao của dân tộc là truyền thống ngoại giaohòa bình, hữu nghị Đây là sự thể hiện tư tưởng đối ngoại nhân văn, hòa hiếu bắtnguồn từ chiều sâu bản sắc văn hóa dân tộc Đồng thời, đây cũng còn được quyđịnh bởi vai trò, vị trí địa-chiến lược, địa-chính trị quan trọng của nước ta ở khuvực Trong quá trình xây dựng và phát triển, mặc dù thường phải đối mặt vớicác thế lực xâm lược nước ngoài lớn mạnh gấp bội, song dân tộc ta trong đốingoại, một mặt thể hiện rõ tinh thần quật khởi, không chịu khuất phục, mặt khácluôn chủ động, khôn khéo, sáng tạo, linh hoạt và mềm dẻo, biết cách vượt quanhững thử thách hiểm nghèo để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toànvẹn lãnh thổ của Tổ quốc Truyền thống ngoại giao của dân tộc Việt Nam có thểkhái quát ở những vấn đề sau: (1) giữ vững nguyên tắc độc lập tự chủ và chủquyền quốc gia; (2) ngoại giao vì hòa bình, hòa hiếu, hữu nghị, khoan dung; (3)ngoại giao rộng mở, biết tiếp thu thành tựu văn minh nhân loại để phát triển; (4)ngoại giao với tinh thần chủ động, khôn khéo, sáng tạo, linh hoạt
Đặc biệt trong xu hướng của Thế giới hiện nay với xu thế vừa hợp tác vừađấu tranh trên cơ sở song trùng lợi ích càng cần thiết cho Đảng ta hoạch địnhchính sách ngoại giao phù hợp
1.3 Tình hình, bối cảnh trong nước và Thế giới hiện nay
1.3.1 Tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong nước
Bước vào thời kỳ đổi mới, đất nước ta đứng trước nhiều khó khăn, thửthách to lớn: khủng hoảng kinh tế - xã hội Nền kinh tế nhiều năm tăng trường
âm và siêu lạm phát, khiến cho đời sống nhân dân hết sức khó khăn Trên lĩnhvực đối ngoại, nước ta bị bao vây, cấm vận về kinh tế, bị cô lập về chính trị Đây
là thời kỳ khó khăn nhất của nước ta sau ngày thống nhất đất nước Trong bốicảnh đó, Đại hội VI của Đảng thông qua đường lối đổi mới toàn diện, trong đóxác định rõ: Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại củachặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây
Trang 10dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủnghĩa trong chặng đường tiếp theo Với chủ trương đó, Đại hội VI đã xác định
nhiệm vụ có tính cấp bách trước mắt là giải phóng sức sản xuất, tập trung phát
triển kinh tế - xã hội để nhanh chóng thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh
tế - xã hội, phá thế bị bao vây, cấm vận, cô lập và mở rộng quan hệ đối ngoại
Những Đại hội sau đó xác định nhiệm vụ cơ bản, lâu dài là sớm đưa Việt Nam
thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, phấn đấu để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát
triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời “kiên quyết, kiên trì đấu
tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của
Tổ quốc”5 Là một bộ phận hợp thành đường lối chung của Đảng Cộng sản ViệtNam, đường lối đối ngoại của Đảng phải góp phần tận dụng thời cơ, thuận lợi,đưa đất nước vượt qua những khó khăn thách thức đang đặt ra nhằm thực hiệnthắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam.Đường lối đổi ngoại thời kỳ đổi mới của Đảng được hoạch định nhằm tranh thủtối đa nguồn lực bên ngoài, kết hợp một cách có hiệu quả sức mạnh dân tộc vớisức mạnh thời đại, phục vụ mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, dângiàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
1.3.2 Tình hình thế giới và khu vực
Tình hình thế giới và khu vực từ sau Chiến tranh lạnh đến nay nổi lên một
số đặc điểm và xu thế vận động chủ yếu tác động đến việc hoạch định đường lốiđối ngoại của Việt Nam, cụ thể như sau:
Thứ nhất, cục diện chính trị - an ninh thế giới có nhiều chuyển biến lớn,
trong đó nổi bật là sự thay đổi lớn trong tương quan lực lượng giữa các nướclớn Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, chế độ xã hội chủ nghĩa
ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, Liên Xô tan rã, trật tự thế giới hai cựcchấm dứt đã làm đảo lộn các quan hệ liên minh kinh tế, chính trị, quân sự đượcthiết lập trong thời kỳ Chiến tranh lạnh Tương quan lực lượng thế giới cũng có
sự thay đổi nghiêng hẳn về phía có lợi cho chủ nghĩa tư bản Mâu thuẫn thời đại
5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Vẫn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật,
HN.2021, t.I, tr.l 17.
Trang 11giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản vẫn tiếp tục tồn tại, song không còn lànhân tố duy nhất chi phối quan hệ quốc tế cũng như việc tập hợp lực lượng giữacác nước trên thế giới Trong thời kỳ quá độ hình thành trật tự thế giới mới, tất
cả các nước trên thế giới tuy ở các mức độ khác nhau đều đứng trước nhữngthách thức mới như: xung đột khu vực, mâu thuẫn quốc gia, dân tộc, sắc tộc, tôngiáo; hố ngăn cách giàu - nghèo Bắc - Nam; sự bất bình đẳng trong quan hệ giữacác nước; nhu cầu phát triển kinh tế và ổn định chính trị ở mỗi nước; hoạt độngngày càng tăng của chủ nghĩa khủng bố, sự tăng lên của những vấn đề mang tínhtoàn cầu
Đặc biệt, trong quá trình hình thành trật tự thế giới sau Chiến tranh lạnh,tương quan lực lượng của thế giới có sự thay đổi lớn, bản đồ quyền lực có sựchuyển dịch Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ, trong khi Mỹ tiếp tục suy yếutương đối Bên cạnh đó, sự trỗi dậy của một số cường quốc trong nhóm BRICSđang gây sức ép phải xây dựng luật chơi mới trong quan hệ quốc tế ngày càngtăng
Đứng trước những vấn đề nêu trên, các nước trên thế giới thời kỳ sauChiến tranh lạnh đều tập trung ưu tiên nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế - xãhội ở trong nước, đồng thời đấu tranh để tạo lập môi trường quốc tế và khu vựchòa bình, ổn định, giành lấy những điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển củađất nước mình Do đó, hòa bình, ổn định, hợp tác để phát triển trở thành xu thếlớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc của các quốc gia trên the giới trong giai đoạn hiệnnay của thời đại
Thứ hai, sự phát triển của khoa học - công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng
công nghiệp 4.0 đang tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống xã hội Sựphát triển khoa học - công nghệ đã và đang tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội và quan hệ quốc tế Ngày nay, khoa học - công nghệ đã trởthành lực lượng sản xuất nòng cốt và trực tiếp của xã hội; trí tuệ và kỹ năng cóvai trò mấu chốt trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triểnkhoa học - công nghệ góp phần làm thay đổi vị thế của mỗi một quốc gia trongquan hệ quốc tế Trong bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, nước nào
Trang 12chiếm lĩnh khoa học - công nghệ sẽ tiếp tục phát triển nhanh chóng và ngược lại.Trong quan hệ giữa các nước lớn, nước nào giành và giữ ưu thế về công nghệcao thì nước đó có ưu thể trong việc giành ngôi vị sỉêu cường so 1 thế giới Tácđộng mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 càng làm cho sự tùy thuộclẫn nhau giữa các quốc gia trong nền sản xuất được quốc tế hóa, khiến cho xuhướng đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của các nước trở thành đòi hỏi kháchquan Các nước ra sức mở rộng quan hệ quốc tế, không phân biệt chế độ chínhtrị - xã hội khác nhau, với tất cả những ai có khả năng hợp tác hiệu quả; việc xácđịnh bạn - thù, hình thức và mức độ quan hệ cũng trở nên rất linh hoạt Phươngthức tập hợp lực lượng theo kiểu truyền thống đã được thay bằng sự tập hợp lựclượng trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc.
Một đặc điểm khác của thế giới trong kỷ nguyên Cách mạng công nghiệp4.0 là toàn cầu hóa với nền kinh tế số Toàn cầu hóa là một quá trình kháchquan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia Là quá trình khách quan, là nấcthang phát triển của nhân loại, toàn cầu hóa đem lại cơ hội cho mọi quốc gia -dân tộc cùng phát triển Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hóa được thực hiện bởicác nhân tố chủ quan, mà lợi thế thuộc về các nước phát triển, đứng đầu là Mỹ.Với sức mạnh kinh tế, khoa học - công nghệ, thị trường vốn, lao động và hànghóa các nước phát triển thông qua các công cụ của mình là các tập đoàn tư bảnxuyên quốc gia đang lợi dụng lợi thế này để phục vụ lợi ích riêng của mình, gâybất lợi cho các nước nghèo, các nước đang phát triển Chính vì vậy, đối với đại
bộ phận các nước trên thế giới, toàn cầu hóa là quá trình luôn chứa đựng tính haimặt: thuậh lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức, tích cực và tiêu cực, hợp tác
và đấu tranh Sự kiện Brexit, các cuộc biểu tình phản đối mặt trái của toàn cầuhóa cho thấy, đằng sau quá trình toàn cầu hóa đã nổi lên các vấn đề kinh tế,chính trị Hơn nữa, nền kinh tế số là kết quả của cuộc Cách mạng công nghiệp4.0 sẽ dẫn tới sự dịch chuyển quyền lực toàn cầu trên cả phương diện khônggian địa lý và chủ thể quyền lực Trong nền kinh tế số, cạnh tranh quốc tế sẽ tậptrung trong không gian số, trên lĩnh vực kinh tế, khoa học - công nghệ và nguồnnhân lực chất lượng cao Trong thế giới của kinh tế số, hợp tác và hội nhập quốc
Trang 13tế sẽ vừa có động lực mới bởi sự gắn kết ngày càng chặt chẽ giữa các quốc gia,khu vực qua không gian số và mạng Internet toàn cầu, nhưng cạnh tranh, cọ xát
và xung đột lợi ích giữa các quốc gia và trên phạm vi toàn cầu cũng sẽ ngàycàng mở rộng và trở nên sâu sắc, khốc liệt hơn Cuộc cạnh tranh này sẽ có tácđộng quan trọng tới việc hình thành những hình thức hợp tác, những tuyến lợiích, những tập hợp lực lượng mới trên thế giới, có ý nghĩa quyết định đối vớiviệc đẩy nhanh quá trình định hình những đường nét cơ bản của trật tự kinh tếkhu vực, quốc tế mới, nhất là ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Thứ ba, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, nhất
là ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương Một đặc điểm nổi bật của thế giới tronggiai đoạn hiện nay là các nước lớn và quan hệ giữa các nước lớn trở thành nhân
tố có vai trò quan trọng đến sự phát triển thế giới Trong thập niên gần đây, cácnước lớn có nhiều điều chỉnh quan trọng theo hướng đặt lợi ích quốc gia lên trênhết, đặc biệt là Trung Quốc và Mỹ Kể từ Đại hội XIX Đảng Cộng sản Trung
Quốc năm 2017, Trung Quốc cơ bản đã từ bỏ phương châm “giấu mình chờ
thời” sang hướng “chủ động hơn, cứng rắn hơn”, quyết đoán theo đuổi lợi ích
cốt lõi, kể cả ở Biển Đông Nước Mỹ trong nhiệm kỳ của Tổng thống D.Trump
thực hiện phương châm “Nước Mỹ trên hết”, theo đó, các chính sách được triển
khai theo hướng thực dụng, coi trọng cơ chế hợp tác song phương hơn đaphương Trở thành Tổng thống thứ 46 của nước Mỹ, Tổng thống Joe Biden đãbước đầu đề ra đường lối đối ngoại mới đối với các quốc gia, khu vực, nhữngnơi đóng vai trò then chốt trong chiến lược toàn cầu của Mỹ Chính quyền củaTổng thống J Biden sẽ tập trung giải quyết một số vấn đề như: Cải thiện quan
hệ với các nước đồng minh và đối tác trên thế giới để hình thành một “liên minhcác nền dân chủ toàn cầu” nhằm đối phó với Trung Quốc; từng bước đưa nước
Mỹ trở lại dẫn dắt trật tự kinh tế đa phương thông qua việc thúc đẩy đàm pháncác hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương xuyên Đại Tây Dương với
EU, Hàn Quốc, Nhật Bản; xây dựng và phát triển liên minh công nghệ toàn cầu
để đưa nước Mỹ trở thành quốc gia đứng đầu thế giới về mạng 5G; từ bỏ chínhsách chia sẻ chi phí quân sự với các nước đồng minh, đối tác để các nước này
Trang 14tham gia vào các liên minh quân sự do Mỹ dẫn dắt ở châu Âu - Đại Tây Dương
và Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, như: Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại TâyDương (NATO), nhóm “Bộ Tứ” và “Bộ Tứ” mở rộng 6
Các nước lớn và trung tâm quyền lực khác như Nga, Nhật Bản, Ấn Độ,
EU cũng có những điều chỉnh theo hướng ngày càng đề cao lợi ích quốc gia dân tộc Đặc biệt, ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, cạnh tranh chiến lượcgiữa Mỹ và Trung Quốc đã chuyển sang giai đoạn gay gắt hơn, quyết liệt hơn.Nếu như trên bình diện thế giới, cục diện thế giới cơ bản vẫn cục diện “nhấtsiêu, đa cường” thì ở khu vực 248 châu Á - Thái Bình Dương đang định hìnhngày càng rõ nét cục diện “lưỡng siêu, đa cường”
-Nhìn chung, thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, cùng với xu thế hòa bình, hợptác vì phát triển, các nước lớn, một mặt, thường thỏa hiệp với Mỹ để tìm tiếngnói chung nhằm tăng cường hợp tác; mặt khác, lại đấu tranh gay gắt với nhaunhằm giành lấy những điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển cũng như khẳngđịnh vị thế của nước mình trong trật tự thế giới mới đang trong quá trình hìnhthành, chống tham vọng thiết lập trật tự thế giới đơn cực do Mỹ lãnh đạo Sựcạnh tranh, tranh giành ảnh hưởng và lợi ích giữa các nước lớn thể hiện trênnhiều lĩnh vực, ở nhiều khu vực trên thế giới vẫn tiếp tục gay gắt trong mối quan
hệ vừa hợp tác, vừa đấu tranh, vừa kiềm chế lẫn nhau Với sức mạnh của mình,quan hệ giữa các nước lớn, dù nồng ấm hay lạnh nhạt, dù hòa dịu hay căngthẳng, đều tác động trực tiếp đến hòa bình, an ninh, phát triển của thế giới
Thứ tư, nhiều vấn đề mang tính toàn cầu nổi lên, tác động lớn đến đời sống
quan hệ quốc tế Nhân loại ngày nay đang đối phó với nhiều vấn đề mang tínhtoàn cầu cấp bách đòi hỏi phải có sự hợp tác đa phương để giải quyết Đại dịchCOVID-19 hiện nay là một ví dụ Những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tếnhiều năm qua đã đưa lại một số kết quả quan trọng Tuy nhiên, do tính chấtnghiêm trọng và phức tạp của những vấn đề toàn cầu tiếp tục đòi hỏi các nước
6 Lộc Thị Thủy (2021); Chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống Joe Biden, Tạp chí cộng sản, 26
tháng 6 năm 2021.
Trang 15phải tích cực phối hợp, hợp tác một cách hiệu quả, thiết thực cả trong khuôn khổsong phương cũng như đa phương Đây cũng là nguyên nhân khách quan của xuthế hợp tác trong quan hệ quốc tế giai đoạn hiện nay.
Thứ năm, tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Từ sau Chiến
tranh lạnh đến nay, châu Á - Thái Bình Dương trở thành khu vực phát triển năngđộng, góp phần vào sự phát triển chung của thế giới Cùng với vị thế quổc tengày càng tăng, châu Á-Thái Bình Dương cũng là nơi diễn ra sự tranh giành ảnhhưởng một cách quyết liệt giữa các nước lớn Những biến đổi sâu sắc của môitrường địa-chính trị và địa-kinh té tại châu Á - Thái Bình Dương kể từ khi kếtthúc Chiến tranh lạnh đã mở ra một không gian phát triển mới cho khu vực vàtạo nên vị thế mới của châu Á - Thái Bình Dương trong quan hệ quốc tế Điều
đó được thể hiện qua việc ký Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực(RCEP) vào ngày 15-11-2020 tại Hà Nội Đây là một FTA bao gồm 10 nướcthành viên ASEAN và 5 quốc gia (Australia, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc
và New Zealand) mà ASEAN đã ký hiệp định thương mại tự do, hướng tới mụctiêu hình thành Hiệp định Thương mại tự do Đông Á (EAFTA) và khởi đầu choĐối tác kinh tế toàn diện ở Đông Á (CEPEA) Có thể nói, vai trò của châu Á -Thái Bình Dương trong quan hệ quốc tế ngày càng quan trọng hơn xét trên cảhai phương diện: chính trị - an ninh và kinh tế
Tuy nhiên, tình hình an ninh chính trị châu Á-Thái Bình Dương tiếp tụcdiễn biến rất phức tạp Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và các thực thể quyền lựckhác đã tạo nên cục diện ganh đua quyết liệt, tập hợp lực lượng, hòa hoãn, liênkết đa phương đa diện, cạnh tranh và hợp tác hết sức năng động, tùy thuộc lẫnnhau vô cùng sâu sắc Có thể thấy, cấu trúc quyền lực của trật tự châu Á-TháiBình Dương hiện nay đang được duy trì trong trạng thái “cân bằng thấp” vì châu
Á - Thái Bình Dương còn thiếu một cấu trúc nội tại ổn định có vai trò lãnh đạo,chi phối toàn diện cả về kinh tế lẫn chính trị trong khu vực ; sự ổn định an ninhkhu vực phụ thuộc vào những yếu tố bên ngoài, trong đó đặc biệt phải kể đếnvai trò can dự của Mỹ7 Ở châu Á - Thái Bình Dương hiện vẫn còn tồn tại nhiều
7Nguyễn Hoàng Giáp: Nhận diện trật tự quyền lực ở Đông Á hiện nạy, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 4
(110) 2010, tr.8.
Trang 16yếu tố có khả năng gây mất ổn định, đòi hỏi phải có sự tham gia mạnh mẽ củacác nước liên quan để giải quyết Đáng chú ý nhất là chương trình hạt nhân củaCộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên, vấn đề eo biển Đài Loan và những mâuthuẫn, xung đột chủ quyền ở Biển Đông và Biển Hoa Đông
Tóm lại, đứng trước tình hình quốc tế phức tạp hiện nay, tổng kết kinhnghiệm hơn 35 năm đổi mới, kế thừa và phát huy truyền thống đối ngoại vẻvang của dân tộc, nhất là tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh - người đặt nềnmóng cho nền ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh - Đảng ta kế thừa và khôngngừng bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, vì hòabình hợp tác và phát triển, thực thi chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạnghóa, chủ động tích cực hội nhập quốc tế.
2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG ĐƯỜNG LỐI ĐỐNGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VIỆT NAY
2.1 Mục tiêu, nguyên tắc, nhiệm vụ
định mục tiêu hàng đầu của hoạt động đối ngoại là bảo đảm cao nhất lợi íchquốc gia - dân tộc Lợi ích tối cao quốc gia - dân tộc vừa là mục tiêu, vừa lànguyên tắc xuyên suốt của đối ngoại Đối ngoại vì lợi ích quốc gia " dân tộc thểhiện qua các nhiệm vụ như: Đoàn kết dân tộc, tập hợp lực lượng đông đảo ngườiViệt Nam trong và ngoài nước, phát huy tối đa nguồn lực trong nước, đồng thờihuy động có hiệu quả nguồn lực nước ngoài vì mục tiêu xây dựng một nước ViệtNam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đồng thời bảo vệvững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; đoàn kết quốc tế,tác động tích cực tới nỗ lực tập hợp lực lượng quốc tế của Việt Nam vì mục tiêuhòa bình, hợp tác và phát triển; nâng cao uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Trang 17khẳng định mục tiêu, lý tưởng của Đảng ta là vì lợi ích quốc gia - dân tộc.
2.1.2 Về nguyên tắc
Có hai loại nguyên tắc trong hoạt động đối ngoại: (1) nguyên tắc cơ bản,xuyên suốt, bao trùm; (2) các nguyên tắc cụ thể
- Nguyên tẳc cơ bản, xuyên suốt, bao trùm trong đường lối đối ngoại của
Đảng và Nhà nước ta là hòa bình, độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội; đồng thời, phải sáng tạo, năng động, linh hoạt trong xử lý các tình huống, phù hợp
với hoàn cảnh cụ thể, với vị trí của Việt Nam cũng như diễn biến của tình hìnhthế giới và khu vực, phù hợp với đặc điểm của từng đối tác Trong xử lý tình
huống, cần “ba tránh”: tránh bị cô lập, tránh xung đột và tránh đối đầu.
- Các nguyên tắc cụ thể:
+ Một là, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp
vào công việc nội bộ của nhau
+ Hai là, không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế + Ba là, giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hòa
bình
+ Bốn là, tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi.
2.1.3 Nhiệm vụ đối ngoại
Chính sách đối ngoại là một bộ phận hợp thành đường lối chung, là sựtiếp tục chính sách đối nội, tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ đối nội Xuấtphát từ nhiệm vụ cách mạng nước ta giai đoạn hiện nay và trên cơ sở những biếnđộng của tình hình thế giới thời gian gần đây, Đại hội XIII của Đảng đã xácđịnh: “Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạtđộng đối ngoại và hội nhập quốc tế vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ vữngchắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Tiếp tục phát huy vai trò tiên phongcủa đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huyđộng các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tíncủa đất nước Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đốingoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”8
8 Đảng Cộng sàn Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật,
H.2021, t.I, tr.162.
Trang 18Như vậy, nhiệm vụ đối ngoại thể hiện trên các vấn đề sau:
Thứ nhất, vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa Nhiệm vụ đối ngoại trước hết phải bảo vệ được lợi ích tốicao quốc gia - dân tộc, bảo vệ Tổ quốc bao gồm bảo vệ vững chắc độc lập, chủquyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân vàchế độ xã hội chủ nghĩa Để giữ vững hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc độclập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, vấn đề đầu tiên phải xây dựngnền quốc phòng chính quy, ngày càng hiện đại Tuy nhiên, trong điều kiện thế
giới ngày nay, để bảo vệ đất nước theo quan điểm chỉ đạo của Đảng là giữ nước
từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước còn chưa nguy thì còn cần phải kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sử dụng sức mạnh trong nước và sức mạnhbên ngoài và do đó, đối ngoại có tầm rất quan trọng
Thứ hai, đối ngoại có nhiệm vụ tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình,
ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước Nhiệm vụ đốingoại là phải tạo lập được môi trường hòa bình để phục vụ cho sự nghiệp đổimới, phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Giữvững môi trường hòa bình bao gồm hòa bình, ổn định trên tất cả lĩnh vực ở trongnước, là môi trường hòa bình ở khu vực, trước hết là khu vực Đông Nam Á, tiếpđến là khu vực Đông Á và rộng hơn là khu vực châu Á - Thái Bình Dương Chỉtrên cơ sở giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, chúng ta mới có điều kiện mởrộng quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ nguồn lực bên ngoài cho phát triển đấtnước Điều này càng quan trọng trong bối cảnh thế giới ngày nay, khi toàn cầuhóa và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ và tác động sâurộng
Thứ ba, đối ngoại có nhiệm vụ nâng cao vị thế, uy tín của đất nước trên
trường quốc tế Để nâng cao vị thế của đất nước, trong các văn kiện Đại hội,
Đảng ta đã khẳng định Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên tích cực,
có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế Tuy nhiên, chủ trương đối ngoại phải
được thể hiện trong thực tế Do đó, hoạt động đối ngoại nhằm tăng cường quan
hệ hòa bình, hữu nghị với các nước, đẩy mạnh quan hệ hợp tác cùng có lợi với
Trang 19các đối tác trên các lĩnh vực khác nhau, đồng thời làm tròn nghĩa vụ của nướcthành viên và có đóng góp tích cực cho sự phát triển của tổ chức quốc tế màViệt Nam tham gia Đây chính là tiền đề quan trọng để trên cơ sở đó, chúng ta
có thể huy động được nguồn lực bên ngoài cùng với nguồn lực bên trong phục
vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Thứ tư, đối ngoại đặt lợi ích quốc gia - dân tộc là cao nhất, song Việt Nam
vẫn luôn kiên trì chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân Đảng và Nhà nướcViệt Nam luôn khẳng định nhiệm vụ của đối ngoại là góp phần vào cuộc đấutranh vì mục tiêu của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xãhội Nhiệm vụ đối ngoại theo tinh thần của Đại hội XIII của Đảng nhằm đạt
được ba lợi ích có quan hệ mật thiết với nhau: An ninh - Phát triển – Vị thế,
trong đó vấn đề phát triển đất nước là nhiệm vụ quan trọng nhất Phục vụ chophát triển đất nước được coi là nhiệm vụ hàng đầu của đối ngoại, vì chỉ có pháttriển mới tạo nên nền tảng vật chất cho việc thực hiện mục tiêu an ninh và nângcao vị thế quốc tế của đất nước Tuy nhiên, không thể có sự phát triển và pháthuy được ảnh hưởng quốc tế nếu không giữ vững được an ninh, bảo vệ chủquyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ
2.2 Phương châm đối ngoại
2.2.1 Phát huy sức mạnh toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; dựa vào phát huy nội lực là chính, tranh thủ tối đa ngoại lực.
Nội hàm của “sức mạnh dân tộc” trong bối cảnh ngày nay bao gồm cả cácyếu tố sức mạnh “cứng” như kinh tế, quân sự, con người… các nguồn lực có thểhuy động ở trong nước và các yếu tố của sức mạnh “mềm” như văn hóa, truyềnthống Sức mạnh cứng và sức mạnh mềm cần được vận dụng, kết hợp một cáchhiệu quả, linh hoạt để bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc
Nội hàm sức mạnh thời đại bao gồm: lựa chọn con đường phát triển phùhợp với nội dung chủ yếu của thời đại ngày nay và những nhân tố mới trong giaiđoạn hiện nay là cuộc cách mạng khoa học - công nghệ; xu thế toàn cầu hóa,hợp tác liên kết khu vực; xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển
Việc kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong thế giới ngày
Trang 20nay cũng có nhiều thay đổi Hoạt động đối ngoại của các nước trên thế giới ngàynay luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên hàng đầu, cho nên việc tìm ra phươngthức hữu hiệu để kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong từng vấn
đề cụ thể là nhân tố quyết định thành bại của phương châm này
2.2.2 Hợp tác bình đẳng, cùng có lợi; vừa hợp tác, vừa đấu tranh
Trong điều kiện mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đadạng hóa, Việt Nam đứng trước những cơ hội mới, song nguy cơ và thách thức
tư bên ngoài cũng gia tăng Do đó, cần nhận thức đúng và nắm vững vấn đề hợptác và đấu tranh, coi đây là hai mặt gắn bó hữu cơ của quan hệ quốc tế Trongphương châm nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh, Đảng ta nhấn mạnh mộtnhận thức mới, đó là đấu tranh nhằm thúc đẩy hợp tác, tránh trực diện đối đầu,không để cho các thế lực không thân thiện với Việt Nam lợi dụng sơ hở để đẩy
ta vào thế cô lập, đặc biệt là tránh một cuộc xung đột quân sự hoặc bị khiêukhích vũ trang Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh còn nhằm lợi dụng mâuthuẫn và sự cạnh tranh giữa các đối tác có quan hệ với nước ta, nhất là giữa cácnước lớn, tranh thủ những lực lượng có thể tranh thủ được, phân hóa và thu hẹpđến mức có thể được các thế lực chống đổi hoặc không thân thiện với Việt Nam
Trong xử lý các vấn đề quốc tế, yêu cầu đặt ra là phải kết hợp nhuần nhuyễn hai
mặt hợp tác và đấu tranh, tránh hợp tác một chiều hoặc đấu tranh một chiều, cảhai khuynh hưởng này đều dẫn tới tình huống bất lợi cho đất nước, cần phải tỉnhtáo có sách lược khôn khéo trong hợp tác và đấu tranh, để mở rộng được quan
hệ đối ngoại, “thêm bạn bớt thù”, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định phục
vụ mục tiêu phát triển đất nước
2.2.3 Tham gia hợp tác khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước
Phương châm này thể hiện chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nướcViệt Nam là mở rộng quan hệ quốc tế, góp phần gìn giữ môi trường hòa bình, ổnđịnh, phát triển ở khu vực và trên thế giới Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệtchú trọng hợp tác khu vực, nhất là đối với các nước láng giềng nhằm tạo mộtmôi trường hòa bình, ổn định lâu dài Việc tạo lập được mối quan hệ hợp tác
Trang 21trên cơ sở tùy thuộc lẫn nhau về an ninh cũng như về phát triển với các nướctrong khu vực sẽ là sự bảo đảm hết sức quan trọng đối với Việt Nam nhằm xáclập một vị thế có lợi hoặc chí ít là ít bất lợi nhất trong quan hệ quốc tế.
Cùng với việc đặt cao quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng
và khu vực, Đảng và Nhà nước Việt Nam đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải
mở rộng quan hệ với tất cả các nước, đặc biệt là các nước lớn, các trung tâmkinh tế lớn, vì đó là những lực lượng có ảnh hưởng quan trọng đến an ninh vàphát triển của khu vực và của Việt Nam Với các nước lớn, phải coi trọng giữquan hệ cân bằng, khôn khéo lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước này nhằm tạođược thế cân bằng chiến lược, tranh thủ mọi yếu tố thuận lợi để phát triển kinh
tế và đảm bảo an ninh quốc phòng Trong quan hệ với các nước lớn, Việt Namkiên trì chính sách độc lập tự chủ, tránh không để rơi vào những tình huốngphức tạp và bị động hoặc liên minh với một nước lớn này chống lại một nướclớn khác
2.2.4 Chủ động, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả
Đây là phương châm, đồng thời cũng là một định hướng quan trọng về đốingoại của Đại hội XIII của Đảng Để đảm bảo tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo,hiệu quả, vấn đề đầu tiên là phải xác định đúng các biện pháp để nâng cao hiệuquả đối ngoại như: nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, dự báo chiến lượcphục vụ cho hoạch định chính sách; đưa các quan hệ đã được thiết lập đi vàochiều sâu, ổn định, bền vững
2.2.5 Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc
Vấn đề độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc làthiêng liêng, không thể nhượng bộ, do đó cần phải kiên quyết, kiên trì đấu tranhbảo vệ Tuy nhiên, hiện nay vấn đề tranh chấp Biển Đông là vấn đề lớn, phứctạp, liên quan đến nhiều nước, nhất là nước lớn Trung Quốc, cho nên giải quyếtvấn đề này phải kiên trì, cần có thời gian, không thể nóng vội Kiên quyết, kiêntrì đấu tranh phải trên cơ sở giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho pháttriển đất nước