MỞ ĐẦU Ngày nay, trong một thế giới hiện đại đang đổi thay nhanh chóng, đặc biệt là sự phát triển của kinh tế thị trường và cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ tư đòi hỏi các quốc gia phải đẩy mạnh mở rộng thị trường, hình thành thị trường khu vực và quốc tế, nhanh chóng tiếp cận khoa học kỹ thuật hiện đại. Con đường phát triển không thể nào khác đối với các nước trong thời đại toàn cầu hóa là tham gia hội nhập quốc tế. Hội nhập quốc tế đã, đang là một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động sâu sắc đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia. Hội nhập quốc tế có thể diễn ra trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội (chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh - quốc phòng, giáo dục...), hoặc diễn ra trên cùng nhiều lĩnh vực với tính chất, phạm vi, hình thức khác nhau. Chủ thể chính của hội nhập quốc tế là các quốc gia có đủ năng lực và thẩm quyền đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế khi đã ký tham gia. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6-1996), trên cơ sở thế và lực mới của nước ta, Đại hội lần đầu tiên nêu nhiệm vụ hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo hướng xây dựng nền kinh tế mở, “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới [2; tr 330]. Đây là điểm khởi đầu quan trọng cho một chủ trương đối ngoại lớn và xuyên suốt của Đảng là hội nhập kinh tế quốc tế, tiếp đó là hội nhập quốc tế sâu rộng. Kế thừa chủ trương hội nhập quốc tế của các Đại hội VIII, IX, X, XI và XII, đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (1-2021), Đảng nhấn mạnh: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Có thể nói, hội nhập quốc tế là quyết sách chính trị quan trọng, là định hướng mới trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta khi đất nước bước sang thời kỳ mới, phản ánh bước phát triển mới trong tư duy đối ngoại của Đảng trên cơ sở nhận thức sâu sắc về các xu thế lớn của thời đại và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam đã đem lại những thời cơ, vận hội, đồng thời cũng làm xuất hiện cả những thách thức, nguy cơ thực sự đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những khó khăn, thách thức này càng làm cho việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn quan hệ quốc tế, chủ trương đường lối hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta trở thành nhiệm vụ cấp thiết, thường xuyên của cán bộ, đảng viên. Chính vì vậy, em đã lựa chọn chủ đề “Chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay” để làm bài thu hoạch học phần Quan hệ quốc tế của mình.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
I Nội dung chủ trương “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” của Đảng và Nhà nước Việt Nam 2
1 Khái niệm 2
a) Hội nhập quốc tế 2
b) Quan niệm chung của các nước về hội nhập quốc tế 2
2 Chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay 3
a) Về mục tiêu 4
b) Quan điểm chỉ đạo 4
c) Nội dung “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế" 5
d) Một số giải pháp chủ yếu về chủ động và tích cực hội nhập quốc tế 7
II Một số kết quả nổi bật trong hoạt động hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ 9
1 Kết quả hoạt động hợp tác và hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ giai đoạn 2016 - 2020 9
a) Bối cảnh chung 9
b) Kết quả đạt được 10
2 Kết quả hoạt động hợp tác và hội nhập quốc tế về KH&CN năm 2021 .17
a) Tổ chức thực hiện tốt các hiệp định, thoả thuận hợp tác đã ký về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với các quốc gia, vùng lãnh thổ 17
b) Tăng cường hoạt động hợp tác giữa các tổ chức nghiên cứu trong nước với các tổ chức quốc tế và khu vực 26
Trang 2KẾT LUẬN 28 TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Trang 3MỞ ĐẦU
Xác định hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược xuyên suốt trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Bộ Chính trị khoá XI đã ban hànhNghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 về Hội nhập quốc tế, quyết địnhchuyển từ hội nhập kinh tế quốc tế sang hội nhập toàn diện Hội nghị Trungương 4 khoá XII cũng đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày05/11/2016 về "Thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữvững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp địnhthương mại tự do thế hệ mới", nhằm tăng cường khả năng độc lập, tự chủ củanền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức đểphát triển đất nước
Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 18/02/2019 của Bộ Chính trị về tăng cường
và nâng cao hiệu quả quan hệ đối ngoại đảng trong tình hình mới đã nhấnmạnh mở rộng, tăng cường quan hệ đối ngoại đảng có trọng tâm, trọng điểmvới lộ trình phù hợp, trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vữngđộc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại góp phần tíchcực vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trênthế giới Ban Bí thư cũng đã ban hành Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 06/7/2011
để tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân
Ngày 08/8/2018, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 25-CT/TW về đẩymạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương trong tình hình mới, trong đó trọngtâm là chủ động tham gia, tích cực đóng góp xây dựng, định hình các thể chế
đa phương và trật tự kinh tế - chính trị quốc tế minh bạch, công bằng, dânchủ, bền vững; khai thác tối đa lợi ích từ hợp tác đa phương đem lại
Sau khi Luật Điều ước quốc tế (2016), Luật Thoả thuận quốc tế (2021)
và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cơ quan đại diện nước CộngHoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ở nước ngoài (2017) được ban hành, Chínhphủ đã có nhiều Văn bản hướng dẫn, tổ chức triển khai công tác đối ngoại vàhội nhập quốc tế trên các lĩnh vực Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 40/
Trang 4QĐ-TTg ngày 07/01/2016 phê duyệt Chiến lược hội nhập quốc tế đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030, đồng thời có nhiều văn bản để cụ thể hoá chủtrương của Đảng về hội nhập quốc tế Các bộ, ban, ngành, địa phương đã xâydựng nhiều đề án, chương trình hành động, tích cực kiện toàn tổ chức bộ máy
để thực hiện các nhiệm vụ đối ngoại và hội nhập quốc tế theo đường lối củaĐảng
Là công chức công tác tại Bộ Khoa học và Công nghệ, xác định tầmquan trọng của vấn đề, nhất là từ yêu cầu thực tiễn đặt ra trong tình hình mới,tôi quyết định lựa chọn thực hiện nội dung: chủ trương “Chủ động và tích cựchội nhập quốc tế” của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay; thực tiễn một sốkết quả nổi bật trong hoạt động Hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ
I Nội dung chủ trương “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” của Đảng và Nhà nước Việt Nam
1 Khái niệm
a) Hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế là quá trình liên kết, gắn kết giữa các quốc gia/vùnglãnh thổ với nhau thông qua việc tham gia các tổ chức, thiết chế, cơ chế, hoạtđộng hợp tác quốc tể vì mục tiêu phát triển của bản thân mỗi quốc gia/vùnglãnh thổ đó và nhằm tạo thành sức mạnh tập thể giải quyết những vấn đềchung mà các bên cùng quan tâm Hội nhập quốc tế theo đúng nghĩa đầy đủ là
hội nhập trên tất cả lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Về bản chất, hội
nhập quốc tế chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế nhằmđạt được một mục tiêu hoặc lợi ích chung nào đó Quá trình hội nhập quốc tếngày nay phát triển nhanh chóng và diễn ra trên nhiều lĩnh vực, ở nhiều cấp
độ khác nhau: song phương, tiểu khu vực, khu vực, liên khu vực và toàn cầuvới sự tham gia của hầu hết các nước trên thế giới
b) Quan niệm chung của các nước về hội nhập quốc tế
Trên thế giới ngày nay có nhiều quan niệm khác nhau về hội nhập quốc
Trang 5tế, song nhìn chung đều thống nhất ở một số điểm sau:
Thứ nhất, hội nhập quốc tế bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế nhưng không
giới hạn ở đó, mà có thể mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác của đời sống xãhội: từ kinh tế đến chính trị, an ninh - quốc phòng, văn hóa, xã hội và cáclĩnh vực khác
Thứ hai, hội nhập quốc tế là quá trình không giới hạn thời gian Đó là
quá trình liên tục trong quan hệ hợp tác giữa các nước từ thấp đến cao, từ mộtlĩnh vực cụ thể đến toàn diện
Thứ ba, hội nhập quốc tế không chỉ diễn ra thông qua việc tham gia các
cơ chế hợp tác đa phương mà trên nhiều bình diện, về bản chất, hợp tác songphương nhưng lại dựa trên cơ sở các luật lệ và chuẩn mực chung thì cũng cóđầy đủ tính chất của hội nhập quốc tế
Thứ tư, bản chất của hội nhập quốc tế là quá trình xây dựng và áp dụng
các luật lệ và chuẩn mực chung Đây chính là đặc điểm để phân biệt hội nhậpquốc tế với các hoạt động hợp tác quốc tế khác như trao đổi, tham vấn, phốihợp chính sách
2 Chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay
Kế thừa chủ trương hội nhập quốc tế của Đại hội XI và XII, Đại hộiXIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế,giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩyhội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia -dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia” Có thể nói, hội nhậpquốc tế là quyết sách chính trị quan trọng, là định hướng mới trong đườnglối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta khi đất nước bước sang thời kỳ mới,phản ánh bước phát triển mới trong tư duy đối ngoại của Đảng trên cơ sởnhận thức sâu sắc về các xu thế lớn của thời đại và thực tiễn cách mạng Việt
Trang 6xã hội chủ nghĩa; quảng bá hình ảnh Việt Nam, bảo tồn và phát huy bản sắcdân tộc; tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc
tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc,dân chủ và tiến bộ trên thế giới
b) Quan điểm chỉ đạo
Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở giữ vững đường lốiđối ngoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia - dân tộc, vì hòa bình, hợp tác vàphát triển, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệquốc tế; quán triệt và vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm và giải
quyết tốt các mối quan hệ lớn được tổng kết trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm
2011); đồng thời phải chú trọng một số quan điểm chỉ đạo sau:
- Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớncủa Đảng nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốcViệt Nam xã hội chủ nghĩa
- Hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chínhtrị dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước Mọi cơ chế, chínhsách phải phát huy tính chủ động, tích cực và khả năng sáng tạo của tất cả các
tổ chức, cá nhân, khai thác hiệu quả các tiềm năng của toàn xã hội, của cáctầng lớp nhân dân, bao gồm cả cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống và
Trang 7làm việc ở nước ngoài vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa nội lực; gắn kết chặt chẽ
và thúc đẩy quá trình hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,hiện đại hóa kết cấu hạ tầng, nâng cao sức mạnh tổng hợp và năng lực cạnhtranh quốc gia; gắn kết chặt chẽ với việc tăng cường mức độ liên kết giữa cácvùng, khu vực trong nước
- Hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phảitạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế,củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắcvăn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội; hội nhập trong các lĩnhvực phải được phát triển đồng bộ trong một chiến lược hội nhập quốc tế tổngthể với lộ trình, bước đi phù hợp với điều kiện thực tế và năng lực của đấtnước
- Hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh; kiên định lợiích quốc gia - dân tộc; chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống,không để rơi vào thế bị động, đối đầu; không tham gia vào các tập hợp lựclượng, các liên minh của bên này chống bên kia
- Thực hiện nghiêm các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia đi đôivới chủ động, tích cực tham gia xây dựng và tận dụng hiệu quả các quy tắc,luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của cộng đồng khu vực và quốc tế;chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi; củng
cố và nâng cao vai trò của cộng đồng khu vực và quốc tế, góp phần tích cựcvào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trênthế giới
c) Nội dung “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế"
Quan điểm chủ động và tích cực hội nhập quốc tế thể hiện bước đi và lộtrình hội nhập của Việt Nam với khu vực và thế giới Hội nhập quốc tế đượctriển khai đồng bộ và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, đưa các quan hệ đã
Trang 8được thiết lập đi vào chiều sâu Xác định những định hướng và nhiệm vụ sâurộng hơn về hội nhập quốc tế, Báo cáo Chính trị Đại hội XIII của Đảng nhấnmạnh: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệgiữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện,sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tựchủ, chủ quyền quốc gia Gắn kết chặt chẽ quá trình chủ động, tích cực hộinhập quốc tế toàn diện và sâu rộng với việc nâng cao sức mạnh tổng hợp, huyđộng tiềm năng của toàn xã hội; đổi mới, hoàn thiện thể chế trong nước, nângcao năng lực tự chủ, cạnh tranh và khả năng thích ứng của đất nước” Nhưvậy, hội nhập quốc tế hiện nay bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
* Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
Đó là quá trình thực hiện đầy đủ các cam kết trong Cộng đồng ASEAN
và WTO, đồng thời triển khai có hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế
hệ mới như CPTPP, EVFTA, VN-EAEU, UKVFTA Trong những năm tới,Việt Nam phải đưa hội nhập đi vào chiều sâu, tức là phải tận dụng các camkết quốc tế để mở rộng thị trường, tái phân bổ và nâng cao hiệu quả sử dụngcác nguồn lực, sức cạnh tranh của nền kinh tế; gia tăng mức độ tự chủ của nềnkinh tế, xác lập vị trí cao hơn trong chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng ở khu vực
và toàn cầu, đồng thời phải tận dụng được hệ thống quy tắc và luật lệ của các
tổ chức quốc tế để bảo vệ các lợi ích chính đáng của Nhà nước, doanh nghiệp
và người dân Việt Nam trong quan hệ với các đối tác nước ngoài
* Chủ động và tích cực hội nhập trên lĩnh vực chính trị, quốc phòng,
an ninh
Tiếp tục thúc đẩy hội nhập quốc tế trên lĩnh vực chính trị, quốc phòng,
an ninh, đưa quan hệ này của Việt Nam với các đối tác đi vào chiều sâu tức làphải tạo được sự đan xen, gắn kết lợi ích một cách lâu dài và bền vững giữaViệt Nam và các đối tác, đưa khuôn khổ quan hệ đã được thiết lập đi vào thựcchất, nhất là với các đối tác có tầm quan trọng chiến lược đối với an ninh và
Trang 9phát triển của Việt Nam; tạo dựng được lòng tin và hình thành nên các cơ chếhợp tác có hiệu quả trong việc thúc đẩy quan hệ, ngăn ngừa, đẩy lùi các nguy
cơ, kiểm soát các bất đồng và giải quyết các vấn đề nảy sinh, nhất là các vấn
đề có thể tác động nghiêm trọng tới an ninh và phát triển của Việt Nam
Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên lĩnh vực chính trị, quốcphòng, an ninh còn phải thể hiện qua việc phát huy vai trò của Việt Namtrong các hoạt động quốc tế Trong nhũng năm gần đây, chúng ta đã chuyển
từ chủ trương tham dự sang phát huy vai trò thành viên có trách nhiệm trongcác tổ chức, trên các diễn đàn khu vực và toàn cầu Các hoạt động này đãkhẳng định uy tín của Việt Nam, qua đó từng bước nâng cao vị thế trêntrường quốc tế Trong thời gian tới, chúng ta cần tích cực đóng góp hơn nữavào công việc chung của thế giới, góp phần đưa Việt Nam trở thành một nhân
tố khá quan trọng của khu vực và thế giới, gắn hòa bình, thịnh vượng chungcủa Việt Nam vào hòa bình, thịnh vượng của khu vực và thế giới, về vấn đềnày, báo cáo Chính trị Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Chủ động thamgia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, địnhhướng các thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế ”
* Chủ động và tích cực hội nhập trên các lĩnh vực khác
Đó là quá trình chủ động hơn trong việc nghiên cứu, lựa chọn các bộtiêu chí, xây dựng và triển khai lộ trình áp dụng, đồng thời tham gia xây dựngcác tiêu chí, chuẩn mực chung, góp phần nâng trình độ phát triển của ViệtNam trong các lĩnh vực này; phục vụ các mục tiêu xây dựng nền kinh tế trithức và con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vàphát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
d) Một số giải pháp chủ yếu về chủ động và tích cực hội nhập quốc tế
Để thực hiện thắng lợi chủ trương hội nhập quốc tế, đưa hội nhập quốc
tế đi vào chiều sâu, trong những năm tới, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ cácgiải pháp sau:
Trang 10Thứ nhất, thực hiện triệt để phương châm “triển khai đồng bộ” các định
hướng đối ngoại của Đại hội XIII của Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảngđối với quá trình hội nhập quốc tế; nâng cao hiệu quả sự phối hợp giữa đốingoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, giữa các cấp, cácngành, các địa phương
Thứ hai, trên cơ sở bảo đảm lợi ích tối cao quốc gia - dân tộc, Việt Nam
cần đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác, nhất là các khuôn khổ vớiđối tác chiến lược và đối tác toàn diện, đảm bảo môi trường hòa bình, ổn địnhcủa đất nước, thúc đẩy quan hệ trên tất cả các lĩnh vực, tạo thuận lợi cho pháttriển đất nước và quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam
Thứ ba, Việt Nam cần nâng cao hơn nữa hiệu quả hội nhập, thực hiện
đầy đủ các cam kết quốc tế, theo đó, Việt Nam cần tăng cường công tác phổbiến các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, đã nội luật hóa và các quyđịnh trong quá trình triển khai; làm cho mỗi tổ chức, mỗi người dân nhận thứcđúng thách thức cũng như cơ hội mà họ có được từ quá trình hội nhập quốc
tế, để họ tham gia một cách chủ động và tích cực, biến quá trình hội nhậpquốc tế chủ yếu là các hoạt động của các cơ quan nhà nước tiến hành thànhquá trình tham gia chủ động và tích cực của bộ ngành, từng địa phương, tổchức, doanh nghiệp và người dân
Thứ tư, trong quá trình triển khai các định hướng lớn về hội nhập quốc
tế được xác định trong Văn kiện Đại hội XI, XII và XIII của Đảng, chúng ta
cần tập trung thực hiện Chiến lược tồng thể hội nhập quốc tế tầm nhìn năm
2030 và các đề án, kế hoạch triển khai Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị khóa
XI về hội nhập quốc tế; khẩn trương hoàn thiện, nâng cao năng lực các thểchế hội nhập quốc tế; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lựcphục vụ hội nhập để mức độ hội nhập trên các lĩnh vực của Việt Nam ở mức
độ cao của các nước ASEAN
Thứ năm, trong hội nhập kinh tế, Việt Nam cần tập trung giải quyết các
Trang 11vấn đề sau:
- Các bộ, ngành và địa phương cần chủ động xây dựng chương trình, kếhoạch toàn diện và cụ thể thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế, trong đó xácđịnh vai trò trọng tâm là hội nhập kinh tế quốc tế trong tiến trình hội nhậptrong quan điểm, nhận thức và hành động
- Gắn kết hội nhập kinh tế quốc tế với cải cách trong nước, chuyển đổi
mô hình tăng trưởng tái cấu trúc nền kinh tế, đảm bảo mục tiêu phát triển kinh
tế, mục tiêu chính trị - ngoại giao và mục tiêu chiến lược trong tiến trình hộinhập kinh tế quốc tế
- Chú trọng thực thi cam kết hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng mức
độ cam kết và tự do hóa thương mại ngày càng cao hơn, đồng thời có các điềuchỉnh thương mại trên cơ sở cam kết với các tổ chức quốc tế và khu vực để cóhiệu quả cao nhất trong việc thực hiện các cam kết thương mại
- Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm thực thi
có hiệu quả các cam kết hội nhập, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, minhbạch, ngày càng phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, góp phầnhoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Tận dụng tối đa các cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mởrộng thị trường, thúc đẩy thương mại, đầu tư, tăng trưởng và phát triển kinh
tế - xã hội, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, doanhnghiệp và sản phẩm
- Tăng cường nguồn nhân lực, đồng thời nâng cao năng lực nghiên cứu,đánh giá và dự báo các vấn đề mới liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế, đặcbiệt là việc triển khai thực hiện ở mức độ cao hơn các cam kết, các FTA đểchủ động điều chỉnh chính sách và biện pháp phù hợp
II Một số kết quả nổi bật trong hoạt động hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ
Trang 121 Kết quả hoạt động hợp tác và hội nhập quốc tế về khoa học và
công nghệ giai đoạn 2016 - 2020
a) Bối cảnh chung
Giai đoạn 2016 - 2020, tình hình quốc tế, khu vực tiếp tục diễn biếnphức tạp với sự cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia, cuộc Cách mạng côngnghiệp 4.0 và nền kinh tế số mang lại nhiều cơ hội cùng với không ít khókhăn và thách thức cho đất nước ta trong tiến trình hội nhập và phát triển.Khoa học và công nghệ (KH&CN) phát triển nhanh và có tác động mạnh mẽđến các mặt kinh tế, văn hóa và xã hội trên toàn thế giới Độ mở của nền kinh
tế lớn vừa tạo điều kiện thuận lợi cho đất nước ta tiếp nhận nguồn vốn đầu tưnước ngoài, cập nhật nhanh chóng các xu hướng công nghệ tiên tiến của thếgiới nhưng cũng khiến nền kinh tế phải chịu nhiều tác động và ảnh hưởng củachiến tranh thương mại, của sự bảo hộ thương mại giữa các quốc gia Đặc biệtnăm 2020, các khó khăn do thiên tai, sự cố môi trường, dịch bệnh mà cụ thể
là đại dịch Covid-19 càng đòi hỏi đất nước ta phải quyết liệt đổi mới mô hìnhtăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo(KHCN&ĐMST)
Trong bối cảnh với nhiều khó khăn, thách thức nêu trên, giai đoạn2016-2020, Bộ KH&CN tập trung tham mưu xây dựng và triển khai thực hiệncác nhiệm vụ, giải pháp tại các Nghị quyết, Kết luận của Đảng; Nghị quyếtcủa Quốc hội, Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ như Nghịquyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2014 của Bộ Chính trị khóa XI về hội nhậpquốc tế; Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 05/11/2016 Hội nghị lần thứ 4 Banchấp hành Trung ương Đảng khóa XII về thực hiện có hiệu quả tiến trình hộinhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước
ta tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; Nghị quyết số 11-NQ/
TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa; Quyết định số 272-QĐ/TW ngày 21/01/2015 về việc ban hành Quy chế
Trang 13quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại của Bộ Chính trị (thay thế Quyếtđịnh số 295-QĐ/TW ngày 23/3/2010); Quyết định số 40/QĐ-TTg ngày07/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược tổng thể hội nhậpquốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; v.v.
b) Kết quả đạt được
* Trong hợp tác và hội nhập quốc tế về KH&CN nói chung
- Trong khuôn khổ hợp tác song phương, Bộ KH&CN đã tích cực, chủ
động đàm phán, ký kết và triển khai khoảng 30 điều ước quốc tế, thỏa thuận
quốc tế mới với các đối tác có tiềm lực mạnh về KH&CN Đồng thời, để tiếp
tục triển khai các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế về KH&CN đã được
ký kết, Bộ KH&CN đã chủ trì và tham gia 60 hội nghị đánh giá tình hình,hiệu quả hợp tác, xác định các trọng tâm hợp tác của Ủy ban Liên chính phủ,
Ủy ban/Tiểu ban hợp tác KH&CN với các đối tác quốc tế1
- Trong các khuôn khổ hợp tác đa phương, Bộ KH&CN đã chủ động
thúc đẩy sự tham gia sâu của Việt Nam vào các tổ chức, diễn đàn khu vực vàquốc tế, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế,thông qua các hoạt động như: tham gia và đóng góp tích cực vào các Phiênhọp thường niên của Đại hội đồng Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế(IAEA), Đại hội đồng Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Ủy ban sửdụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình (COPUOS); tăng cường cáchoạt động hợp tác trong khuôn khổ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN); triển khai hiệu quả các hoạt động hợp tác với Tổ chức Giáo dục,
1 Bộ Khoa học và Công nghệ đã và đang tổ chức triển khai thực hiện nhiều văn bản hợp tác quan trọng như: Hiệp định hợp tác KH&CN với Hoa Kỳ (ký năm 2000); Hiệp định về chương trình hợp tác phát triển trong lĩnh vực môi trường với Vương quốc Đan Mạch (ký năm 2004); Hiệp định khung về Chương trình thí điểm hợp tác nghiên cứu giai đoạn 2008-2010 với Đan Mạch (ký năm 2008); Hiệp định hợp tác trong Chương trình đối tác đổi mới sáng tạo với Phần Lan giai đoạn 1 (ký năm 2009), giai đoạn 2 (ký năm 2014); Nghị định thư về thành lập Ủy ban liên Chính phủ Việt Nam - Israel (ký năm 2013); Hiệp định hợp tác KH&CN với Úc (ký năm 2013); Hiệp định hợp tác KH&CN với CHLB Đức (ký năm 2015); Hiệp định hợp tác về KH&CN với El Salvador (ký năm 2013); Hiệp định khung Chương trình hợp tác nghiên cứu với Đan Mạch giai đoạn 2011-2013 (ký năm 2013); Hiệp định về Hợp tác sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình với Ấn Độ (ký ngày 09/12/2016); Hiệp định hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với Thái Lan (ký ngày 17/8/2017); v.v.
Trang 14Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO), đặc biệt là việc hỗ trợhoạt động của hai Trung tâm dạng 2 về Toán và Vật lý do UNESCO bảo trợ,v.v.
- Trong khuôn khổ hợp tác thuộc Diễn đàn Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Bộ KH&CN tiếp tục triển khai các nội dung trọng tâm thuộc
lĩnh vực KH&CN và đổi mới sáng tạo đã được xác định trong Năm APECViệt Nam 2017 Về hợp tác trong Cơ chế Đối tác chính sách KH&CN và đổimới sáng tạo APEC (PPSTI), tiếp tục bám sát mục tiêu chung của hợp tácAPEC về KH&CN và đổi mới sáng tạo là đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, tăngcường các cơ hội đầu tư và giao thương, tiến bộ xã hội và phát triển bền vữngthông qua việc hỗ trợ thương mại hóa công nghệ, nâng cao năng lực đổi mớisáng tạo, khuyến khích hợp tác đổi mới sáng tạo giữa các nền kinh tế thànhviên APEC Đồng thời, tiếp tục thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực ưu tiên đãđược Nhóm chuyên gia APEC về sở hữu trí tuệ (IPEG) xác định Hợp tác chặtchẽ với các thành viên Tiểu ban Tiêu chuẩn và Đánh giá sự phù hợp (SCSC),đặc biệt là các nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Úc,Singapore, v.v về thúc đẩy tiêu chuẩn hóa trong các lĩnh vực ưu tiên như đôthị thông minh, an toàn thực phẩm, hiệu suất năng lượng, nguyên liệu tái chếthân thiện môi trường, nông nghiệp xanh; thúc đẩy hoạt động tiêu chuẩn hóa,chia sẻ kinh nghiệm, mô hình tốt trong xây dựng đô thị thông minh, phát triểnnăng lượng sạch, năng lượng tái tạo góp phần phát triển kinh tế xã hội bềnvững
- Trong quá trình đàm phán các Hiệp định Thương mại tự do (FTA),
Bộ KH&CN đã tích cực tham gia, đóng góp vào các nội dung về sở hữu trítuệ và hàng rào kỹ thuật trong thương mại, đặc biệt là Hiệp định Đối tác Toàndiện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); Hiệp định Thương mại tự
do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA); Hiệp định Thương mại tự doViệt Nam với Liên minh Hải quan Nga, Belarus, Kazactan (VCUFTA); Hiệpđịnh Thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA), Hiệp định Đối tác
Trang 15kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), v.v Việc chuẩn bị tốt các phương án đàmphán và trực tiếp tham gia đàm phán đã góp phần quan trọng vào sự thànhcông chung của các Hiệp định Thương mại tự do mà Việt Nam tham gia.
- Trong triển khai các dự án hợp tác có yếu tố nước ngoài, Bộ KH&CN
đã thúc đẩy, triển khai hiệu quả các dự án, bao gồm: Dự án “Đối tác Đổi mớisáng tạo Việt Nam - Phần Lan” (IPP) giai đoạn 2 (2014 - 2018), Dự án Đẩymạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu, khoa học và công nghệ(FIRST), Dự án Xây dựng chính sách đổi mới và phát triển cơ sở ươm tạodoanh nghiệp (BIPP), Dự án Trung tâm đào tạo cán bộ quản lý KH&CN củaLào, Dự án thành lập Viện KH&CN Việt Nam - Hàn Quốc (VKIST), Chươngtrình Đối tác đổi mới sáng tạo Việt Nam - Úc (Aus4Innovation)
- Trong hoạt động tổ chức các sự kiện hợp tác quốc tế tiêu biểu, BộKH&CN đã tổ chức thành công nhiều sự kiện hợp tác quốc tế quan trọng với
sự tham dự của các nhà lãnh đạo về KH&CN và đổi mới sáng tạo, cácchuyên gia cao cấp, các nhà khoa học từ các quốc gia, các tổ chức quốc tế vàkhu vực2 Đây là diễn đàn để các bên chia sẻ định hướng chiến lược, chínhsách và tình hình phát triển KH&CN; đồng thời tăng cường giao lưu, trao đổikinh nghiệm giữa các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu khoahọc của Việt Nam với các chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài
Các hoạt động hợp tác song phương và đa phương về KH&CN trongthời gian qua đã được thúc đẩy một cách hiệu quả, thực chất theo hướng tích
2 Một số sự kiện tiêu biểu như: Chương trình Gặp gỡ Việt Nam lần thứ XII (năm 2016) với sự tham gia của nhiều nhà khoa học đạt giải thưởng Nobel và hàng trăm nhà khoa học quốc tế; Hoạt động APEC - Việt Nam năm 2017; Diễn đàn Kết nối các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo của người Việt tại Hoa Kỳ và Việt Nam (San Francisco, Hoa Kỳ, tháng 12/2017); sự kiện Kỷ niệm 55 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao và 40 năm ngày ký Hiệp ước hữu nghị hợp tác Việt Nam - Lào năm 2017; Hội nghị Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) về ASEAN năm 2018; sự kiện Kết nối mạng lưới đổi mới sáng tạo 2018 - Gặp mặt 100 nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài; Hội nghị KHCN&ĐMST- Một trụ cột cho phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam năm 2018; Diễn đàn kết nối Startup Việt trong và ngoài nước (Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6/2018); Diễn đàn cấp cao: Tầm nhìn và chiến lược phát triển đột phá trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (Hà Nội, tháng 7/2018); Chuỗi hoạt động kết nối mạng lưới đổi mới sáng tạo Việt Nam (tháng 8/2018); Lễ Công bố Sáng kiến Mạng lưới đổi mới sáng tạo Việt Nam -Vietnam Innovation Network (tháng 8/2018) ; Diễn đàn Internet 2019, Diễn đàn AI4VN - Ngày hội Trí tuệ nhân tạo Việt Nam năm 2019; 03 sự kiện Techfest quốc tế tại Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Singapore nằm trong chuỗi
sự kiện Techfest 2019; v.v.
Trang 16cực tiếp thu kinh nghiệm, tranh thủ sự hỗ trợ, nguồn lực của các nước tiêntiến, góp phần thúc đẩy quá trình đổi mới phương thức quản lý, hoạt độngkhoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, rút ngắn khoảng cách phát triển vềtrình độ KH&CN với thế giới.
* Trong triển khai nhiệm vụ hợp tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với nước ngoài
Việc triển khai nhiệm vụ hợp tác nghiên cứu khoa học và phát triểncông nghệ với nước ngoài được Bộ KH&CN tiếp tục thúc đẩy trong thời gianqua, thông qua các loại hình nhiệm vụ hợp tác như:
- Nhiệm vụ KH&CN theo Nghị định thư: đóng vai trò là nhiệm vụ song
hành cùng hoạt động hợp tác và hội nhập quốc tế về KH&CN, bám sát chứcnăng, nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ KH&CN; gắn liền với việc thúc đẩyđàm phán, ký kết, triển khai các hoạt động hợp tác với nước ngoài, xuất phát
từ nhu cầu các bên, các bên cùng đóng góp kinh phí Các nhiệm vụ Nghị địnhthư được triển khai trong giai đoạn vừa qua đã bám sát định hướng chiếnlược phát triển KH&CN đến năm 2020; chiến lược, định hướng ưu tiên pháttriển của các Bộ, ngành, địa phương Việc thực hiện nhiệm vụ Nghị định thưgóp phần mang lại những giá trị lớn về KH&CN và về chính trị, ngoại giao,làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác, tranh thủ và tận dụng nguồn lực của nướcngoài; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, gắn phát triển KH&CN với phát triểnkinh tế - xã hội, phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, đặc biệt là: huy độngđược nguồn lực quốc tế giúp giải quyết một số vấn đề khó khăn, thách thức
về KH&CN trong nước và cũng như thách thức toàn cầu đang phải đối mặt
như biến đổi khí hậu, vấn đề về môi trường; góp phần tăng cường tiềm lực
KH&CN quốc gia, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ KH&CN, tăng cườngtrang thiết bị nghiên cứu cho các tổ chức KH&CN trong nước; thực thi cáccam kết về hợp tác, hội nhập quốc tế thông qua các Hiệp định Chính phủ vềhợp tác KH&CN, góp phần đa dạng hóa và đẩy mạnh hoạt động đối ngoại