1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thu hoạch cao cấp lý luận môn TTHCM tư tưởng hồ chí minh về kinh tế đối ngoại

34 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Kinh Tế Đối Ngoại
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Thể loại bài thu hoạch
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 204,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, những quan sát và phân tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh về các vấn đề quốc tế và thời đại, cách ứng xử của Người trên trường quốc tế đã hình thành nên hệ thống lý luận, quan điểm, nguyên lý thực tế, sâu sắc cũng như những hành động đối ngoại chuẩn mực, hiệu quả, định hướng cho việc hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại là hệ thống quan điểm về các vấn đề quốc tế, chiến lược, sách lược cách mạng Việt Nam trong quan hệ với thế giới. Các tư tưởng, nguyên tắc và phương châm chỉ đạo đó được thể hiện trong các giai đoạn cách mạng và là nền tảng cho mọi thắng lợi của ngoại giao Việt Nam suốt 70 năm qua với nhiều bài học kinh nghiệm. Dó đó, em chọn đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế đối ngoại” làm bài thu hoạch của mình nhằm góp phần tìm hiểu sâu sắc, toàn diện hơn về tư tưởng kinh tế đối ngoại của Người.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, những quan sát

và phân tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh về các vấn đề quốc tế và thời đại,cách ứng xử của Người trên trường quốc tế đã hình thành nên hệ thống lyluận, quan điểm, nguyên ly thực tế, sâu sắc cũng như những hành động đốingoại chuẩn mực, hiệu quả, định hướng cho việc hoạch định chính sách đốingoại của Việt Nam

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại là hệ thống quan điểm về các vấn đềquốc tế, chiến lược, sách lược cách mạng Việt Nam trong quan hệ với thếgiới Các tư tưởng, nguyên tắc và phương châm chỉ đạo đó được thể hiệntrong các giai đoạn cách mạng và là nền tảng cho mọi thắng lợi của ngoạigiao Việt Nam suốt 70 năm qua với nhiều bài học kinh nghiệm Dó đó, em

chọn đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế đối ngoại” làm bài thu

hoạch của mình nhằm góp phần tìm hiểu sâu sắc, toàn diện hơn về tư tưởngkinh tế đối ngoại của Người

Trang 2

NỘI DUNG

1 Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế đối ngoại

1.1 Tư tưởng kinh tế đối ngoại Hồ Chí Minh là sự kế thừa và phát triển truyền thống ngoại giao của dân tộc

Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đãphải nhiều lần đứng lên đấu tranh để bảo vệ nền độc lập của mình bằng mọihình thức, trong đó có đấu tranh ngoại giao Vì vậy, lịch sử ngoại giao củanước ta đã ghi lại biết bao kỳ tích, huyền thoại, thể hiện sáng ngời y chí độclập, sách lược linh hoạt, tài ba ứng đối của cha ông ta

Ngay từ thời xa xưa, nước Đại Việt là một nước láng giềng củaTrung Quốc nhưng phải luôn luôn đương đầu với chính sách bành trướng,xâm lược của phong kiến Trung Hoa Vì vậy hoạt động ngoại giao của ĐạiViệt trong lịch sử chủ yếu nhằm đối phó với đế chế Trung Hoa, khi còn bị

họ đô hộ cũng như khi ta đã giành lại độc lập, khi dùng quân sự, lúc chínhtrị - ngoại giao, cương nhu khác nhau, tùy tương quan lực lượng mỗi thời

kỳ Trước hết là truyền thống “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chínhân thay cường bạo” Để bảo vệ độc lập dân tộc và từng tất đất của nonsông gấm vóc, cha ông ta đã kiên quyết chiến đấu hy sinh, không chút nhânnhượng; nhưng khi đất nước đã được giải phóng, non sông đã quy về mộtmối, kẻ thù đã chịu đầu hàng thì cha ông ta lập tức chuyển ngay sang chínhsách ngoại giao hòa hiếu, tạo điều kiện cho họ rút về nước, “đi thủy chothuyền, đi bộ cho ngựa”, nhằm nối lại mối giao hảo giữa hai nước để tạo racuộc sống yên bình cho nhân dân

Như vậy, qua hàng nghìn năm đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, ông cha ta

đã để lại cho chúng ta những bài học vô giá về ngoại giao:

Một là, kiên quyết giữ vững độc lập trong mọi tình huống, đặt lợi ích

dân tộc lên trên hết

Trang 3

Hai là, giữ vững nguyên tắc, nhưng có sách lược thích hợp, khi

cương khi nhu Với Trung Quốc, ông cha ta ứng xử theo phương châm:trong xưng đế, ngoài xưng vương, nghĩa là giữ vững chủ quyền độc lập,nhưng nhân nhượng, hòa hiếu những vấn đề không phải nguyên tắc

Ba là, kết hợp quân sự và ngoại giao, chiến đấu trên chiến trường và

trên bàn hội nghị, vừa đánh vừa làm, lúc dùng ngoại giao phục vụ chiếntrường, lúc dùng thắng lợi trên chiến trường phục vụ ngoại giao

Bốn là, biết mình, biết người, nắm bắt xu thế phát triển để xác định

mục tiêu, chính sách

Đó là những kinh nghiệm quy báu mà Hồ Chí Minh đã kế thừa vàsau này nâng lên một tầm cao mới, là hành trang vô giá để ngoại giao ViệtNam nói chung và kinh tế đối ngoại Việt Nam nói riêng ngày nay bước lên

vũ đài quốc tế

1.2 Tư tưởng về kinh tế đối ngoại Hồ Chí Minh là sự kế thừa truyền thống đối ngoại dân tộc và tinh hoa cổ kim đông tây, được nâng lên một tầm cao mới dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin; nó thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa yêu nước với tinh thần quốc tế trong sáng, chủ nghĩa nhân đạo với tinh thần cách mạng tiến công.

Có thể khẳng định rằng, tư tưởng kinh tế đối ngoại của Hồ Chí Minhđược hình thành và phát triển qua nhiều năm tháng ngay từ khi Người bôn

ba qua nhiều nước, tìm đường cứu nước Người đã hấp thu tinh hoa văn hóacủa nhân loại, Đông và Tây; đã tiếp thu những thành tựu dân chủ và tiến bộcủa các cuộc cách mạng tư sản tiêu biểu ở Châu Âu, Châu Mỹ, đặc biệt làtinh thần đấu tranh cho độc lập, tự do của cách mạng Mỹ; ly tưởng tự do,bình đẳng, bác ái của cách mạng tư sản Pháp Trên cơ sở đó, Người đã suyngẫm nhiều phương cách để giải phóng đất nước, giành độc lập cho dân tộc

và mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Quá trình trải nghiệm ấy cùngvới tầm nhìn xa trông rộng của mình đã giúp cho Hồ Chí Minh tìm được

Trang 4

con đường cứu nước đúng đắn giành lại độc lập, tự do cho tổ quốc, hạnhphúc cho nhân dân Và một trong những con đường đó chính là có đượcđường lối ngoại giao đúng đắn, tư tưởng kinh tế đối ngoại tài ba

2 Tư tưởng sáng tạo của Hồ Chí Minh về kinh tế đối ngoại

2.1 Hồ Chí Minh sớm có tầm nhìn chiến lược về kinh tế mở.

Trước hết, chúng ta cần phải khẳng định rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minhkhông phải là người đầu tiên đưa ra tư tưởng về ngoại giao nói chung vàkinh tế đối ngoại nói riêng, nhưng Người lại là một nhà ngoại giao kiệt xuất,

là một trong số ít những vị lãnh tụ cách mạng đã đi, quan sát, nghiên cứu vàtìm hiểu ở nhiều nước trên thế giới Vì vây, tư duy về chính sách mở cửa hộinhập kinh tế quốc tế đã sớm hình thành trong tư tưởng của Người Ngay từlúc ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh nhận thức rõ y nghĩa của việc

mở rộng quan hệ quốc tế đối với mỗi quốc gia và sự phát triển chung củanhân loại Theo Người, sức mạnh của mỗi quốc gia, dân tộc không chỉ phụthuộc vào con người, tài nguyên, vị trí, truyền thống của nước ấy, mà mộtphần quan trọng tùy thuộc vào các mối liên kết quốc tế Vì vậy, cách đâyhơn 80 năm, vào năm 1919, ngay khi còn chưa trở thành người cộng sản,đang bôn ba tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã có một nhận xét có thểnói là vượt qua tư duy của mọi người trong thời đại mình, đặt nền móng choquan điểm mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế của Người về sau: “Xét vềnguyên tắc, tiến bộ chung phụ thuộc vào việc phát triển chủ nghĩa quốc tế;

và văn minh chỉ có lợi khi các quan hệ quốc tế được mở rộng và tăngcường”(1)

Với quan điểm đúng đắn nêu trên, từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã xác định Việt nam là một bộ phận của thế giới, những hoạt động của Việtnam có muôn ngàn sợi dây liên hệ, gắn bó chặt chẽ với thế giới bên ngoài.Chính vì vậy, trong khi khẳng định công cuộc giải phóng ở Việt Nam phải là

sự nghiệp của người Việt Nam, phải đem sức ta mà tự giải phóng cho ta,

Trang 5

Người vẫn luôn nhấn mạnh cách mạng Việt Nam không thể thắng lợi hoàntoàn nếu thiếu sự ủng hộ giúp đỡ của cộng đồng quốc tế Từ thực tiễn lãnhđạo, chỉ đạo cách mạng, Hồ Chí Minh chĩ rõ mọi thắng lợi của cách mạngViệt Nam đều do Đảng Cộng Sản có đường lối đúng đắn có thể đoàn kết cảdân tộc thành một khối trong mặt trận thống nhất và khiến cho sự nghiệpcách mạng của Việt Nam luôn được nhân dân thế giới đồng tình, ủng hộ.Người khẳng định: “Đó là bài học lớn mà mỗi cán bộ và đảng viên ta cầnghi sâu vào lòng và phát huy thêm mãi”(2) Quan điểm đó được quán triệt,vận dụng suốt cả trong quá trình cách mạng Việt Nam, không chỉ trong đấutranh giành chính quyền, trong cách mạng giải phóng dân tộc mà cả trongxây dựng đất nước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa Cụ thể là:

Ngay sau khi giành được chính quyền, khi nhiệm vụ đất nước đượcđặt ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh nghĩ ngay đến việc thiết lập, mở rộng nhữngquan hệ quốc tế về kinh tế, văn hóa nhằm đưa đất nước Việt Nam từ nghèonàn, lạc hậu vươn lên sánh vai cùng các cường quốc năm châu Việc đầutiên mà Người nghĩ đến trong việc mở rộng quan hệ quốc tế là cử cán bộsang Mỹ học tập khoa học – kỹ thuật tiên tiến Mỹ Trong Thư gửi BộTrưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Giêm Biếcnơ ngày 1/11/1945, Người nói rõ:

“Nhân danh Hội văn hóa Việt Nam, tôi xin được bày tỏ nguyện vọng củaHội, được gửi một phái đoàn khoảng năm mươi thanh niên Việt Nam sangMỹ một mặt thiết lập những mối quan hệ văn hóa thân thiết với thanh niên

Mỹ, và mặt khác để xúc tiến việc tiếp tục nghiên cứu về kỹ thuật, nôngnghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác”(3) Bức thư đó cho thấy tầmnhìn xa trông rộng của Người được thể hiện trên hai lĩnh vực: một mặt,Người đã nói rõ được rằng Việt Nam mong muốn có quan hệ hữu nghị vớicác nước không phân biệt chế độ chính trị; mặt khác, Người đã chỉ ra sự cầnthiết phải có liên kết kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật để thúc đẩy nhanh

sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong quá trình xây dựng đất nước Tuy

Trang 6

nhiên, trong điều kiện lúc bấy giờ phía Mỹ đã không đáp ứng yêu cầu chínhđáng của Hồ Chí Minh Có thể coi đây là một cơ hội đã bị Mỹ bỏ qua trongquan hệ giữa hai nước.

Tuy nhiên, tư tưởng chiến lược kinh tế mở được Người đề cập tậptrung, đầy đủ và rõ ràng nhất là trong thư gửi tới Liên Hiệp Quốc và bày tỏchính sách hợp tác kinh tế quốc tế của mình Bức thư có đoạn: “Đối với cácnước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợptác trong mọi lĩnh vực:

a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà

tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình

b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường ságiao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế

c) Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tếquốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc

d) Nước Việt Nam sẵn sàng ky kết với các lực lượng hải quân, lụcquân trong khuôn khổ của Liên Hợp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt

và những hiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân vàkhông quân

… Chính sách mở cửa và hợp tác nói trên, Chính phủ Việt Nam cũngdành cho nước Pháp trong Hiệp đinh ngày 6 tháng 3 năm 1946 Nhưngnhững người đại diện Pháp ở Đông Dương đã tìm các phá hoại…

Trong cuộc đấu tranh vì những quyền thiêng liêng của mình, nhândân Việt Nam có một niềm tin sâu sắc rằng họ cũng chiến đấu cho một sựnghiệp chung: đó là sự khai thác tốt đẹp những nguồn lợi kinh tế và một tổchức có hiệu quả cho an ninh Viễn Đông”(4) Tuy nhiên, lúc bấy giờ, Liênhợp quốc dưới sự thao túng của Mỹ, nên quan điểm hợp tác kinh tế quốc tếtiến bộ, khá toàn diện của Người nêu lên đã không được Liên hợp quốcchấp nhận

Trang 7

Như vậy, dù trong bối cảnh chiến tranh thế giới thứ hai vừa kết thúc,chiến tranh lạnh diễn ra, trong khi đó, đất nước mới giành được độc lập,giữa bộn bề công việc, kẻ thù vẫn đang lăm le dòm ngó nhưng Người vẫnđặt việc xây dựng một nền kinh tế mở lên hàng đầu Đó là điều mà vào thời

kỳ đó không ai giám nghĩ tới, nó thể hiện tư duy của một vị lãnh tụ thiên tài,đạt tầm hiện đại, vượt xa những tư tưởng lúc bấy giờ và chính điều này mộtlần nữa khẳng định được sự sáng tạo tài tình trong quan điểm về kinh tế đốingoại của Người

Đến năm 1956, sau khi Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bướcvào thời kỳ quá độ dần lên chủ nghĩa xã hội, hợp tác kinh tế quốc tế ngàycàng trở nên cần thiết và có điều kiện mở rộng hơn Hồ Chí Minh khẳngđịnh: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội ở miền Bắc cần mở rộng công nghiệp, nông nghiệp, thươngnghiệp để nâng cao sức sản xuất và cải thiện đời sống của nhân dân Chúngtôi cần nhiều dụng cụ, máy móc và hàng hóa của tất cả các nước, trong đótất nhiên kể cả nước Nhật Bản Và chúng tôi có thể cung cấp cho nhữngnước ấy lương thực, cây công nghiệp và khoáng sản…”(5) Và cuối nhữngnăm 60, trong khi đánh giá về nguyên nhân những thắng lợi quan trọng củacuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Người viết: “Nước ta ở về xứ nóng,khí hậu tốt, rừng vàng biển bạc, đất phì nhiêu Nhân dân dũng cảm và cầnkiệm Các nước anh em giúp đỡ nhiều” (6)

Những quan điểm đó đã giúp cho Việt Nam tranh thủ được sự ủng hộrất lớn của các nước và nhân dân tiến bộ trên thế giới không chỉ về mặtchính trị, tinh thần, mà còn về kinh tế trong hai cuộc kháng chiến trường kỳcủa dân tộc ta chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Như vậy, Hồ Chí Minhluôn mong muốn Việt Nam được đứng trong lòng bầu bạn, nhờ những mốiquan hệ giúp đỡ bên ngoài mà không ngừng cải thiện và nâng cao đời sốngkinh tế, văn hóa của nhân dân Việt Nam

Trang 8

2.2 Hồ Chí Minh có cách nhìn nhận khoa học về đối tác, phân loại và có thái độ ứng xử phù hợp với từng đối tác khác nhau.

Ngay sau ngày đất nước giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã công bố những quan điểm lớn của Chính Phủ về ngoại giao Nguyên tắcchung được nêu lên là kiên trì ngoại giao với tất cả các nước trên cơ sở của

sự bình đẳng, tương trợ Mục tiêu của ngoại giao là làm sao đất nước ít kẻthù hơn, nhiều bạn đồng minh hơn Người đã nhiều lần nhấn nói rõ: nhândân và Chính Phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa làm bạn với tất cảmọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai, và “một khi đã độc lập,Việt Nam sẽ đứng với tất cả các nước bầu bạn”(7) Từ nguyên tắc ngoại giao

đó, chủ trương mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế của Người đã được khẳngđịnh rõ ngay khi Người trả lời nhà báo Mỹ Standley Harrison như sau: “ViệtNam sẽ giao dịch với tất cả các nước nào trên thế giới muốn giao dịch vớiViệt Nam một cách thật thà”(8)

Như vậy, với chủ trương, đường lối ngoại giao, ngoại thương đó củaNgười đã cho ta thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đảng và Nhà nước ta luônchủ trương mở rộng quan hệ với tất cả các đối tác Tuy nhiên, do những tácđộng của lịch sử và các điều kiện khách quan, Người đã có những quanđiểm chỉ đạo, xử ly mối quan hệ kinh tế đối ngoại khác nhau đối với từngđối tác cụ thể, tùy theo mối quan hệ về chính trị, lịch sử và địa ly giữa ViệtNam với các đối tác, để từ đó vạch ra chính sách đối ngoại làm cơ sở choviệc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại Trên cơ sở đó, Người đã chỉ raphương châm quan hệ của nước ta với các nước bạn bè xã hội chủ nghĩa,với các nước trong bán đảo Đông Dương, với các nước Đông Nam Á, vớinước Pháp và các nước trong hệ thống tư bản chủ nghĩa Người nói: “Chúng

ta phải ra sức khôi phục lại kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp, thươngnghiệp, vận tải, để nâng cao dần đời sống của nhân dân

………

Trang 9

Chúng ta đoàn kết chặt chẽ với nhân dân các nước bạn

Chúng ta sẽ dựa theo năm nguyên tắc lớn của bản tuyên bố Trung

-Ấn và Trung - Miến để gây quan hệ hữu hảo với hai chính phủ nhà vuaMiên và Lào

Chúng ta phát triển quan hệ hữu hảo với các nước Đông - Nam Á.Đối với Pháp, chúng ta sẽ cố gắng lập lại mối quan hệ kinh tế và vănhóa trên nguyên tắc bình đẳng và hai bên đều có lợi Chúng ta đoàn kết vớinhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới”(9)

Qua đoạn trích đó, tác giả nhận thấy rằng, một trong những điểmsáng tạo tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quan hệ kinh tế đốingoại chính là Người đã có sự phân chia các đối tác dựa trên đặc điểm kinh

tế, chính trị khác nhau trong quan hệ với Việt Nam và đưa ra chính sáchnhất quán, trước sau như một thích ứng với từng đối tác Cụ thể là:

Trước tiên, đối tác được Người đặc biệt coi trọng, mở rộng hợp tác

toàn diện trước hết là với các nước xã hội chủ nghĩa anh em Người chorằng các nước xã hội chủ nghĩa là chỗ dựa vững chắc của nước Việt Nam,

do đó, cần phải “Đoàn kết chặt chẽ”, bởi vì, theo Người, “nhờ sự giúp đởcủa các nước anh em, chúng tôi ngày càng có nhiều khả năng và có thể tintưởng vào một tương lai đầy thắng lợi”(10) Trong bối cảnh thế giới chia làmhai phe đối lập, các nước tư bản chủ nghĩa do Mỹ cầm đầu luôn thi hànhchính sách thù địch với các nước xã hội chủ nghĩa; trong lúc đó chủ nghĩa

đế quốc luôn tìm cách phá hoại cách mạng Việt Nam thì quan điểm của HồChí Minh và của Đảng ta là dứt khoát phải dựa vào phe xã hội chủ nghĩa.Ngay cả khi các nước xã hội chủ nghĩa gặp hoàn cảnh phức tạp như Liên Xô

và Trung Quốc có mối bất hòa, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta vẫnkhéo léo thực hiện chính sách đoàn kết để vừa góp phần vào việc hàn gắn sựrạn nứt giữa các nước xã hội chủ nghĩa vừa thu hút được sự giúp đở tích cựccủa của cả hệ thống để tâp trung sức cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước

Trang 10

Quan điểm đó của Người được thể hiện rõ trong các chuyến thăm hữu nghịchính thức, các văn kiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam Khối lượng vậtchất to lớn, các phương tiện, máy móc, việc đào tạo các chuyên gia, thợ kỹthuật mà các nước xã hội chủ nghĩa đã dành cho Việt Nam trong những nămdân tộc ta tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc vàkháng chiến chống Mỹ cứu nước đã thể hiện hiệu quả, tính khoa học đúngđắn của đường lối hợp tác toàn diện, của việc mở rộng quan hệ kinh tế củaNgười và của Đảng ta đối với các nước xã hội chủ nghĩa anh em.

Đối tác quan trọng thứ hai là với các nước láng giềng Lào và

Campuchia Đối với những nước này Việt Nam “quan hệ hữu hảo trên cơ sởnăm nguyên tắc chung sống hòa bình”(11)

Đối tác thứ ba là với các nước Đông Nam Á khác, cũng là những

nước láng giềng gần gũi sau Lào và Campuchia, có nhiều hoàn cảnh giốngViệt Nam, nhưng cũng là những nước có chế độ chính trị khác Việt Nam thìcần phải “phát triển quan hệ hữu hảo”(12)

Thực tế lịch sử cho thấy tại các diễn đàn quốc tế có liên quan, Chủtịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị và sự hợp tác vớinhân dân các nước láng giềng trên bán đảo Đông Dương, với các nướcĐông Nam Á và Nam Á Những mối quan hệ kinh tế, ngoại giao mà Nhànước ta thực hiện trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dânPháp và sau này là kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã thể hiện rõ chủtrương này Đặc biệt, trong mối quan hệ này, Người luôn đề cao và nhiềulần nói tới năm nguyên tắc chung sống hòa bình Người đặc biệt nhấn mạnh

những nguyên tắc không xâm phạm lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi…

Đối tác thứ tư mà Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm tới là với những

nước đã có những mối quan hệ trong lịch sử, những đối tác có nhiều thuậnlợi trong việc hiểu biêt tâm ly người Việt Nam, hiểu biết những điều kiện

tự nhiên và xã hội của đất nước và con người Việt Nam mà điển hình là

Trang 11

với nước Pháp Mặc dù, Pháp cũng là nước tư bản chủ nghĩa phát triển,nhưng có quan hệ lịch sử đặc biệt đối với Việt Nam, thì Chủ tịch Hồ ChíMinh cho rằng phải “ cố gắng lập lại mối quan hệ kinh tế và văn hóa trênnguyên tắc bình đẳng cùng có lợi”(13) Mỗi một chúng ta đều biết rằng thựcdân Pháp đã xâm lược Việt Nam hàng trăm năm, lại vừa gây ra cuộc chiếntranh 9 năm khiến nhân dân ta phải chịu nhiều tổn thất nặng nề cả về người

và của Thế nhưng do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, nhân dân Việt Nam vànhân dân Pháp, nền kinh tế Việt Nam và nền kinh tế Pháp, nền văn hóaViệt Nam và nền văn hóa Pháp có mối quan hệ lâu đời, nếu phát huy đượcquan hệ này theo hướng tích cực thì sẽ có lợi nhiều cho nhân dân hai nước

Vì vậy, trong chính sách đối ngoại, đặc biệt trong chính sách kinh tế đốingoại với nước Pháp, Người luôn dành sự quan tâm đặc biệt Người nói:

“Đối với nước Pháp, chúng tôi tiếp tục chủ trương rằng trong những điềukiện bình đẳng tuyệt đối và cùng có lợi, trước hết là tin cậy lẫn nhau vàhợp tác thẳng thắn, chúng tôi có thể thiết lập những quan hệ đặc biệt vềkinh tế và văn hóa với nước Pháp”(14); “Việt Nam sẵn sàng cộng tác thânthiện với nhân dân Pháp Những người Pháp tư bản hay công nhân, thươnggia hay trí thức, nếu học muốn thật thà cộng tác với Việt Nam thì sẽ đượcnhân dân Việt Nam hoan nghênh họ như an hem bầu bạn”(15) Đặc biệt,trong nhiều lần tiếp xúc với chính giới và giới công thương Pháp trongchuyến thăm nước Pháp (tháng 10/1946), Người nói rõ: Nếu cần chuyêngia kỹ thuật nước ngoài thì Chính phủ Việt Nam sẽ mời người Pháp đầutiên Khoản 4 trong Tạm ước Việt – Pháp 14/9/1946 di Người ky với bộtrưởng thuộc địa M.Mutê ghi rõ: “Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

sẽ dùng đến người Pháp trước nhất mỗi khi cần người cố vấn hoặc chuyênmôn Chỉ khi nào nước Pháp không cung cấp được nhân viên mà Chínhphủ Việt Nam cần đến thì đặc quyền trên đây của Pháp mới thôi thihành”(16) Gần bảy năm sau ngày thực dân Pháp phải rút khỏi Đông Dương,

Trang 12

ngày 2/9/1961, được hỏi về vấn đề quan hệ kinh tế giữa Việt Nam vớinước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn nhấn mạnh: “Mặc dù có cuộc chiếntranh đó và những vết thương do nó gây ra, chúng tôi vẫn luôn luôn lànhững người bạn của nhân dân Pháp và chúng tôi không bao giờ lầm lẫnnhân dân Pháp với bọn thực dân Chúng tôi sẵn sàng và chúng tôi đã nhiềulần tuyên bố muốn có quan hệ về ngoại giao, kinh tế và văn hóa với ChínhPhủ Pháp, chúng tôi chỉ nêu ra những điều kiện của một nước có chủ quyền

và độc lập, tức là những quan hệ đó phải tiến hành trên cơ sở bình đẳng và

có đi có lại”(17) Qua đó ta có thể nhận thấy rằng Hồ Chí Minh đã sớm nhậnthức rõ tính chất đặc biệt trong quan hệ giữa Việt Nam và Pháp, thấy rõ vaitrò của nước Pháp như một cánh cửa giúp Việt Nam bước vào Châu Âu từrất sớm Tuy nhiên, do đầu óc hẹp hòi, những người cầm quyền nước Phápkhi đó đã không chấp nhận quan điểm của Người, dẫn đến cuộc chiến tranhgiữa hai dân tộc, gây ra nhiều tổn thất nặng nề cho cả hai bên

Đối tác thứ năm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm tới trong việc

mở rộng hợp tác là với các nước tư bản chủ nghĩa khác trên thế giới có tiềmlực kinh tế và khoa học - kỹ thuật, có vị trí và vai trò quan trọng trong cácmối quan hệ quốc tế Người đã nhiêu lần nhấn mạnh: “trong quan hệ với cácnước khác, chính sách của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là rõ ràng vàtrong sáng: đó là một chính sách hòa bình và quan hệ tốt Chính sách đó dựatrên năm nguyên tắc vĩ đại nêu trong các bản tuyên bố chung Trung - Ấn vàTrung - Miến, tức là: tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của nhau,không xâm phạm, không can thiệp vào các công việc nội bộ, bình đẳng vàhai bên cùng có lợi, chung sống hòa bình”(18) Trên cơ sở đó, chúng ta phảikhẳng định rằng, không phải đương nhiên mà từ cuối những năm 20 của thế

kỷ XIX, sau đó là những năm trước Cách mạng Tháng Tám và đặc biệt làtrong những ngày tháng đất nước ta mới giành được độc lập, Chủ tịch HồChí Minh đã giao thiệp khá rộng rãi với chính giới các nước lớn như Mỹ,

Trang 13

Trung Quốc, Anh, và đặc biệt là với chính giới Mỹ, kể cả tổng thống,ngoại trưởng,… Từ năm 1945, Người đã tính đến việc cử thanh niên ViệtNam sang Mỹ học tập Đồng thời, ngay trong những ngày tháng quyết liệtcủa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người vẫn nói rõ, người Mỹđến Việt Nam để bắn giết, để bị giết chết là điều sỉ nhục, nhưng người Mỹđến giúp đỡ Việt Nam nhiệt liệt hoan nghênh Người bày tỏ: “Sẽ rất sungsướng được đón tiếp Tổng Thống Mỹ đến Việt Nam với y nguyện ấy”(19)

Trong hoàn cảnh thế giới lúc bấy giờ “chiến tranh lạnh” giữa hai hệthống xã hội còn đang căng thẳng, đường lối ngoại giao “có trọng tâm”, “cótrọng điểm” mà Hồ Chí Minh đề xuất và thực hiện là hoàn toàn hợp ly, vượt

xa thời đại Như vậy, một trong những điều khiến Hồ Chí Minh trở thànhnhân vật vĩ đại vì Người sớm nhìn thấy lợi ích và sớm thực hiện việc mởrộng giao lưu quốc tế Những dẫn chứng nêu trên cho thấy, dù trong hoàncảnh nào, Hồ Chí Minh vẫn kiên trì quan điểm mở rộng quan hệ với cácnước xã hội chủ nghĩa, với các nước láng giềng và các nước có chế độ chínhtrị khác nhau Mặc dù, lịch sử đã qua đi, nhưng quan điểm của Người vềviệc xác định đối tác mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế là những quanđiểm có tính sáng tạo, đi trước thời đại và có y nghĩa thực tiễn rất to lớntrong công cuộc xây dựng nền kinh tế mở và hội nhập quốc tế hiện nay

2.3 Mở rộng kinh tế đối ngoại là để thu hút ngoại lực nhằm phát huy nội lực.

Thu hút ngoại lực để phát huy nội lực là một trong những quan điểmchủ đạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế đối ngoại Đây cũng là điểmkhác nhau căn bản của tư tưởng ngoại giao của Hồ Chí Minh với tư tưởngngoại giao của các bậc tiền bối như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh Nếunhư đường lối cứu nước của cụ Phan Bội Châu là con đường bạo động, dựahoàn toàn vào Nhật để giải phóng đất nước; thì cụ Phan Châu Trinh lại theođường lối cải lương “xin giặc rủ lòng thương”, phản đối bạo động, muốn

Trang 14

dựa vào Pháp để chống phong kiến Chính vì vậy mà các phong trào do hai

cụ tổ chức đều bị thất bại Trước thất bại của mình, cụ Phan Bội Châu cũngkhông hiểu tại sao liền hỏi y kiến của Nguyễn Ái Quốc, Người đã nói với cụPhan Bội Châu: Cụ đi theo con đường bạo động nhưng lại chủ trương dựavào Nhật để đuổi Pháp chẳng khác nào “đuổi hổ cửa trước, rước beo cửasau” Qua đó ta có thể khẳng định rằng tư tưởng thu hút ngoại lực để giảiphóng đất nước đã có từ trước nhưng điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh đó làthu hút ngoại lực để phát huy nội lực chứ không phải dựa hoàn toàn vàonước ngoài để giải phóng đất nước như các vị tiền bối đã làm

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sự tồn tại, phát triển của nước nhà tùythuộc vào tài năng, trí tuệ, truyền thống, vị trí Việt Nam (ngày nay chúng tagọi là nội lực) và sự hợp tác giúp đỡ quốc tế Người thường xuyên chỉ ramối liên hệ chặt chẽ giữa hai yếu tố đó và xác định đúng đắn vai trò, vị trícủa mỗi nhân tố trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Trong đó, theoNgười, nội lực và hợp tác giúp đỡ quốc tế đều là những nhân tố quyết địnhtạo nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam Tuy nhiên, điều này không cónghĩa là hai nhân tố ấy giữ vị trí như nhau, bằng nhau mà trong đó, Hồ ChíMinh coi nội lực giữ vai trò quyết định, ngoại lực giữ vai trò quan trọng, nóchỉ phát huy sức mạnh thông qua nội lực Từ đó, Người chỉ rõ: Dân tộc taphải mạnh, đất nước ta phải mạnh, công việc ngoại giao phải bắt đầu từ đó

Đo đó, chúng ta lo tìm bạn bè nhưng trước hết phải lo tổ chức lực lượng củamình Như vậy, khi nói đến vấn đề thu hút ngoại lực để phát huy nội lực, tácgiả xin nhấn mạnh trên hai khía cạnh chính sau:

Một là, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, mục tiêu căn bản nhất của

việc mở rộng hợp tác giao lưu kinh tế quốc tế là để nhận sự giúp đỡ củanước bạn bằng cách thu hút mọi nguồn lực nhằm phát triển kinh tế, nângcao đời sống của nhân dân Sinh thời, Hồ Chí Minh rất coi trọng những kếtquả thu được do sự hợp tác kinh tế quốc tế và sự giúp đỡ của các nước anh

Trang 15

em đối với nước ta như cung cấp máy móc, chuyên gia, giúp đở đào tạo cán

bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề Vì vây, mới chỉ hơn một tháng saungày giành được độc lập, trong bài trả lời các nhà báo được đăng trên báoCứu quốc, Người đã nói rõ mục tiêu này; “Có thể rằng: chúng ta hoannghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào xứ ta khai thác nhữngnguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác Có thể rằng: chúng ta sẽ mời nhữngnhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu, đến đây giúp việc chochúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia”(19) Và vào năm 1955, Người tiếptục nhắc nhở: các nước bạn giúp ta để hàn gắn mau chóng những vết thươngchiến tranh; để tăng gia sản xuất về nông nghiệp, công nghiệp và để pháttriển thương nghiệp; để khôi phục và phát triển nền kinh tế, văn hóa; để tadần nâng cao đời sống của nhân dân ta

Hai là, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, việc mở rộng quan hệ kinh

tế quốc tế là nền tảng để có điều kiện phát huy tiềm năng, lợi thế của ViệtNam trên cơ sở “tự lực cánh sinh dựa vào mình là chính” Tức là phải thuhút ngoại lực để phát huy nội lực Vậy tư tưởng này được hiểu như thế nào?

Để trả lời câu hỏi đó, tác giả đưa ra ba luận cứ sau:

Thứ nhất, tư tưởng tự lực cánh sinh dựa vào sức mình là chính, một

tư tưởng chủ đạo của Hồ Chí Minh và người vẫn thường giáo dục nhân dânmình Người khẳng định: “muốn người ta giúp cho thì trước hết phải tự giúplấy mình đã”; “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà ngồi chờ dân tộckhác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”(20) Vì vậy, ngay trong cuộckháng chiến chống thực dân Pháp, khi cách mạng Trung Quốc chưa thànhcông, Việt Nam vẫn nằm trong vòng vây của chủ nghĩa tư bản, Hồ Chí Minhvẫn khẳng định với phóng viên báo Mỹ Harôn Ixắc: “Độc lập của Việt Namluôn luôn nhờ nơi lực lượng của Việt Nam”(21) Đồng thời, trong Báo cáo kếtquả chuyến đi thăm Liên Xô, Trung Quốc, Mông Cổ, Chủ tịch Hồ Chí Minhnói rõ thêm: “Cũng như trong thời kỳ kháng chiến, phương châm của ta

Trang 16

hiện nay là: tự lực cánh sinh là chính, việc các nước bạn giúp ta là phụ”(22).Như vậy, Người chỉ coi việc các nước ban giúp đỡ là tạo điều kiện để nước

ta tự lực cánh sinh

Thứ hai, Người cho rằng vì sự giúp đỡ của bạn dù có vô tư và to lớn

bao nhiêu cũng chỉ có hạn, vẫn phải dựa vào sức mình là chính Người nói:

“sự giúp đỡ của các nước bạn cho ta cũng chỉ có hạn Căn bản là ta phải tựlực cánh sinh, cố gắng sản xuất”(23)

Thứ ba, sau khi đi thăm và ky kết, tiếp nhận sự giúp đỡ của các nước

bạn về, Người đã nhắc nhở các nước bạn hợp tác giúp đỡ ta cũng như thêmvốn cho ta, ta phải khéo dùng cái vốn ấy để bồi bổ lực lượng của ta, phát triểnkhả năng của ta, nhân dân và cán bộ ta tuyệt đối không được ỷ lại, trông chờ

Từ đó, Người căn dặn: “Ta được các nước bạn giúp, tức là có thêm điều kiện

để tự lực cánh sinh”(24) Đồng thời, Người nhắc nhở: sự giúp đỡ của các nướcbạn là vô cùng quy báu và cần thiết; Chính phủ các cấp, các ngành, cán bộ vànhân dân phải biết sử dụng hợp ly, có hiệu quả sự giúp đỡ quy báu ấy Ngườinói: “Cán bộ ta phải ra sức công tác, phải làm việc tốt với các chuyên giabạn, học tập kinh nghiệm tiền tiến của các nước bạn; phải bảo quản và sửdụng tốt những máy móc và vật liệu các nươc bạn giúp ta”(25)

Như vậy, mục tiêu cơ bản nhất của Hồ Chí Minh trong việc mởrộng quan hệ kinh tế với các nước không phải chỉ nhằm nhận sự giúp đỡcủa bạn bè quốc tế để bù đắp sự thiếu hụt ở trong nước mà chính là thôngqua giao lưu, mở rộng quan hệ kinh tế để thu hút mọi nguồn lực nhằm pháttriển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân ta Đó chính là quan điểmthu hút ngoại lực để phát huy nội lực của Người - là điểm khác nhau cănbản giữa Hồ Chí Minh và các bậc tiền bối trước đó, là điểm sáng tạo độcđáo của người trong tư duy về kinh tế đối ngoại Đó là những quan điểmvẫn còn có giá trị thực tiễn rất to lớn trong vấn đề thực hiện quan hệ hợptác kinh tế quốc tế hiện nay

Trang 17

2.4 Hồ Chí Minh chú trọng xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa chính sách đối ngoại với chính sách kinh tế đối ngoại.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mối quan hệ giữa đường lối đối ngoại

và đường lối kinh tế đối ngoại thực chất là mối quan hệ giữa chính trị vàkinh tế Sinh thời, Người rất coi trọng mối quan hệ này và xử trí rất linhhoạt và uyển chuyển Đồng thời khi giải quyết mối quan hệ đó, Người luônchú trọng trên hai vấn đề chính sau:

Trước tiên, Người luôn ưu tiên và chú trọng giải quyết quan hệ đốingoại làm cơ sở cho quan hệ kinh tế đối ngoại Tức là ngoại giao và hợp tácquốc tế được xem là một giải pháp quan trọng và hữu hiệu để giải quyết cácvấn đề kinh tế Vì vậy, Người đặc biệt nhấn mạnh chúng ta phải làm sao có

sự gắn bó giữa công tác đối ngoại với việc xây dựng kinh tế của đất nước,những thắng lợi trong chính sách đối ngoại phải nhằm mở rộng quan hệkinh tế, mang lại sự tăng trưởng bền vững cho đất nước

Trong khi mở rộng chính sách đối ngoại, thông qua đó tăng cườnghợp tác quốc tế song phương và đa phương để tạo nguồn lực phát triển đấtnước, Người còn đặc biệt nhấn mạnh phải chủ động về đường lối đối ngoại,không lệ thuộc hoặc chịu sức ép từ các hợp đồng kinh tế hay viện trợ vậtchất, không giao động, từ bỏ mục tiêu chính trị ban đầu Từ đó, chúng ta cóthể khẳng định rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương tiêu biểu về

sự thủy chung nhất quán, nhưng rất kiên quyết và khôn khéo để giải quyếtcác bất đồng chính trị thông qua đối thoại, đàm phán tách rời sức ép chínhtrị khỏi việc trợ kinh tế

Ngay trong những năm đầu của thập niên 60, đế quốc Mỹ ngày cànggia tăng sức ép quân sự trên chiến trường miền Nam và đe dọa ném bombắn phá miền Bắc, trong khi đó bất đồng Xô - Trung ngày càng sâu sắc Cóthể nói lúc này nhân dân Việt Nam đang đứng trước khó khăn, không tránhkhỏi áp lực tác động từ cả ba phía Mỹ - Xô - Trung

Ngày đăng: 29/11/2022, 14:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
(1) Hồ Chí Minh: toàn tập, NXB, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 1, trang 9 Khác
(2) Sđd, tập 11, trang 372 (3) Sđd, tập 4, trang 80 - 81 (4) Sđd, tập 4, trang 470 (5) Sđd, tập 9, trang 516 Khác
(18) Vũ Oanh – Phạm Quốc Sử: Quan điểm của HCM về hợp tác kinh tế với Mỹ, Tạp chí Thông tin ly luận, số 9, 1993, trang 4 – 7 Khác
(19) Sđd, tập 4, trang 74 (20) Sđd, tập 6, trang 522 (21) Sđd, tập 5, trang 572 Khác
(22) (23) Sđd, tập 8, trang 30, 71 (24) (25) Sđd, tập 8, trang 279 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w