1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cao học môn quan hệ quốc tế ĐƯỜNG lối đối NGOẠI của ĐẢNG và NHÀ nước VIỆT NAM THỜI kỳ đổi mới

25 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới
Chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Thể loại Tiểu luận cao học
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 62,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt là sau những năm 1970, có bốn yếu tố cơ bản quyết định xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới bao gồm: sự suy yếu hay ít nhất là sự thay đổi trong vai trò bá quyền của nước Mỹ, quá trình toàn cầu hóa tài chính và sản xuất, sự phát triển của mạng lưới các định chế hợp tác quốc tế, và sự gia tăng cạnh tranh giữa các quốc gia và các công ty. Trong đó toàn cầu hóa tiếp tục phát triển sâu rộng và tác động tới tất cả các nước. Các quốc gia lớn nhỏ đang tham gia ngày càng tích cực vào quá trình hội nhập quốc tế. Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế hàng đầu của mỗi quốc gia, phản ánh đòi hỏi bức xúc của các quốc gia, dân tộc trong quá trình phát triển. Nước ta, tư duy đổi mới được khởi xướng từ Đại hội VI năm 1986 trong đó đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vì lợi ích quốc gia - dân tộc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đối ngoại thời kỳ đổi mới và được nhận thức ngày càng sâu sắc. Nghị quyết 13 Bộ Chính trị khóa VI (năm 1988) khởi đầu quá trình đổi mới tư duy và đường lối đối ngoại, đề ra nhiệm vụ tranh thủ ủng hộ quốc tế và xu thế quốc tế hóa để phát triển đất nước. Đến Đại hội XII năm 2016, Đảng ta khẳng định rõ nhiệm vụ đối ngoại gồm ba thành tố an ninh, phát triển và vị thế đất nước. Từ chủ trương “thêm bạn bớt thù” Đảng và nhà nước ta đã phát triển thành hệ thống quan điểm, phương châm chỉ đạo xuyên suốt đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới là nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa; "là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế". Trên cơ sở kế thừa đường lối đối ngoại qua các kỳ đại hội Đảng trong thời kỳ đổi mới, đến Đại hội XIII của Đảng đã xác định là “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh và phát huy truyền thống, bản sắc ngoại giao hòa hiếu, giàu tính nhân văn của dân tộc, đường lối đối ngoại của Đảng và nhà nước ta luôn được phát triển và hoàn thiện trong các giai đoạn cách mạng. Trong thời kỳ đổi mới, đối ngoại luôn thực hiện nhiệm vụ bao trùm và thường xuyên là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ các yếu tố quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế đất nước.

Trang 1

NỘI DUNG 3

1 Cơ sở hoạch định đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới 3

1.1 Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại 3

1.2 Truyền thống ngoại giao của dân tộc 5

1.3 Tình hình nhiệm vụ cách mạng trong nước 5

1.4 Tình hình thế giới và khu vực 6

2 Quá trình hình thành, phát triển đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới 8

2.1 Giai đoạn từ Đại hội VI của Đảng (1986) đến 1995 8

2.2 Giai đoạn từ sau Đại hội VIII (1996) đến năm 2010 - giai đoạn mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế 10

2.3 Giai đoạn từ sau Đại hội XI (2011) đến nay - giai đoạn đưa các quan hệ đi vào chiều sâu và hội nhập quốc tế toàn diện 11

3 Nội dung cơ bản trong đường lối đối ngoại của Đảng và nhà nước Việt Nam hiện nay 11

3.1 Mục tiêu 11

3.2 Nguyên tắc 11

3.3 Nhiệm vụ đối ngoại 12

3.4 Phương châm đối ngoại 13

3.5 Tham gia hợp tác khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước 14

3.6 Chủ động, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả 14

3.7 Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc 15

4 Sự kế thừa, phát triển và những điểm mới trong đường lối đối ngoại Đại hội XIII 15

5 Liên hệ thực tế: Đảng và nhà nước Việt Nam đã vận dụng đường lối đối ngoại trong công tác phòng chống đại dịch COVID-19 17

KẾT LUẬN 22

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 2

MỞ ĐẦU

Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt là sau những năm 1970, cóbốn yếu tố cơ bản quyết định xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới baogồm: sự suy yếu hay ít nhất là sự thay đổi trong vai trò bá quyền của nước

Mỹ, quá trình toàn cầu hóa tài chính và sản xuất, sự phát triển của mạng lướicác định chế hợp tác quốc tế, và sự gia tăng cạnh tranh giữa các quốc gia vàcác công ty Trong đó toàn cầu hóa tiếp tục phát triển sâu rộng và tác độngtới tất cả các nước Các quốc gia lớn nhỏ đang tham gia ngày càng tích cựcvào quá trình hội nhập quốc tế Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thếhàng đầu của mỗi quốc gia, phản ánh đòi hỏi bức xúc của các quốc gia, dântộc trong quá trình phát triển

Nước ta, tư duy đổi mới được khởi xướng từ Đại hội VI năm 1986 trong

đó đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và pháttriển, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vìlợi ích quốc gia - dân tộc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đối ngoại thời kỳ đổi mới vàđược nhận thức ngày càng sâu sắc Nghị quyết 13 Bộ Chính trị khóa VI (năm1988) khởi đầu quá trình đổi mới tư duy và đường lối đối ngoại, đề ra nhiệm

vụ tranh thủ ủng hộ quốc tế và xu thế quốc tế hóa để phát triển đất nước ĐếnĐại hội XII năm 2016, Đảng ta khẳng định rõ nhiệm vụ đối ngoại gồm bathành tố an ninh, phát triển và vị thế đất nước Từ chủ trương “thêm bạn bớtthù” Đảng và nhà nước ta đã phát triển thành hệ thống quan điểm, phương

châm chỉ đạo xuyên suốt đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới là nhất quán

thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác vàphát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa; "là bạn, là đối tác tin cậy và thànhviên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế" Trên cơ sở kế thừa đường lối đốingoại qua các kỳ đại hội Đảng trong thời kỳ đổi mới, đến Đại hội XIII củaĐảng đã xác định là “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụcột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”

Trang 3

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng ngoại giao Hồ ChíMinh và phát huy truyền thống, bản sắc ngoại giao hòa hiếu, giàu tính nhânvăn của dân tộc, đường lối đối ngoại của Đảng và nhà nước ta luôn được pháttriển và hoàn thiện trong các giai đoạn cách mạng Trong thời kỳ đổi mới, đối

ngoại luôn thực hiện nhiệm vụ bao trùm và thường xuyên là giữ vững môi

trường hòa bình, ổn định, tranh thủ các yếu tố quốc tế thuận lợi cho công cuộcđổi mới và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế đất nước

Trang 4

NỘI DUNG

1 Cơ sở hoạch định đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới.

Đường lối, chính sách đối ngoại của một nhà nước quốc gia là tổng thểcác quan điểm xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và phượng châmchỉ đạo các hoạt động đối ngoại mà quốc gia đó thể hiện trong quan hệ vớicác nhà nước quốc gia và các chủ thể khác trong quan hệ quốc tế nhằm mụcđích thực hiện thắng lợi những lợi ích của quốc gia dân tộc và của giai cấpcầm quyền trong từng giai đoạn lịch sử Như vậy, đường lối đối ngoại củaĐảng và Nhà nước ta là hệ thống quan điểm về mục tiêu, phương hướng,nhiệm vụ, giải pháp, phương châm chỉ đạo hoạt động của nước ta với bênngoài nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc chân chính, đồng thời góp phầnvào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì mục tiêu của thời đại làhòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

1.1 Chủ nghĩa Mác – Leenin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại

Trong quá trình hoạch định đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới, Đảng vàNhà nước luôn kiên định lập trường, quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, coi đây là cơ sở lý luận và là vấn đề có tính nguyên tắc,bởi vì:

- Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tường Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kimchỉ nam cho hành động của Đảng ta Những nội dung có tính khoa học vàcách mạng về thời đại, về vấn đề dân tộc và quốc tế, về quan hệ quốc tế vàchủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, về tư tưởng cùng tồn tại hòa bìnhgiữa các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau, về quyền dân tộc tựquyết trong quan hệ quốc tế trong học thuyết Mác-Lênin luôn được Đảngchú trọng nghiên cứu và vận dụng sáng tạo trong bối cảnh thế giới mới vàđiều kiện cụ thể của Việt Nam

- Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh bao gồm hệ thống các quan điểm vềđường lối chiến lược và sách lược đối với các vấn đề quốc tế và quan hệ quốc

Trang 5

tế Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh thể hiện trên các vấn đề lớn, mang tínhchiến lược như:

Một là, độc lập dân tộc: Đây vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là phươngchâm hành động của ngoại giao Việt Nam Theo Hồ Chí Minh, ngoại giaoViệt Nam phải luôn giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ, tự mình quyết địnhđường lối, chủ trương của mình

Hai là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại: Theo Hồ ChíMinh, sức mạnh dân tộc bao gồm sức mạnh vật chất (sức mạnh cứng) thể hiện

ở sức mạnh kinh tế, chính trị, quân sự và sức mạnh tinh thần (sức mạnhmềm) như: tính chính nghĩa của những mục tiêu mà dân tộc Việt Nam theođuổi; truyền thống yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường chống ngoại xâm;nền văn hóa dân tộc được xây dựng qua hàng nghìn năm dựng nước và giữnước; vị trí địa-chính trị và địa-kinh tế quan trọng

Ba là, ngoại giao tâm công: Đó là nền ngoại giao đề cao tính chất chínhnghĩa, đánh vào lòng người bằng chính nghĩa, bằng lẽ phải, đạo lý và nhântính; là nền ngoại giao mang tính nhân bản sâu sắc, phù hợp với khát vọnghòa bình, tự do, công lý; là nền ngoại giao coi phong trào tiến bộ của nhândân thế giới là lực lượng của mình, giữ gìn và củng cố sự đoàn kết nhất trígiữa các nước xã hội chủ nghĩa

Bốn là, ngoại giao hòa hiếu với các dân tộc khác: Đó là nền ngoại giaotheo đuổi phương châm “thêm bạn, bớt thù”, “làm cho nước mình ít kẻ thù

và nhiều bạn đồng minh hơn hết” và đây cũng thể hiện tỉnh nhân văn củadân tộc Việt Nam

Năm là, ngoại giao “dĩ bẩt biến, ứng vạn biến”: Đó là nền ngoại giao kiêntrì trong nguyên tẳc nhưng linh hoạt, mềm mỏng, khéo léo trong sách lược.Đối với Hồ Chí Minh, vấn đề có tính bất biến là nguyên tắc độc lập, chủquyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Song để đạt được mục tiêu

Trang 6

đó, phương thức thực hiện phải thiên biến vạn hóa, khi cương khi nhu, khitiến khi lui tùy theo tùng vấn đề, thời điểm và bối cảnh cụ thể.

Sáu là, ngoại giao nẳm vững thời cơ, giành thắng lợi từng bước: Đó là nềnngoại giao phải biết nắm vững thời cơ, chủ động tạo lập thời cơ, đồng thờichủ động tấn công giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàntoàn

1.2 Truyền thống ngoại giao của dân tộc

Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, các thế hệ cha ôngchúng ta đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm đối ngoại quý báu mà Đảng tacần quán triệt và vận dụng nó trong điều kiện mới Một trong những nét nổibật hàng đầu trong truyền thống ngoại giao của dân tộc là truyền thống ngoạigiao hòa bình, hữu nghị Truyền thống ngoại giao của dân tộc Việt Nam cóthể khái quát ở những vấn đề sau: giữ vững nguyên tắc độc lập tự chủ và chủquyền quốc gia; ngoại giao vì hòa bình, hòa hiếu, hữu nghị, khoan dung;ngoại giao rộng mở, biết tiếp thu thành tựu văn minh nhân loại để phát triển;ngoại giao với tinh thần chủ động, khôn khéo, sáng tạo, linh hoạt

1.3 Tình hình nhiệm vụ cách mạng trong nước

Bước vào thời kỳ đổi mới, đất nước ta đứng trước nhiều khó khăn, thửthách to lớn: khủng hoảng kinh tế - xã hội Nền kinh tể nhiều năm tăng trường

âm và siêu lạm phát, khiến cho đời sống nhân dân hết sức khó khăn Trên lĩnhvực đối ngoại, nước ta bị bao vây, cấm vận về kinh tế, bị cô lập về chính trị.Đại hội VI đã xác định nhiệm vụ có tỉnh cấp bách trước mat là giải phóng sứcsản xuất, tập trung phát triển kinh tế - xã hội để nhanh chóng thoát ra khỏitình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, phá thế bị bao vây, cấm vận, cô lập

và mở rộng quan hệ đối ngoại

Những Đại hội sau đó xác định nhiệm vụ cơ bản, lâu dài là sớm đưa ViệtNam thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa, phấn đấu để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước

Trang 7

phẩt triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời “kiên quyết, kiên trìđấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnhthổ của Tổ quốc”.

1.4 Tình hình thế giới và khu vực

Thứ nhất, cục diện chính trị - an ninh thế giới có nhiều chuyển biếnlớn, trong đó nổi bật là sự thay đổi lớn trong tương quan lực lượng giữacác nước lớn

Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, chế độ xã hội chủnghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, Liên Xô tan rã, trật tự thế giớihai cực chấm dứt đã làm đảo lộn các quan hệ liên minh kinh tế, chính trị,quân sự được thiết lập trong thời kỳ Chiến tranh lạnh Tương quan lực lượngthế giới cũng có sự thay đổi nghiêng hẳn về phía có lợi cho chủ nghĩa tư bản.Mâu thuẫn thời đại giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản vẫn tiếp tục tồntại, song không còn là nhân tố duy nhất chi phối quan hệ quốc tế cũng nhưviệc tập hợp lực lượng giữa các nước trên thế giới

Đặc biệt, trong quá trình hình thành trật tự thế giới sau Chiến tranh lạnh,tương quan lực lượng của thế giới có sự thay đổi lớn, bản đồ quyền lực có sựchuyển dịch Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ, trong khi Mỹ tiếp tục suyyếu tương đối Bên cạnh đó, sự trỗi dậy của một số cường quốc trong nhómBRICS đang gây sức ép phải xây dựng luật chơi mới trong quan hệ quốc tếngày càng tăng

Đứng trước những vấn đề nêu trên, các nước trên thế giới thời kỳ sauChiến tranh lạnh đều tập trung ưu tiên nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế -

xã hội ở trong nước, đồng thời đấu tranh để tạo lập môi trường quốc tế và khuvực hòa bình, ổn định, giành lấy những điều kiện thuận lợi nhất cho sự pháttriển của đất nước mình Do đó, hòa bình, ổn định, hợp tác để phát triển trởthành xu thế lớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc của các quốc gia trên the giớitrong giai đoạn hiện nay của thời đại

Trang 8

Thứ hai, sự phát triển của khoa học - công nghệ, nhất là cuộc Cách mạngcông nghiệp 4.0 đang tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống xã hội.

Sự phát triển khoa học - công nghệ đã và đang tác động sâu rộng đến mọilĩnh vực của đời sống xã hội và quan hệ quốc tế Ngày nay, khoa học - côngnghệ đã trở thành lực lượng sản xuất nòng cốt và trực tiếp của xã hội; trí tuệ

và kỹ năng có vai trò mấu chốt trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhânlực và phát triển khoa học - công nghệ góp phần làm thay đổi vị thế của mỗimột quốc gia trong quan hệ quốc tế

Tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 càng làm cho sựtùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong nền sản xuất được quốc tế hóa,khiến cho xu hướng đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của các nước trở thành đòihỏi khách quan

Một đặc điểm khác của thể giới trong kỷ nguyên Cách mạng công nghiệp4.0 là toàn cầu hóa với nền kinh tế số Trong nền kinh tế số, cạnh tranh quốc

tế sẽ tập trung trong không gian số, trên lĩnh vực kinh tế, khoa học - côngnghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao Trong thế giới của kinh tế số, hợptác và hội nhập quốc tế sẽ vừa có động lực mới bởi sự gắn kết ngày càngchặt chẽ giữa các quốc gia, khu vực qua không gian số và mạng Internettoàn cầu, nhưng cạnh tranh, cọ xát và xung đột lợi ích giữa các quốc gia vàtrên phạm vi toàn cầu cũng sẽ ngày càng mở rộng và trở nên sâu sắc, khốcliệt hơn Cuộc cạnh tranh này sẽ có tác động quan trọng tới việc hình thànhnhững hình thức hợp tác, những tuyến lợi ích, những tập hợp lực lượng mớitrên thế giới, có ý nghĩa quyết định đối với việc đẩy nhanh quá trình địnhhình những đường nét cơ bản của trật tự kinh tế khu vực, quốc tế mới, nhất

là ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Thứ ba, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, nhất

là ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Trang 9

Một đặc điểm nổi bật của thế giới trong giai đoạn hiện nay là các nước lớn

và quan hệ giữa các nước lớn trở thành nhân tố có vai trò quan trọng đến sựphát triển thế giới Đặc biệt, ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, cạnh tranhchiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc đã chuyển sang giai đoạn gay gắt hơn,quyết liệt hơn Nếu như trên bình diện thế giới, cục diện thế giới cơ bản vẫncục diện “nhất siêu, đa cường” thì ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương đangđịnh hình ngày càng rõ nét cục diện “lưỡng siêu, đa cường”

Thứ tư, nhiều vấn đề mang tính toàn cầu nổi lên, tác động lớn đến đờisống quan hệ quốc tế Nhân loại ngày nay đang đối phó với nhiều vấn đềmang tính toàn cầu cấp bách đòi hỏi phải có sự hợp tác đa phương để giảiquyết

Thứ năm, tình hình khu vực châu Á Thái Bình Dương:

Từ sau Chiến tranh lạnh đến nay, châu Á - Thái Bình Dương trở thànhkhu vực phát triển năng động, góp phần vào sự phát triển chung của thế giới.Cùng với vị thế quổc tế ngày càng tăng, châu Á - Thái Bình Dương cũng lànơi diễn ra sự tranh giành ảnh hưởng một cách quyết liệt giữa các nước lớn

2 Quá trình hình thành, phát triển đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới

2.1 Giai đoạn từ Đại hội VI của Đảng (1986) đến 1995

Đây là giai đoạn hình thành đường lối đối ngoại đổi mới, đồng thời pháthế bị bao vây cấm vận về kinh tế, bị cô lập về chính trị, thể hiện qua cácvăn kiện sau:

- Đại hội VI của Đảng khởi xưởng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước,đồng thời cũng mở đầu quá trinh hình thành chính sách đối ngoại thời kỳ đổimới Đại hội xác định nhiệm vụ hàng đầu là tranh thủ điều kiện quổc tế thuậnlợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quổc

- Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị khóa VI (1988) là bước ngoặt, có tínhđột phá về đổi mới tư duy đối ngoại, đánh dấu sự hình thành bước đầu chính

Trang 10

sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa Với nhận thức mới đúng đắn,toàn diện hơn về vấn đề an ninh, bao gồm cả yếu tố bên ngoài và yếu tố bêntrong, Đảng ta xác định nhiệm vụ đối ngoại chuyển từ chỗ chú trọng nhân tốchính trị - quân sự sang ưu tiên cho nhân tố kinh tế, ưu tiên giữ vững hòabình, độc lập dân tộc, có cách tiếp cận toàn diện hơn về tình hình thế giới vàkhu vực.

- Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (1989) là sự phát triển tiếp theo của đổimới tư duy đối ngoại Hội nghị đã nhận thức nhiều vấn đề đối ngoại càn phảigiải quyết, trong đó một lần nữa tái khẳng định đối ngoại phải chuyển từchính trị-an ninh là chủ yếu sang chính trị - kinh tế là chủ yếu; thúc đẩy quátrình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc; xác định lộ trình cải thiệnquan hệ với các nước ASEAN; xác định lộ trình rút quân khỏi Campuchia;tiếp cận lộ trinh bình thường hóa quan hệ với Mỹ

- Đại hội VII của Đảng (1991) là bước phát triển mới trong việc hìnhthành chính sách đối ngoại đổi mới Đại hội xác định nhiệm vụ đối ngoại làgiữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và họp tác, tạo điều kiện quốc

tế thuận lợi cho công Cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cũng tại Đại hộinày, lần đầu tiên Đảng ta đưa ra phương châm chiến lược trong chính sách đốingoại: “Việt Nam muốn là bạn với các nước trong cộng đồng thế giới, phấnđấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”

- Khẳng định mục tiêu của đối ngoại là giữ vững hòa bình, mờ rộng quan

hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc te thuận lợi cho công cuộc xâydựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, Hội nghị Trung ương 3 khóa VII(1992) đã nêu ra 4 phương châm chỉ đạo, xử lý các vấn đề quốc tế: (1) bảođảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước vớichủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; (2) giữ vững độc lập tự chủ, tự lực

tự cường, đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; (3) nắmvững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế; (4) tham gia hợp tác

Trang 11

với các nước trong khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước,chú trọng quan hệ với các nước lớn, các trung tâm kinh tế lớn Bốn phươngchâm này được xem là cẩm nang trong xử lý các vấn đề đối ngoại cho mọicấp, mọi ngành và mọi địa phương.

2.2 Giai đoạn từ sau Đại hội VIII (1996) đến năm 2010 - giai đoạn mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế

- Đại hội VIII của Đảng tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối đối ngoạiđổi mới Trên cơ sở thế và lực mới của nước ta, Đại hội lần đầu tiên nêunhiệm vụ hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo hướng xây dựng nền kình

tế mở, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thể giới Đây là điểmkhởi đầu quan trọng cho một chủ trương đối ngoại lớn và xuyên suốt củaĐảng là hội nhập kinh tế quốc tế (và đến nay là hội nhập quốc tế) Đại hộiVIII cũng đồng thời tuyên bố “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nướctrong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”

- Đại hội IX của Đảng (2001) bổ sung làm rõ thêm chính sách đối ngoạiđộc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế TạiĐại hội này, lần đầu tiên Đảng ta đưa ra chủ trương chủ động hội nhập kình tểquốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quảhợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo

vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệmôi trường Phát triển quan điểm mở rộng quan hệ đối ngoại của Đại hội VII

và VIII, Đại hội IX nêu rõ: “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy củacác nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và pháttriển”

- Đại hội X của Đảng (2006) tiếp tục bổ sung đường lối đối ngoại thời kỳđổi mới với tuyên bố: “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trongcộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tể và khuvực Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định và

Trang 12

bền vững” Đại hội cũng bổ sung quan điểm hội nhập quốc tế với chủ trươngchủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.

2.3 Giai đoạn từ sau Đại hội XI (2011) đến nay - giai đoạn đưa các quan

hệ đi vào chiều sâu và hội nhập quốc tế toàn diện

- Tại Đại hội XI của Đảng, đường lối đối ngoại tiếp tục bổ sung, hoànthiện Tại Đại hội này, lần đầu tiên Đảng xác định mục tiêu hàng đầu của đốingoại là “vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩagiàu mạnh” Như vậy, lợi ích quốc gia - dân tộc là tiêu chí hàng đầu để xácđịnh hợp tác và đấu tranh, là đối tác và đối tượng Cũng tại Đại hội XI, trên cơ

sở thế và lực mới của Việt Nam trên trường quốc tế, Đảng đưa ra chủ trương

“chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên

có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” Như vậy, Đảng đã chuyển nội dungtrọng tâm của đối ngoại từ hội nhập quốc tế trong lĩnh vực kinh tế sang hộinhập quốc tế một cách toàn diện

- Đại hội XIII của Đảng (2021) tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quánđường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển,

đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại Bảo đảm cao nhất lợi ích quốcgia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợpquốc và luật pháp quốc tế , chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện,sâu rộng; Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có tráchnhiệm trong cộng đồng quốc tế”

3 Nội dung cơ bản trong đường lối đối ngoại của Đảng và nhà nước Việt Nam hiện nay

3.1 Mục tiêu

Bảo đảm cao nhẩt lợi ích quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơbản các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quổc và luật pháp quốc

tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi; góp phần giữ vững môi trường hòa bình,

ổn định; phẩn đấu đến giữa thể kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển,theo định hướng xã hội chủ nghĩa

3.2 Nguyên tắc

Ngày đăng: 29/11/2022, 15:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình “Quan hệ quốc tế”dùng cho hệ đào tạo cao cấp lý luận chính trị, Nxb.Lý luận chính trị, H.2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình “Quan hệ quốc tế” dùng cho hệ đào tạo cao cấp lý luận chính trị
Tác giả: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb.Lý luận chính trị
Năm: 2021
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, t.I, tr.117, 161-162 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 2021
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, t.I, tr.236 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 2011
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2006, tr.112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 2006
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2001, tr.119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 2001
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IIX, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.1996, tr.120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IIX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 1996
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.1991, tr.147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 1991
8. Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, 2011, Tập 5, tr.290 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia-Sự thật
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w